---o0o---
Xá-Lợi-Phất
Niết Bàn Trước Phật
Khi biết đức Phật sắp vào Niết-bàn, tôn
giả Xá-Lợi-Phất đã tận dụng khả năng thần thông trí huệ của
mình giáo hóa vô số người phát tâm Bồ-đề tu học đạo giác ngộ,
rồi chính tôn giả đến trước đại chúng nói lớn rằng: "Thưa chư
đại chúng! Tôi không yên lòng nhìn thấy cảnh đức Như-Lai vào
Niết-bàn". Nói xong, tôn giả Xá-Lợi-Phất bay lên hư không dùng
lửa thần thông tự thiêu đốt mình, làm sáng rực cả bầu trời
mà vào Niết-bàn.
Trước cảnh tượng lạ lùng khiến cho đại
chúng ai nấy đều xúc động bàng hoàng thương tiếc, trầm lặng nhìn
nhau, lắc đầu não ruột thầm than. Để giải tỏa không khí yên lặng
nặng nề bao trùm nỗi hoài nghi trong lòng đại chúng, tôn giả
A-Nan từ chỗ ngồi đứng dậy đến trước pháp tòa đảnh lễ đức Phật
rồi kính cẩn thưa: "Bạch đức Thế-Tôn! Tại sao tôn giả Xá-Lợi-Phất
lại vội vàng dùng lửa thần thông nhập diệt trước đức Thế-Tôn,
việc làm khiến cho đại chúng đều sửng sốt xót xa thương tiếc
như vậy? Cúi mong đức Thế-Tôn rủ lòng thương xót, vì giải tỏa
sự nghi ngờ của đại chúng và chúng sanh đời sau mà giảng nói
cho".
Đức Phật dạy rằng: "Nầy A-Nan! Chẳng những
chỉ ngày nay Xá-Lợi-Phất nhập diệt trước khi Như-Lai vào Niết-bàn
đâu, mà nhiều kiếp về trước ông ấy cũng đã làm như vậy rồi".
A-Nan thưa: "Bạch đức Thế-Tôn! Trong những
kiếp quá khứa tôn giả Xá-Lợi-Phất cũng đã từng làm như thế,
vậy việc ấy ý nghĩa như thế nào? Cúi xin đức Thế-Tôn dủ lòng
từ bi giảng nói những nguyên nhân sâu xa đó để cho Đại-chúng
dứt mối nghi ngờ".
Đức Phật bảo A-Nan rằng: "Nầy A-Nan! Ông
hãy lắng nghe cho kỹ, cách đây hơn một kiếp A-tăng-kỳ, có vị
quốc vương tên là Đại-Quang-Minh tu hạnh bố thí không nghịch ý.
Hằng tháng nhà vua cho voi ngựa xe cộ chở thức ăn áo quần thuốc
men đồ dùng ra bốn cửa thành bình đẳng bố thí cho những người
thiếu thốn. Dân chúng các tiểu quốc đều đến nhận lãnh đồ bố
thí của nhà vua. Đức bố thí của vua Đại-Quang-Minh đã khiến cho
dân chúng bốn phương đều được ấm no, đất nước thái bình thạnh
trị. Tiếng thơm đồn xa, khắp thiên hạ nức lòng ca ngợi ân đức
của nhà vua. Lúc bấy giờ có vị Tiểu-vương nước láng giềng thấy
sự thạnh trị hùng cường của nước Ba-La-nại và vua Đại-Quang-Minh
được khắp nhân gian bốn phương thiên hạ tôn sùng ân đức như cha
mẹ, nên đem lòng ganh ghét oán thù.
Vị Tiểu quốc vương nước láng giềng nầy
biết vua Đại-Quang-Minh tu hạnh bố thí bất nghịch ý, nên đã triệu
tập quần thần hỏi rằng: "Nầy các khanh! Trong các khanh ai là
người có thể vì ta đến kinh đô nước Ba-La-Nại để xin đầu nhà
vua Đại-Quang-Minh đem về đây, ta sẽ trọng thưởng chức đệ nhất
quan đầu triều và ngàn cân vàng". Quần thần đều im lặng, không
ai dám nhận lãnh sứ mạng nguy hiểm ấy cả. Trước sự im lặng đó,
khiến cho Tiểu-vương thất vọng buồn bực vô cùng.
Sau đó, Tiểu-vương lại truyền lại khắp
trong nước rằng, ai đến thành Ba-La-Nại xin được đầu vua Đại-Quang-Minh
đem về thì sẽ được trọng thưởng mười ngàn cân vàng. Lúc ấy có
người Bà-la-môn nghe được phần thưởng quá to lớn như vậy sanh
lòng tham, nên đã yết kiến Tiểu-vương, xin nhận lãnh xứ mạng
đó. Tiểu-vương vô cùng mừng rỡ, liền ra lệnh cấp lương thực ngựa
xe và thúc dục người Bà-la-môn gấp rút lên đường. Trải hơn tháng
trời lên núi trèo đèo vượt rừng băng suối, người Bà-la-môn
mới đến được nước Ba-La-Nại.
