Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Thơ Văn Phật Giáo


......... .

 

 

Ca Dao Tục Ngữ Phật Giáo Việt Nam

Lệ Như Thích Trung Hậu sưu tập

---o0o---

Chương một

NỘI DUNG

 

CA DAO TỤC NGỮ PHẬT GIÁO

 

Chữ E, G, H

 

1.Em thuận anh hòa là nhà có phúc.

 

2.Ép dầu ép mỡ, ai nỡ ép duyên.

 

3.Em về đến gốc bồ đề.

Gặp hai ông Phật ngồi kề hai bên.

 

4.Em ơi chớ khá bôn hành,

Duyên đâu nợ đó ai dành em lo.

 

5.Em buồn vì nợ vì duyên,

Em buồn vì chẳng được yên gia đình.

 

6.Em không chân trắng má hồng,

Dám đâu lại ước tơ hồng xe duyên.

 

7.Em thương anh ít nói cười,

Ôm duyên ngồi đợi chín mười con trăng.

 

8.Em về mua tờ giấy thanh thiên,

Lấy da trời bọc lại để ta kết nguyền với nhau.

 

9.Em bưóc vô mùng con mắt nọ dòm quanh,

Nghiêng mình nằm xuống tử sanh nhờ trời.

 

10. Em như bức tượng đang tô,

Anh như ngòi bút họa đồ trong tranh.

 

11. Em toan tát bể cấy cần,

Em toan đánh trúc trồng sân nhà chàng.

Vì đâu duyên phận lỡ làng,

Để cho cành bạc lá vàng xa nhau.

 

12. Em thương anh hết sức thương, nhớ hết sức nhớ,

Gặp anh vô cớ em chẳng dám nhìn.

Sợ chị lớn ở nhà chị sanh tâm biến tánh, hốt hoảng lôi đình.

Chị rình ngã ba, chị đón ngã bảy, không biết chết mình hay hại em.

 

13. Em không thương chi tài sắc của người

Ông trời kia đã định, em thương người em phải thương.

Em có chồng rồi tu phận tu duyên,

Dù trao bạc kết duyên đừng cầm.

 

14. Em còn bé dại thơ ngây,

Thầy mẹ ép uổng từ ngày thiếu niên.

Cho nên duyên chẳng vừa duyên.

Có thương thì vớt em lên hỡi chàng.

 

15. Em toan tát bể cấy cần,

Em toan đánh trúc trồng sân nhà chàng.

Vì đâu duyên phận lỡ làng,

Để cho cành bạc lá vàng xa nhau.

 

16. Em như cây quế trong rừng,

Thơm cay ai biết, ngát lừng ai hay.

Anh như cây phướn nhà Chay

Em như chiếc đũa sánh bày sao nên.

 

17. Em thác ba năm xương tàn cốt rụi

Em đầu thai con nhạn bạch về đậu bụi chanh,

Cất tiếng kêu anh đi lấy (nói) vợ

Đừng chờ đợi em như hồi buổi xuân xanh đang còn.

 

18. Em đừng ỷ có nhan sắc khuynh thành

Mà toan rẻ rúng lòng thành của qua,

Xa em cũng tại mẹ cha

Thôi đành thác xuống Diêm la cho đành,

 

19. Em ra ngoài Huế,

Mượn một ông thợ mộc đủ đục đủ chàng.

Mần một cái thang, ba mươi sáu nấc,

Bắc từ dưới đất lên tới ông trời,

Hỏi thăm duyên nợ đổi dời về đâu?

 

20. Em là con gái Phủ từ,[1]

Lộn chồng trả của theo Sư chùa Viềng.

Đói ăn thịt chó nấu riềng,

Bán rau mãnh bát lấy tiền nộp cheo.

Dù còn thiếu thốn bao nhiêu,

Xin làng đừng có cắm nêu ruộng chùa.

