Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Thơ Văn Phật Giáo


......... .

 

 

Ca Dao Tục Ngữ Phật Giáo Việt Nam

Lệ Như Thích Trung Hậu sưu tập

---o0o---

Chương một

NỘI DUNG

 

CA DAO TỤC NGỮ PHẬT GIÁO

 

Chữ D, Đ

 

1. Duyên nợ ba sinh.

 

2. Dốc một lòng trông một đạo.

 

3. Dầu cho Phật, Bồ-Tát cũng phải sa.

 

4. Dâm vô tang đạo vô tích.

 

5. Dụng tâm mạc nhược vô tâm hảo.

 

6. Dữ tu hành, hơn lành kẻ cướp.

 

7. Dạ sâu hơn bể, bụng kín hơn buồng.

 

8. Dạ cá lòng chim.

 

9. Dĩ đức báo oán.

 

10. Dĩ ân báo oán.

 

11. Dục túc bất đạt.

 

12. Duyên ai nấy gặp.

 

13. Dĩ tửu vô lượng bất cập loạn.

 

14. Dưa làng La, cà Phúc Khánh.[1]

15. Diệm Nhu gian ác mưu mô,

Lá cờ Phật giáo cố đô vẫn còn.

 

16. Dẫu xây chín bực phù đồ (ngôi tháp),

Không (chẳng) làm phúc cứu cho một người.

 

17. Dù ai quyết chí tu hành,

Có về Yên Tử mới đành lòng tu.

 

18. Dầu em có thác suối vàng,

Oan hồn em cũng theo chàng báo oan.

 

19. Dò sông, dò bể, dễ dò,

Nào ai lấy thước mà đo lòng người.

 

20. Dưới trời trên Phật trên vua,

Trên miễu trên chùa trên hết nhân dân.[2]

21. Duyên vì đâu, nợ vì đâu,

Trách con tằm tính tệ, sao bỏ nghĩa đâu hỡi tằm.

 

22. Day tay mắm miệng phẩm oản quả chuối,

Từ bi cũng phẩm oản quả chuối.

 

23. Dạy con con chẳng nghe lời,

Con nghe ông Kềnh[3] đi đời nhà ma.

 

24. Dạy con con chẳng nghe lời,

Con nghe ông Kềnh, bà hỏng đi đời nhà con.

 

25. Dù cho tuổi bảy mươi tròn,

Mà còn từ mẫu vẫn còn thơ ngây.

 

26. Dù ai lấp cạn bể đông,

Hiến thân Bồ Tát vẫn không vơi đầy.

 

27. Dốc lòng lên cõi thiên thai,

Mũ rơm áo vá giày gai tu trì.

 

28. Dốc lòng niệm Phật không lơi,

Cầu cho cha mẹ thác thời siêu sanh.

 

29. Dạo chơì quán Sở, lầu Tề,

Hữu duyên thiên lý ngộ, ai dè gặp em.

 

30. Dã tràng xe cát biển đông,

Nhọc lòng mà chẳng nên công cán gì.

 

31. Duyên sao duyên cớ lỡ làng,

Cầm gương gương tối, cầm vàng vàng phai.

 

32. Duyên kia ai đợi mà chờ,

Tình ai tơ tưởng mà tơ tưởng tình.

 

33. Dù cho ai đánh mẹ treo,

Em không bỏ hội chùa Keo hôm rằm.[4]

34. Dù ai đi đâu về đâu,

Hễ trông thấy tháp chùa Dâu thì về.

Dù ai buôn bán trăm nghề

Nhớ ngày mồng tám thì về chùa Dâu.

 

35. Dù ai buôn bán ở đâu,

Đến ngày Phật Đản năm châu cũng về.

Dù ai buôn bán trăm nghề,

Đến ngày Phật Đản ta về chùa ta.

 

36. Dân tộc ta có bốn nghìn năm lịch sử,

Từ Đinh Lê Lý cho đến Trần Lê,

Dân ta giữ đạo Bồ Đề,

Nửa tu chân chính, nửa tề quốc gia.

 

37. Dưới trời ai tốt bằng bèo,

Chờ khi nước lụt bèo trèo lên sen.

Dưới trời ai tốt bằng sen,

Quan yêu dân chuộng rã bèn cũng hư.

 

38. Dò sông dò bể dễ dò,

Nào ai lấy thước mà đo lòng người.