Khi người Bà-la-môn đến trước cửa thành
Ba-La-Nại thì quả đất bỗng nhiên chấn động nứt nẻ, bầu trời
u ám lạnh buốt, chim muông sợ hãi bay tứ tán, mặt trăng lu mờ,
sao băng, tinh tú chuyển động mất vị trí, suối hồ ao giếng cạn
khô, hoa quả héo sầu, cây lá vàng úa rơi rụng, hiện tượng tiêu
điều thê thảm hiển bày khắp cả nước Ba-La-Nại, khiến cho dân
chúng kinh hãi lo âu.
Lính gác cửa thành thấy kẻ lạ Bà-la-môn
vừa đến thì xuất hiện nhiều hiện tượng suy đồi kinh hoàng, nên
hỏi người Bà-la-môn về xuất xứ từ đâu và mục đích đến đây
để làm gì? Người Ba-la-môn kể lể nỗi cực khổ đã trải qua trên
đường đi từ tiểu quốc lân bang đến đây. Và y đến chỉ mong được
yết kiến vua Đại-Quang-Minh để trình bày việc quan trọng. Dù mấy
lần quan giữ cửa gạn hỏi việc quan trọng ấy là việc gì, người
Bà-la-môn vẫn giữ bí mật không nói ý định của mình, mà chỉ nằng
nằng nài nỉ xin được yết kiến Đại-vương. Lính gác cửa thành vẫn
quyết không cho vào. Người Bà-la-môn quyết tâm đứng ngoài cửa
thành suốt bảy ngày đêm, và cuối cùng nói sự thật ý định của
mình là, nghe Đại-vương Quang-Minh tu hạnh bố thí bất nghịch ý, tiếng
thơm đồn xa, nên đến đây ra mắt để được xin cái đầu của Đại-vương.
Vừa nghe, quân lính gác thành nổi khí xung
thiên, giận dữ đánh đuổi quát mắng, nếu không có sự can gián
kịp thời thì người Bà-la-môn không toàn tánh mạng. Thấy vậy,
viên tướng ngự lâm quan đem việc xảy ra ngoài cửa thành trong
bảy ngày qua tâu với vua Đại-Quang-Minh. Nhà vua nghe kể xong đầu
đuôi câu chuyện, liền hạ lệnh quân gác cửa thành cho người Bà-la-môn
vào triều ra mắt.
Người Bà-la-môn quỳ trước bệ rồng giả
vờ khóc lóc kể lể về nỗi khổ cực hiểm nguy trên đường đi, nỗi
nhục nhã bị quân lính giữ thành hành hạ bảy ngày qua. Người Bà-la-môn
tiếp tục lạy lục lia lịa, khóc than khẩn thiết thưa: "Dù vậy cũng
không quản ngại. Kẻ tiện dân nầy từ xa đến đây được yết kiến
Đại-vương là vạn phúc lắm rồi! Dù có bao khổ nhục đi nữa cũng
chẳng đáng gì. Chỉ mong Đại-vương thương tình hứa khả cho xin một
điều duy nhất thôi, thì kẻ tiện dân cũng thỏa nguyện lắm rồi".
Vua Đại-Quang-Minh phán rằng: "Điều gì, nhà
ngươi cứ nói tự nhiên, đừng e sợ".
Người Bà-la-môn vận dụng khổ nhục kế
thiểu não với giọng khẩn thiết run run thưa: "Tâu Đại-vương! Đức
độ nhân từ cao cả của Đại-vương rộng lớn vang lừng bốn phương
thiên hạ đều tôn sùng ngưỡng mộ bái phục. Hạnh tu bố thí bất
nghịch ý của Đại-vương mười phương thánh thần trời đất đều chứng
giám. Đức độ nhân từ của Đại-vương chỉ có một không hai trên
đời. Tiện dân từ vạn dặm lặn lội gian nan, cam chịu vô cùng cực
khổ đến đây, chỉ mong được Đại-vương mở lượng hải hà mà bố thí
đầu của Đại-vương, thì ơn mưa móc cứu nhân độ thế của Đại-vương,
thật vô lượng vô biên, tiện dân nầy nghìn triệu kiếp ghi xương
khắc cốt không dám quên".
Người Bà-la-môn vừa dứt lời, các vị đại
thần nhìn nhau, nhao nhao lớn tiếng, nổi giận, căm tức cực độ.
Muốn lôi cổ người Bà-la-môn ra chém đầu ngay.
Nhưng vua Đại-Quang-Minh vẫn thái độ ung
dung trầm tĩnh từ hòa can gián quần thần: "Này các khanh! Các
khanh đừng làm nghịch ý người".