 

22. Em cũng có mẹ có cha,

Xin anh đến nhà thưa lại,

Riêng tình ân ái,

Nhân ngãi chẳng chẳng phai,

Song hiểm trắc trở duyên hài,

Phải cho có mối có mai lễ trầu.

 

23 Em thì đi cấy ruộng bông,

Anh đi gặt lúa để chung một nhà.

Đem về phụng dưỡng mẹ cha,

Muôn đời tiếng hiếu, người ta còn truyền.

Em thì đi cấy lấy công,

Để anh nhổ mạ tiền chung một lời.

Đem về cho bác mẹ coi,

Làm con phải hiếu, em ơi nhớ đời.

 

24.Em là con gái vùng trên,

Em đi câu cấy xuống lên nơi này.

Gặp anh khỏe chân khỏe tay,

Cuốc cày đã khéo lại hay lưới chái.

Trẻ con nói đến tác tai,

Thấy đâu nó cũng chê hai vợ chồng.

Em không chân trắng má hồng,

Dám đâu lại ước tơ hồng xe duyên[2]

 

25. Em tiếc con dao bé mà lại sắc thay,

Chuôi sừng bịt bạc về tay ai cầm.

Em trái nhân duyên, em chẳng được cầm,

Để cho người khác được cầm dao loan.

Được như hoa huệ, hoa lan,

Thì em cũng chẳng phàn nàn làm chi.

Được như hoa cúc, hoa quỳ,

Thì em cũng bỏ một thì chơi hoa.

 

26. Em ơi! Em để anh về với,

Khóc làm chi cho uổng công chờ đợi bấy lâu.

Vì nạn quân dịch nên chi phải cạo đầu giả tu.

Nay nước nhà độc lập,

Anh trở lại sống cho vẹn câu ân tình.

Câu ân tình này anh đã vẹn,

Làm trai như anh có gì đáng thẹn với non sông.

Sống thì duyên mặn, tình nồng,

Chết thì trở về với Các-Mác vô cùng thảnh thơi.

 

27. Em còn bé dại thơ ngây,

Thầy mẹ ép uổng những ngày còn thơ.

Bây giờ duyên số chả vừa,

Có thương thì gỡ cho nhau ra cùng.

Em còn mắc míu truy tùng,

Mượn đào lá trúc cắt tròng em ra.

Bao giờ em ra khỏi tròng,

Giả ơn dao trúc, giả lòng người thương.

Bao giờ em ra khỏi chiếu, khỏi giường,

Để thiếp với chàng lòng áo đắp chung.

 

28. Em là con gái đường trong,

Em đi thuyền dưới, mất lòng thuyền trên.

Ba năm ăn ở thuyền trên,

Bởi anh hàng chuối cho nên mặn mà.

Xuống thuyền dịp bảy dịp ba,

Trách anh hàng trứng ở ra đôi lòng.

Đèn khêu đôi ngọn anh khêu ngọn nào,

Muốn tắm mát thì lên ngọn sông sông Đào.

Muốn ăn sim chín thì vào rừng xanh,

Đôi tay vít cả đôi cành,

Quả chín thì hái quả xanh thì đừng,

Ba bốn năm nay ăn ở trên rừng,

Chim kêu vượn hú nửa mừng nửa lo.

Trót sa chân bước xuống đò,

Gieo mình xuống sập nửa lo cùng phiền.

Chợ tỉnh Đông một tháng sáu phiên,[3]

Gặp cô hàng xóm kết nhân duyên vừa rồi.

Cái gánh hàng đây những quế cùng hồi,

Có mẹt bồ kết có nồi phèn chua,

Bó hương thơm xếp để trên bồ,

Trần bì Cam thảo Sài hồ Bàng liêng,

Hàng em đáng giá bao nhiêu tiền,

Để ta xếp vốn ta liền buôn chung.

Buôn chung ta lại bán chung,

Được bao nhiêu lãi ta cùng chia nhau.