Lòng người thăm thẳm mù khơi,

Không bờ, không bến biết đâu mà dò.

 

39. Dầu ai gieo tiếng ngọc,

Dầu ai đọc lời vàng.

Bông sen hết nhụy bông tàn,

Em dây giữ tiết như nàng Nguyệt Nga.

 

40. Dẫu rằng nát đá vàng phai,

Ba sinh phải giữ lấy lời ba sinh.

Duyên kia có phụ chữ tình,

Mà toan xẻ gánh chung tình làm hai.

Bây giờ người đã nghe ai,

Thả chông đường nghĩa, rắc gai lối tình,

Nhớ lời hẹn ước đinh ninh,

Xa xôi ai có thấu tình chăng ai?

 

41. Dòm lên trời thấy cặp cu đương đá,

Dòm xuống biển thấy cặp cá đương đua.

Biểu anh về lập miếu thờ vua,

Lập trang thờ mẹ lập chùa thờ cha.

 

42. Dù cho cha đánh mẹ treo,

Em cũng chẳng bỏ chùa Keo hôm rằm.

Dù cho cha đánh mẹ vằm,

Em cũng chẳng bỏ hôm rằm chùa Keo.[5] 

 

 

 

Chữ Đ

 

1. Đa đa tích thiện.

 

2. Đa nhân hiếp quả,

 

3. Đông như La Hán.

 

4. Đất lành chim đậu.

 

5. Đầu chay đầu tạp.

 

6. Đám hội nhà chay.

 

7. Đồng tâm hiệp lực.

 

8. Đi chùa cầu tự.

 

9. Đại từ đại bi.

 

10. Đại hỷ đại xả.

 

11. Đáo xứ sinh huy.[6]

12. Đáo xứ tràng an.

 

13. Đồng bệnh tương lân.

 

14. Đói ăn rau, đau uống thuốc.

 

15. Đức trọng quỉ thần kinh.

 

16. Đếm Bụt mà đóng oản.

 

17. Đã tu thì tu cho trót.

 

18. Đấm chuông giữa mặt thầy.

 

19. Đem quỉ về nhà chay.

 

20. Đánh trống qua cửa nhà sấm.

 

21. Đánh mõ không bằng gõ thớt.

 

22. Đi đêm có ngày gặp ma.

 

23. Đi xem đến hội, đi chơi đến chùa.

 

24. Đánh chẳng được, tha làm phước.

 

25. Được mùa thầy chùa no bụng.

 

26. Đời cha ăn mặn đời con khát nước.

 

27. Để hòn đất bắt nên ông Bụt.[7]

28. Đất vua chùa làng phong cảnh Bụt.

 

29. Đa nhân duyên nhiều đường phiền não

 

30. Đất vua chùa làng phong cảnh Bụt

 

31. Đứa ở ba mùa, Thầy chùa ba năm.

 

32. Đắc đạo vong sư, đắc ngư vong thuyền.

 

33. Đi xem đến Hộ, đi chơi đến chùa.

 

34. Điều lành thì nhớ, điều dở thì quên.

 

35. Đánh ghen (ganh) gái dại, cắm nêu ruộng chùa.

 

36. Đến khi đỗ trạng, chín mười nhân duyên.

 

37. Điều lành mang lại, điều hại mang đi.

 

38. Đánh trống động trống, bứt dây động rừng.

 

39. Đào hồ thả sen, làm men ủ bột.

 

40. Đạo cao năm thước, Ma cao một trượng.

 

41. Đi lễ quanh năm, không bằng ngày rằm tháng giêng.

 

42. Đo sông đo bể hồ dễ đo lòng người.

 

43. Đại mộc lưu giang, bất đắc hồi cố.[8]

44. Đời trước đắp nấm, đời sau ấm mồ.

 

45. Đường không đi sao biết

Chuông không đánh sao kêu

 

46. Độc sen ai đến mà xem,

Không đến thì thèm đến lại nhớ lâu.

 

47. Đi chợ mà bỏ quên tiền,

Về nhà quên ngõ đâm xiêng vô chùa.

 

48. Đi đâu mà bỏ mõ chuông,

Bỏ mè tương lạt, để buồng chuối non.