Rồi nhà vua quay sang dùng lời hiền hòa
an ủi người Bà-la-môn. Người Bà-la-môn được thế lại tỏ ra thảm
não khẩn thiết quỳ tâu tiếp: "Muôn tâu Thánh-lượng! Ân đức
bố thí bất nghịch ý của Thánh-thượng bốn phương thiên hạ xa gần
ai nấy cũng nức lòng khâm phục ca tụng tôn sùng ngưỡng mộ. Cho
dù kẻ tiện dân nầy có chịu gian nan mất mạng mà được Đại-vương
bố thí bất nghịch ý, thì kẻ tiện dân nầy còn gì sung sướng phước
đức cho bằng".
Nghe người Bà-la-môn nói xong, nhà vua trầm
tư suy nghĩ: Từ vô thỉ kiếp đến nay, ta đã bao lần sanh tử tử sanh
cũng chỉ vì tham tiếc cái thân nầy. Nay ta vì hoàn thành hạnh nguyện
bố thí bất nghịch ý, để cầu đạo quả Vô-thượng Bồ-đề phổ độ
chúng sanh, thì có xá gì cái thân ô uế giả tạm nầy mà tiếc?
Suy nghĩ một hồi, rồi nhà vua nói với người Bà-la-môn rằng: "Ngươi
yên tâm, không có gì trở ngại. Ta sẽ làm cho ngươi toại nguyện.
Xin hãy chờ ta trong vòng bảy ngày để ta có thời gian sắp đặt
người giao phó ngôi vua, phu nhân, thái tử và quốc thành, rồi
ta sẽ tặng đầu ta cho".
Quần thần và phu nhân, thái tử cùng hoàng
tộc nghe nhà vua quyết định đem đầu cho người Bà-la-môn, tất cả
đều vô cùng xúc động bỏ ăn mất ngủ lăn lộn khóc lóc thở than,
tìm đủ mọi cách can gián nhà vua nên bỏ ý định. Cùng lúc ấy,
hơn năm trăm vị đại thần uất hận đau khổ đập mình xuống đất than
thở, họ muốn phanh thây nuốt sống người Bà-la-môn kia. Họ hỏi
tại sao người Bà-la-môn không xin châu ngọc vàng bạc quý báu
mà lại cứ nằng nằng nài nỉ xin cho được cái đầu máu mủ làm
gì? Họ thương lượng với người Bà-là-môn muốn đổi cái đầu làm
bằng bảy thứ báu kim cương thay vì đầu của nhà vua, để cho người
Bà-la-môn được giàu sang đời đời. Nhưng thuyết phục dẫn dụ thế
nào đi nữa, người Bà-la-môn cũng đều từ chối, chỉ nhất quyết
xin cho được cái đầu của vua Đại-Quang-Minh mà thôi.
Mặc dù quần thần, phu nhân, thái tử và
hoàng tộc khóc lóc lạy lục van xin, nhưng nhà vua lòng đã quyết
nói: "Nay ta vì các người và hết thảy chúng sanh mà xả thân bố
thí, không vì lý do gì làm ngăn cản hạnh nguyện bố thí bất nghịch
ý của ta".
Nói rồi, nhà vua chấp tay thành kính hướng
về bốn phương đảnh lễ phát nguyện: "Kính lạy mười phương chư Phật,
chư vị Bồ-Tát từ bi thương sót chứng minh gia hộ cho con được trọn
thành hạnh nguyện". Nói xong, tự tay cắt lấy đầu trao cho người
Bà-la-môn. Ngay lúc đó, trời đất rúng động, trên hư không nhạc
trời chúc tụng, mưa hoa rải khắp trên mình nhà vua.
Đang trong lúc nhà vua thành tâm lễ lạy
mười phương, phát nguyện thực hành hạnh bố thí bất nghịch ý, thì
trong quần thần có vị đệ nhất quan đầu triều không nhẫn tâm nhìn
thấy cảnh tượng đau lòng của nhà vua xả thân cắt đầu bố thí
một cách đau đớn, nên vội vào phòng riêng một mình tự sát trước
khi vua Đại-Quang-Minh thực hành tâm nguyện đầu. Và trải qua nhiều
kiếp, tôn giả Xá-Lợi-Phất thực hành tâm nguyện chết trước ta
như thế, chứ nào phải chỉ riêng trong kiếp nầy!"
Nói đến đây, đức Phật bảo ngài A-Nan rằng,
vị quan đệ nhất đại thần đó chính là tiền thân Xá-Lợi-Phất.
Kẻ Bà-la-môn kia là tiền thân Đề-Bà Đạt-Đa. Còn vua Đại-Quang-Minh
chính là tiền thân của Thích-Ca Như-Lai ta đây vậy.