 

29. Em chê thuyền ván chẳng đi,

Em đi thuyền thúng có khi rập rềnh,

Có khi đổ ngả đổ nghiêng. 

 

Chữ G 

1. Gọt tóc đi tu.

 

2. Giáo đa thành oán.

 

3. Góp của thập phương.

 

4. Gieo gió gặp bão.

 

5. Giọt nước cành dương.

 

6. Giữ Bụt thì ăn oản.

 

7. Giặc chẳng bắt, bắt thầy tu.

 

8. Giữ như ông thầy giữ ấn.

 

8b. Gươm hai lưỡi, miệng trăm hình.

 

9.   Gió trăng mát mặt muối dưa chay lòng.

 

10. Gái hư ông Sư cũng ghẹo.

 

11. Giết người không dao.[4]

12. Giàu đâu ba họ, khó đâu ba đời.

 

13. Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng.

 

14. Gần chùa chẳng được ăn xôi,

Gần nàng chẳng được sánh đôi cùng nàng.

 

15.  Gió Nam non thổi lòn hang cóc,

Chuyện lộ rồi mới cạo trọc đi tu.

 

16. Gá duyên cha mẹ rằng la,

Choàng tay qua cổ con ba khóc ròng.

 

17. Gá duyên không đặng thì thôi,[5]

Thò tay vô túi rút dao đôi hủy mình.

 

18. Gió Đông là chồng lúa chiêm,

Gió Bắc như nợ với duyên lúa mùa.[6]

 

19. Gập gềnh nước chảy qua đèo,[7]

Ngựa xô xuống bến, thuyền chèo lên non.

 

20. Giữa đàng có cây đa xanh,

Gió đánh một cành tươi vẫn hoài tươi.

 

21. Giếng làng có mạch nước trong,

Có cây đa mát bóng vùng rất xa.

 

22. Gái chưa chồng chơi hang cắc cớ,

Trai chưa vợ tới hội chùa Thầy.

 

23. Giàu trong làng trái duyên không ép,

Khó nước người phải kiếp cũng theo.

 

24. Gió đưa cành trúc la đà,

Tiếng chuông Thiên Mụ canh gà Thọ Xương (Cương).

 

25. Gió đưa cột phướn hao dầu,

Thương em để dạ chớ sầu mà hư.

 

25b. Gánh cực mà đổ lên non

Cong lưng mà chạy cực còn theo sau.

 

26. Gió đưa bụi trúc ngã quì,

Thương cha phải chịu lạy dì, dì ơi.

 

27. Gió mùa thu mẹ ru con ngủ,

Năm canh chầy thức đủ năm canh.

 

28. Giặc đi thì giặc lại về,

Đến cầu Bồ Đề thì giặc phải lui.

 

29. Gần chừa phong cảnh mọi đàng (đường),

Ở gần thợ nhuộm vẻ vang mọi màu.

 

30. Gần chùa gọi Bụt bằng anh,[8]

Trông thấy Bụt lành hạ xuống đất chơi.

 

31. Gươm vàng rơi xuống hồ Tây,

Công cha cũng trọng nghĩa thầy cũng sâu.

 

32. Giời mưa ướt áo nâu sòng,

Công em đi cấy quăng đồng đồng xa.

Mùa này giời giúp cho ta,

Mùa này lúa tốt bằng ba mọi mùa.

 

33. Gió đưa cây cửa lý hương,

Từ xa cha mẹ thất thường bữa ăn.

Sầu riêng cơm chẳng muốn ăn.

Đã bưng lấy bát lại dằn xuống mâm.

 

34. Gặp lúc trăng thanh gió mát,

Thú nào vui bằng thú hát huê tình,

Này bạn mình ơi!

Trời xui hội ngộ hai đứa mình kết duyên.

 

35. Gió đẩy đưa phơ phất ngọn cờ,

Anh đây lỡ vận lại chờ duyên em.