 

49. Đi tu răng rứa anh hè,

Đi mô cũng có bà vãi lè kè một bên.[9]

50. Đi tu răng rứa sao đành,

Bỏ em nuôi trẻ đầu xanh ngồi chờ

 

51. Đi tu Phật bắt ăn chay,

Thịt chó ăn được, thịt cầy phải kiêng.

 

52. Đi trước thì xước cỏ gà,

Về nhà đọc canh ra đình chết chém.

 

53. Đi với Bụt (Phật) mặc áo cà sa,

Đi với ma mặc áo giấy.

 

54. Đó đi tu đây cũng nguyền ở Sãi,

Ăn một chén cơm chùa trọn ngãi với em.

 

55. Đi lâu mới biết đường dài,

Ở lâu mới biết con người có tu.

 

56. Đi lâu mới biết đường dài,

Ở lâu mới biết con người phải chăng.

 

57. Đi lính thì sợ qua ải,

Làm Sãi ở chùa thì sợ Lăng Nghiêm.

 

58. Đói lòng ăn hột chà là,

Để cơm nuôi mẹ, mẹ già yếu răng.

 

59. Đời người như bóng phù du,

Sớm còn tối mất công phu lỡ làng.

 

60. Đi đâu mà bỏ mẹ già,

Gối nghiêng ai sửa, chén trà ai nâng.

 

61. Đầu thầy chùa nấu canh chua,

Ba tháng mười ngày chưa hết chua.

 

62  Đầu trọc lóc bình vôi,

Mẹ ngồi mẹ ỉa bôi lên đầu.

 

 63. Đầu trọc mà lóc bình đào,

Nhà ai có cổ thì vào gặm xương.

 

64. Đất Bụt mà ném chim trời,

Chim bay mất bụi (đất) rơi vào (xuống) đầu.

 

65. Đất Bụt mà ném chim trời,

Ông tơ bà nguyệt xe dây nhợ nửa vời ra đâu.

 

66. Đất vua chùa làng phong cảnh Bụt,

Cảnh đời người thế nước non Tiên.

 

67. Đã sinh ra kiếp đàn ông,

 Đèo cao núi thẳm sông cùng quản chi.

 

68. Đã sinh ra kiếp hay chơi,

Thì trời lại đọa vào nơi không tiền.

 

 69. Đã đành cắt tóc đi tu,

 Một ngày cửa Phật mười thu cửa trần.

 

70. Đã đành thọ phép Di Đà,

 Hiếu trung giữ trọn gian tà mặc ai.

 

71. Đàn bà chơi với đàn bà,

Một đồng tiền giáng đục ra chuông kềnh.

 

72. Đàn ông vui đám vui đình

Đàn bà vui kệ, vui kinh cửa chùa.

 

73. Đấng trượng phu đừng thủ mới đáng,

 Đấng anh hung đừng oán mới hay.

 

74. Đèn ai leo lét trên lầu,

 Đàn bà quốc mẫu tụng kinh cầu được mã thượng phong.

 

75. Đèn lưu ly nửa bấc nửa dầu,

 Nửa thương cha mẹ nửa sầu nhân duyên.

 

76. Đến ta mới biết của ta,

Nghìn trăm năm trước biết là của ai.

 

77. Đến đây viếng cảnh viếng thầy,

Không say mùi đạo cũng khuây mùi trần.

 

78. Đến với ma quỉ phải quyệt,

Đến với Phật phải từ bi.

 

79. Đến đây thấy cảnh thấy người,

Tuy vui đạo Phật chưa khuây lòng trần.[10]

 

80. Đêm qua đốt đỉnh hương trầm,

Khói lên nghi ngút âm thầm lòng ai.

 

81. Đêm nằm nghe Vạc kêu (trở) canh,

Nghe Sư gõ mõ, nghe anh gõ nàng.

 

82. Đêm về nghe Vạc kêu canh,

Nghe chuông động cánh, nghe anh dỗ nàng.[11]

 

83. Đem chuông đi đánh xứ người,

Chẳng kêu, tôi vác chuông tôi tôi về.

 

84. Đem chuông đi đánh xứ người,

Không kêu cũng thử một hồi lấy danh.

 

85. Đem chuông đi đấm xứ người,

Chẳng kêu cũng đấm ba hồi cho kêu.

 

86. Đờn cầm ai nở đứt dây,

Gẫm mình vô tội ai gây oán thù.

 

87. Đôi ta như tượng mới tô,

Như chông mới đúc như chùa mới xây.

 

88. Đời xưa trả báo mà chầy,

Đời nay trả báo thấy ngay nhãn tiền.

 

89. Đời xưa trả báo thì chầy,

Đời nay trả báo một giây nhãn tiền.

 

90. Đời người khác nữa là hoa,

Sớm còn tối mất nở ra lại tàn.

 

91. Đời người chỉ được (có một) gang tay,

Kẻ (ai) hay ngủ ngày chỉ được nửa gang.

 

92. Đào tơ sen ngó xanh xanh,

Ngọc lành còn đợi giá lành đẹp duyên.

 

93. Đàn ông mà lấy đàn ông,

Một trăm gánh đồng đúc chẳng nên chuông.

 

94. Đấy vàng đây cũng đồng đen,

Đấy hoa sói trắng, đây sen nhị hồ.[12]

 

95. Đêm nằm nghe trống sang canh,

Nghe sư gõ mõ, nghe anh dỗ nàng.

 

96. Đông Ba, Gia Hội hai cầu,

Có chùa Diệu Đế bốn lầu hai chuông.

 

97. Đố ai tát bể giồng kê,

Tát sông Bồ -đề đổ mạ cấy chơi.

 

98. Đêm rằm tháng bảy Vu lan,

Phận con báo hiếu muôn ngàn ghi ân.

 

99. Đến đây phải ở lại đây,

Cầu cho cha mẹ tự rày thảnh thơi.

 

100. Đói lòng ăn trái móc lê,

Tìm nơi nhân hậu hơn bề giàu sang.

 

101. Đạo trời báo phúc chẳng lâu,

Hơn là thiện ác đáo đầu chẳng sai.

 

102. Đầu cha lấy làm thân con,

Mười bốn trăng tròn hết số thời thôi.

 

103. Đặt bàn thệ nguyện giữa trời,

Sao hôm có lặng còn lời sao mai.

 

104. Đôi ta như lúc phơi màu,

Đẹp duyên thì lấy tham giàu làm chi.

 

105. Đời người sống mấy gang tay,

Hơi đâu cặm cụi cả ngày lẫn đêm.

 

106. Đường xa chi ngại Trường sơn,

Ngại chăng là ngại lòng con quên về.

 

107. Đôi ta như chỉ xe tư,

Xe răng cho được y như lời nguyền.

 

107b. Đi ngang nhà má, cái tay tôi xá cái cẳng tôi quì,

Lòng thương con má sá gì thân tôi.

 

108. Đây anh không giận, đó em cũng chớ hờn,

Kiếp tái sanh ta sẽ nối phiếm đờn tri âm.

 

109. Đó chê đây, đây càng lịch sự,

Đó ăn mâm vàng đây ngự tòa sen.

 

110. Đất trả vua chùa trả cho Sãi,

Bao nhiêu nhân ngãi thiếp trả lại cho chàng.

Thiếp lui về chốn cũ để mở hàng bán buôn.

 

111. Đêm nằm lưng chưa bén chiếu,

Tay níu thành giường,

Thương em quá độ quên đường tử sanh.

 

112. Đèn cầu tàu cái xanh cái đỏ,

Đèn cây Gõ cái tỏ cái lu,

Nước ròng bỏ trái mù u,

Lỗi duyên cạo trọc đi tu chùa Bà.

 

113. Đắng khổ qua, chua là chanh giấy,

Ngọt thế mấy cũng tiếng cam sành.

Đôi ta duyên nợ không thành,

Cũng do nguyệt lão chỉ mành xe lơi.

 

114. Đôi ta như lúa đòng đòng,

Đẹp duyên nhưng chẳng đẹp lòng mẹ cha.

Đôi ta như chỉ xe ba,

Thầy mẹ xe ít đôi ta xe nhiều.

 

115. Đem thân ở dưới cõi trần,

Hỏi rằng có duyên có nợ nần chi không?

Bao nhiêu giá một ông chồng?

Thì em cũng bỏ đủ đồng ra mua.

 

116. Đời xưa trả báo còn lâu,

Đời nay trả báo bất câu giờ nào.