Kèm thơ nước mắt nhỏ len,

Tương tư sầu muộn vì em có chồng.

 

36. Gió Nam thổi mạnh phòng hương,

Bữa nay mới biết tình thương của nàng.

Dạo chơi cho biết đủ đàng,

Họa may có gặp bạn vàng gá duyên.

 

37. Gió đưa gió đẩy về rẫy ăn còng,

Về sông ăn cá, về đồng ăn cua.

Thấy anh đi sớm về trưa,

Qua muốn lên chùa xem nhạn, nghe kinh.

 

38. Già thì bế cháu bồng con,

Già đâu lại ước cau non trái mùa.

Già thì lễ Phật đi chùa,

Cau non trái mùa ai cũng muốn ăn.

 

39. Gái liệt nữ gái đâu hai dạ,

Đấng thuyền quyên đâu dám hai lòng,

Nợ duyên em giữ trọn khỏi người cười chê.

 

40. Gió đập cành đa,[9]

Gió đánh cành đa,

Thầy nghĩ là ma[10]

Thầy vùng thầy chạy,

Ba thằng ba gậy,

Đi đón thầy về.

 

41. Gió bay trên lúa, nắng bay trên cờ,

Lũy tre vẫn hiện mái chùa,

Ấm tay đại thọ mát bồ quê hương.

Tóc cà hoa bởi trắng,

Hồn ướp nhị sen vàng,

Đời đời cô gái Việt Nam,

Trăng lên ngôi vị nữ hoàng tình yêu.

 

42. Gái em chưa chồng phong loan đóng chặt,

Gái em ở chi lớn tuổi không chồng,

Lỡ mai sau ốm yếu, nhức đầu nóng lạnh.

Phụ mẫu dâng cơm vào nước,

Thác xuống Diêm đình tổn phước biết bao nhiêu.

 

43. Gà tơ xào vớ mướp già,

Vợ hai mươi mốt, chồng đà sáu mươi.

Ra đường chị giễu em cười,

Rằng hai ông cháu kết đôi vợ chồng.

Đêm nằm tưởng gái gối bông,

Giật mình gối phải râu chồng nằm bên.

Sụt sùi tủi phận hờn duyên,

Oán cha, trách mẹ tham tiền bán con.

 

44. Giữa năm Đinh dậu mới rồi,

Sư ông chùa Lãng là người đảm đang.

Viết tờ quyên giáo các làng,

Lãng Đông, Năng Nhượng chuyển sang trực tầm.

Chiều hôm còn ở Đồng Sâm,

Rạng mai Đắc chúng, tối tầm Dọ Dương.

Cùng với nghĩa sĩ bốn phương,

Phất cờ Thần tướng mở đường Thiên binh.

Phá dinh công sứ Thái bình,

Sa cơ ông đã bỏ mình vì dân

 

45. Gần xa nô nức tưng bừng,

Vào chùa quan Thượng xem bằng động tiên.

Lầu chuông gác tía đôi bên,

Trông ra chợ Mới Trường Tiền kinh đô.

Khen ai khéo vẽ họa đồ,

Trước sông Nhị Thủy, sau hồ Hoàn Gươm.

Phong quan cảnh trí trăm đường,

Trong mây chín giếng ngoài tường lục lăng.

Rõ mười cửa động tần ngần,

Đền vàng nhà ngọc chất bằng như nêm.

Đức Từ phơi tỏ màu sen,

Thập phương chư Phật ngồi trên đủ mười.

Qua xem Tam bảo xong rồi,

Hành lang nhà hậu các nơi rõ ràng.

Kẻ thanh lịch, khách quyền sang,

Vào chùa lễ bái mọi đường vui xem.

Ai ai mộ cảnh vui thiền,

Lòng trần rủ sạch nhơn nhơn ra về.