Đời xưa trả báo còn chầy,

Đời nay trả báo một giây nhãn tiền

 

117. Đầu làng có một cây đa,

Cuối làng có cây thị, đằng xa ngôi chùa.[13]

Dù anh đi sớm về trưa,

Xin anh nghỉ bóng cây dừa nhà em.

 

118. Đội ơn chín chữ cù lao.

Sinh thành kể mấy non cao cho vừa.

Trời ơi có thấu tình chăng,

Bước sang mười sáu ông trăng đã già. (gần)

 

119. Đa đa đậu nhánh cây đa,

Chồng gần không lấy em lấy chồng xa.

Một mai cha yếu mẹ già,

Bát cơm ai đỡ mẹ già ai nâng.

 

120. Đôi ta là nợ là tình,

Là duyên kiếp trước đôi mình kết giao.

Em như hoa mận hoa đào,

Cái gì là nghĩa (ngãi) tương giao hỡi chàng?

 

121. Đố ai mà được như sen,

Chung quanh cánh đỏ, giữa chen nhụy (nhị) vàng.

Nhị vàng bông trắng (đỏ) lá xanh,

Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.

 

122. Đời phải đời thịnh trị,

Cuộc phải cuộc văn minh.

Kìa là gió mát trăng thanh,

Biết đâu nhơn đạo bày tình cho vui.

 

123. Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ,

Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ ngọn lu.

Anh về học lạy chữ tu,

Chín năm em đợi mười thu em chờ.

 

124. Đem thân vào chốn cát lần,

Cho thân lấm láp như mầm ngó sen.

Đêm đêm ngồi tựa bóng đèn,

Than thân với bóng giải phiền với hoa.

 

125. Đố ai tát bể Đông khê,

Tát sông Bồ - đề nhổ mạ cấy chiêm.

Đố ai biết đá mấy hòn,

Tua rua mấy chiếc, trăng tròn mấy đêm.

 

126. Đem chuông đi đấm xứ người,

Đem gà đi chọi những nơi anh hùng.

Những nơi chả đáng chả thiêng,

Cho nên vàng chả đổ đồng với thau.

 

127. Đêm đêm nghe vạc cầm canh,

Nghe chuông gióng sáu nghe anh khuyên nàng.

Anh khuyên nàng, nàng đã hồ nghe,

Trách con gà trống te te gáy dồn.

 

128. Đêm qua rủ rỉ rù rì,

Tiếng nặng bằng bạc (bấc), tiếng chì bằng bông.

Chì khoe chì nặng hơn đồng,

Sao chì chẳng đúc nên cồng nên chuông (chiêng).

 

129. Đường đi lên quăn quăn quéo quéo,

Đường đi xuống quẹo quẹo vườn dâu.

Hai đức mình ân ái đã lâu,

Ai vô đây bày mưu sắp kế cho duyên nợ này rẽ phân.

 

130. Đố ai lặn xuống vực sâu,

Mà đo miệng cá uốn câu cho vừa?

Dò sông dò bể dễ dò,

Nào ai bẻ thước mà đo lòng người.

 

131. Đất khách quê người,

Ôi thương ơi thân em ý tình bằng đất khách quê người,

Hồng nhan tình bằng bạc phận, ý mấy đời bỏ đi.

Nói nhân duyên kia còn hẳn có thể ý y ỳ.

 

132. Đấy vàng đây cũng đồng đen,

Đấy hoa thiên lý, đây sen nhị hồ.

Đấy em như tượng mới tô,

Đây anh như ngọc họa đồ trong tranh.

 

133. Đường về kiếp bạc bao xa,

Đường về Kiếp bạc có cây đa Bồ-đề.

Có yêu anh cắp nón ra về,

Giàu ăn, khó chịu chớ hề thở than.

 

134. Đồn rằng chợ Giám vui thay,

Bên đông có Miếu bên tây có chùa.

Giữa làng có điện thờ vua,

Đôi giòng nước chảy đò đưa dập dềnh.

 

135. Đã từng trên thẳm dưới sâu,

Dưới chân đỉa cắn, trên đầu sương bay.

Trông cho tháng tháng ngày ngày,

Áo mẹ dầu vá mong đầy cơm con.

 

136. Đã lòng hẹn bến hẹn thuyền,

Chờ anh hàng muối cho duyên mặn mà.

Vì chưng bươm bướm hoa hoa,

Gặp anh hàng trứng hóa ra đổi lòng.

 

137. Đôi ta là nợ là tình

Là duyên là kiếp đôi mình kết giao

Em là hoa mận hoa đào

Cái gì là ngãi tương giao hỡi nàng.

 

138. Đêm đêm tưởng dạng Ngân hà

Bóng sao tinh đẩu đã ba năm tròn

Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn

Tào Khê nước chảy lòng (hãy còn) trơ trơ.

 

139. Đồn rằng chợ Nội vui thay,[14]

Bên đông có Miếu bên tây có chùa.

Giữa chợ có Miếu thờ vua,

Đôi bên nước chảy đò đưa em về.

 

140. Đêm Vu Lan trăng tròn gió mát,

Trước Phật đài ngào ngạt hương trầm.

Cầu cho thất thế song thân,

Được về nước Phật tâm thần thảnh thơi.

 

141. Đêm qua đốt đỉnh hương trầm,

Khói hương nghi ngút âm thầm nhớ quê.

Vui là vui gượng qua thì,

Xóm làng xa vắng vui gì mà vui.

 

142. Đèn treo cột phướn,

Gió chướng hao đầu,

Anh thương em để dạ,

Đừng rầu lụy thân.

 

143. Đất xấu mà hại kiếp hoa,

Số nghèo làm hại con nhà thông minh.

Đi đâu bỏ mẹ bỏ chuong,

Bỏ ghè tương lạt, bỏ buồng chuối non.

 

144. Đầm đại từ hoa sen thơm ngát,

Giếng Đại Từ nước mát trong xanh,

Dòng Tô uốn khúc lượn quanh,

Đất nuôi trẻ nhỏ lừng danh trong ngoài.

 

145. Đêm đông trường nghe con vượn cầm canh,

Nghe chim khuyên tổ, nghe anh dỗ nàng.[15]

Giàu giữa làng trái duyên không ép,

Khó nước người phải kiếp đi tìm.

Tiền trăm bạc chịu kể chi.[16]

146. Đất Thừa Thiên trai hiền gái lịch,

Non xanh nước biếc, điện ngọc sông trong,

Tháp bảy tầng Thánh Miếu chùa Ông,

Trách ai một dạ hai lòng,

Tham đồng bạc trắng nở phụ lòng dân đen

 

147. Đôi duyên ta như loan với phượng,

Nỡ lòng nào để phượng lìa cây.

Muốn cho có đó có đây,

Ai làm nên nổi nước này chàng ơi.

Thà rằng chẳng biết thì thôi,

Biết chi gối chiếc lẻ loi thêm phiền.

 

148. Đêm hè gió mát trăng thanh,

Em ngồi chẻ lạt cho anh chắp thừng.

Lạt chẳng mỏng sao thừng được tốt,

Duyên đôi ta đã trót cùng nhau.

Trăm năm thề những bạc đầu,

Chớ tham phú quí đi cầu trăng hoa.

 

149. Đêm qua chớp bể mưa nguồn,

Hỡi người trí thức có buồng chăng ơi.

Tưởng rằng đá nát thì thôi,

Ai ngờ đá nát nung vôi lại nồng.

Trống chùa ai đánh thì thùng,

Của chung ai khéo vẫn vùng thành riêng.

 

150. Đêm qua vật đổi sao dời,

Tiếc công gắn bó, tiếc lời giao đoan.

Đêm qua rót đọi dầu đầy,

Bấc non chẳng cháy oan mầy dầu ơi.

Đêm qua rót đọi dầu vơi,

Bấc non chẳng cháy dầu ơi oan mầy.

 

151. Đã sinh ra kiếp ở đời,

Trai thời trung hiếu đôi vai cho tròn.

Gái thời trinh tỉnh lòng son,

Sớm hôm gìn giữ kẻo còn chút sai.

Trai lành gái tốt ra người,

Khuyên con trong bấy nhiêu lời cho chuyên.

 

152. Đất Bụt mà ném chim trời,

Ông tơ bà nguyệt xe dây nhợ nửa vời ra đâu.

Cho nên cá chẳng bén câu,

Lược chẳng bén đầu, chỉ chẳng bén kim.

Thương nhau nên phải đi tìm,

Nhớ nhau một lúc như chim lạc đàn.[17]

153. Đất Thừa Thiên trai hiền gái lịch,

Non xanh nước biếc, điện ngọc sông trong.

Tháp bảy tầng Thánh Miếu chùa Ông,

Chuông chùa Diệu Đế trống rung Tam tòa.

Cầu trường tiền sáu nhịp bắc qua,

Tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ.

Đợi khách ai ca Thái bình.

Cuộc tiến triển của nhân loại trên hoàn cầu lúc ni.

 

154. Đấy với đây chẳng duyên thì nợ,

Đây với đấy chẳng vợ thì chồng.

Dây tơ hồng chưa xe đã mắc,

Rượu Quỳnh tương chưa nhắp đã say.

Chẳng chè chẳng chén cho say,

Chẳng thương chẳng nhớ sao bay đi tìm.

Tìm em như thể tìm chim,

 

155. Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa,

Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh.

Em lên xứ Lạng cùng anh,

Bỏ công bác mẹ sinh thành ra em.

Tay cầm bầu rượu nắm nem,

Mãng vui quên hết lời em dặn dò.

Gánh vàng đi đổ sông Ngô,

Đêm nằm tơ tưởng đi mò sông Thương.

 

156. Đồn rằng kẻ Lạng vui thay,

Đi ba bốn ngày kể đã lắm công.

Bên dưới có sông bên trên có chợ,

Anh lấy em về làm vợ nên chăng.

Tre già để gốc mọc măng,

Em như cây quế trong rừng,

Thơm cay ai biết, ngát bừng ai hay.

Anh như cây phướn nhà Chay,

Em như chiếc đũa sánh bầy sao nên.

 

157. Đồng Vạn Lịch thích bốn chữ vàng,

Anh tiếc công anh gắn bó với cô nàng bấy lâu.

Bấy giờ cô lấy chồng đâu,

Để anh giúp đõ năm cau nghìn vàng.

Năm trăm anh đốt cho nàng,

Còn năm trăm nữa giải oan lời thề.

Xưa kia anh nói thì thề,

Bây giờ bẻ khóa trao chìa nghe ai.

Gặp anh ghé nón chạm vai chẳng chào.

 

158. Đêm qua ra đứng bờ ao,

Trông cá cá lặn, trông sao sao mờ.

Buồn trông con nhện chăng tơ.[18]

Nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai.

Buồn trông chênh chếch sao Mai,

Sao ơi sao hỡi nhớ ai sao mờ.

Đêm đêm tưởng giải ngân hà,

Chuôi sao Bắc đẩu đã ba năm tròn.

Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn,

Tào khê nước chảy hãy còn trơ trơ.[19]

159. Đem vàng đi đổ sông Ngô,

Đêm nằm tơ tưởng đi mò sông Thương.

Vào chùa thắp một nén hương,

Miệng khấn tay vái bốn phương chùa này.

Chùa kia có một ông Thầy,

Có hòn đá tảng, có cây Ngô đồng.

Cây ngô đồng không trồng mà mọc,

Cái rễ ngô đồng cái dọc cái ngang.

Cái quả dưa gang trong vàng ngoài trắng,

Cái quả mướp đắng trong trắng ngoài xanh.

 

160. Đôi cô vác gậy chọi đào,

Cô lớn cô bé cô nào với ai.

Cô lớn vuốt bụng thở dài,

Trời ơi đất hỡi lấy ai đỡ buồn.

Cô bé mặc áo hở lườn,

Đêm nằm ngỏ cửa con lươn bò vào.

Gió nam đánh tốc yếm đào,

Anh nghĩ oản trắng mơ vào thắp nhang.

Hai cô bốn oản rõ ràng,

Anh xin một chiếc cô nàng không cho.

 

161. Đạo nào cao bằng đạo can trường,

Chồng mà xa vợ đoạn trường trời ơi.

Bấy lâu nay mình một ngã tui một nơi,

Ngày nay gặp mặt giải vơi cơn sầu.

Trống tam canh vội đổ trên lầu,

Mình có chồng rồi tôi nói cơ cầu làm chi.

Miệng thế gian ngôn dựt trường phi,

Còn lo phụ mẫu sao bất thành không ai.

Bữa này mười một mai là mười hai,

Mình tui ở lại với ai bây giờ.

 

162. Đêm qua trời sáng trăng rằm,

Anh đi qua cửa em nằm không yên.

Mê anh chẳng phải mê tiền,

Thấy anh lịch sự có duyên dịu dàng.

Thấy anh em những mơ màng,

Tưởng rằng đây đấy phượng hoàng kết đôi.

Thấy anh chưa kịp ngỏ lời,

Ai đời anh đã vội rời gót loan.

Thiếp tôi mê mẫn canh tàn,

Chiêm bao như thấy anh chàng ngồi bên.

Tỉnh ra lẳng lặng yên nhiên,

Tương tư bệnh nó nháy liên miên cả ngày.

Nghĩ rằng duyên nợ từ đây,

Xin chàng hãy lại chơi đây chút nào.

Cho thiếp tỏ thiệt thấp cao.

 

163. Đứng bên ni thấy chiếc thuyền năm ván,

Ngó sang bên kia, thấy chiếc quán năm gian.

Thuyền năm ván đang đợi người thương nhớ,

Quán năm gian đang đợi người nhớ thương,

Một em nói rằng thương,

Hai em nói rằng nhớ,

Trách ông trời làm lỡ duyên anh,

Anh ngồi góc cây chanh,

Anh đứng cội cây dừa,

Nước mắt anh nhỏ như mưa,

Ướt một cái quần cái áo,

Cái quần anh vắt chưa ráo,

Cái áo anh vắt chưa khô,

Thầy mẹ em gả bán khi mô,

Tiếc công anh lặng suối giang hồ.

Trời cao anh kêu không thấu,

Đất rộng anh kêu nỏ thông,

Những người bòn của bòn công,

Nam mô Ai Di Đà Phật, anh phủi tay không anh về.

 

164. Đặt mình chưa ấm chỗ nằm,

Đã lại cởi tầm lúc lại ra đi,

Dế kêu suối chảy rầm rìu,

“Bắt cô trói cột” não nề ngân nga.

Đoàn người hay quỉ hay ma,

Tay mai tay cuốc sương sa mịt mù.

Hai bên gió núi ù ù,

Tưởng oan hồn của dân phu gọi về.


 

[1] Làng La tức làng La Uyên nay thuộc xã Minh Quang, huyện Vũ Thư, xưa là làng trồng nhiều rau dưa; Phúc Khánh nay thuộc xã Vũ Phúc, huyện Vũ Thư, xưa cũng nổi tiếng trồng nhiều cà.

[2] Câu đố: cái đòn giữa gác trên nhà

[3] Cọp

[4] Ngày xưa, hàng năm cứ đến ngày mồng 6 tháng giêng âm lịch cả Tổng Thanh Triều có đến mấy chục cổ viện rước cả đến thờ Phạm Đôn Lễ.

[5] Chùa Keo đưa nhắn tới ở đây là hai chùa Keo (Keo trên, Keo dưới) ở Thái Bình và ở Hà Nam Ninh. Ngoại thành Hà Nội cũng có chùa Keo, nhưng đây không phải chùa Keo đó.

[6] Đến chổ nào cũng phát sóng

[7] Để hòn đất, nặn nên ông Bụt.

[8] Cây lớn trôi theo dòng sông thì đừng có ngoái nhìn trở lại (ý tinh tiến)

[9] Theo sau bà vãi lè kè một bên.

[10] Hoặc: đến đây thấy cảnh thấy chùa

Tuy chưa vui đạo Phật chưa nguôi lòng trần.

[11] Đêm nằm nghe vạc trở canh

Nghe sư gõ mõ, nghe anh dỗ nàng

[12] Thiên lý

[13] Ngã ba cây dừa

[14] Chợ nội: Thuộc làng Trưa Niộ, hay thuộc xã Đông Xuân, huyện Đông Hưng

[15] Khuyên

[16] Vạn

[17] Bầy

[18] Giăng tơ

[19] Vẫn

 

---o0o---

 

Mục Lục |Chương một  A, Ă, Â|B|C| D, Đ|E, G, H|

I, K, L| M|N|O, Ô, Ơ, P, Q|R, S|T| U, Ư, V, X, Y

| Chương hai  |

---o0o---

Vi tính: Đông Phương. Trình bày: Nhị Tường

Cập nhật: 1-09-2005


Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về Thư Mục Thơ Văn

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp cho Trang Nhà qua địa chỉ: quangduc@tpg.com.au
Địa chỉ gởi thư: Tu Viện Quảng Đức, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic. 3060. Tel: 61. 03. 9357 3544