Bước lên hòn đá xanh rì,

Nhìn xem phong cảnh chẳng muốn về nữa đâu.

 

46. Gió đưa nước nước sao vời vợi,

Gió đưa mây, mây hởi mịt mù,

Anh với em duyên nợ sầm sờ,

Em còn thủ tiết mà chờ đợi ai?

 

47. Gương thề nở để bụi hòa,

Sông có Nhị hà, núi có Tản viên.

Thề kia ai nở lở duyên,

Trăng còn soi mãi vùng sen Tây Hồ.

 

 

 

 

Chữ H

 

1. Hằng hà sa số.

 

2. Hiền như Bụt.

 

3. Hộ phúc vô môn.

 

3b. Hà tiện cùng Bụt, thí phát cùng ma.

 

4. Hại nhân nhân hại.

 

5. Hoa đàm đuốc tuệ.

 

6. Họa phúc khôn lường.

 

7. Hữu hình hữu hoại.

 

8. Hữu cầu tất ứng.

 

9. Hữu phước hữu phần.

 

10.  Hương tàn khói lạnh.

 

11.  Hộ pháp cắn trắc.

 

12.  Hữu thân hữu khổ.

 

13.  Hỏi Sư mượn lược.

 

14.  Hộ pháp ăn tép.

 

15.  Hết hương còn khói.

 

16.  Hữu xạ tự nhiên hương.

 

17.  Hộ pháp nào ăn tép.

 

18.  Hết chay Thầy đi đất.

 

19.  Hương Bụt thắp thờ Bụt.

 

20.  Hòn đất nặn nên ông Bụt.

 

21.  Hà tiện cùng Bụt thí pháp cùng ma.

 

22.  Họa vô đơn chí phước bất trùng lai.

 

23.  Hàm huyết phún nhơn tiên ô tự khẩu.

 

24.  Hương năng thắp năng khói, người năng nói năng lỗi.

 

25.  Hết duyên hồ dễ tìm duyên.

 

26.  Hội chùa Thầy có hang cắc cớ,

Trai chưa vợ thì nhớ hội chùa Thầy.

 

27. Hôm nay mười bốn trăng rằm

Ai muốn ăn oản lên nằm với Sư.

 

28. Hộ pháp thì bán ba quan,

Long thần chín rưỡi, Thích Ca ba tiền.

 

29. Hương trầm thoảng vị gió đưa,

Mây trương cánh hạt nghìn xưa chập chờn.

 

30. Hoài ơi nói kẻ vô tri,

Một trăn gánh chì đúc chẳng nên chuông.

 

31. Hay ăn hay ngủ là tiên,

Hay bùa hay ngãi là duyên nợ nần.

 

32. Hoa sen lai láng giữa hồ,

Giơ tay ra bẻ sợ chùa có Sư

.

33. Hữu tật thì vái tứ phương,

Vô tật thì một đồng lương chả mất[11]

34. Hữu sự thì vái tứ phương,

Vô sự thì một nén hương không mất.[12]

35. Hồn rằng hồn thác ban ngày,

Hồng thương cha nhớ mẹ hồn này thác đêm.

 

36. Hữu hằng tâm vô hằng tâm.

Hữu hằng sản vô hằng tâm.

 

37. Hỡi cô đội nón ba tầm,

Hữu duyên hay đã cầm nhầm duyên ai.

 

38. Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ,

Vô duyên đối diện bất tương phùng

Thuyền quyên nỡ phụ anh hùng sao nên.

 

39. Hai đầu mình đành,

Phụ mẫu cũng đành,

Phụ mẫu đâu nỡ dứt duyên lành của con.

 

40. Hỡi ơi chú tiểu trên chùa,

Chú tu sao chú bỏ bùa cho tôi.

Cả ngày thơ thẩn bồi hồi,

Không nên trong dạ đứng ngồi sao đây?[13]

41. Hoa sen mọc bãi cát lầm,

Tuy rằng lấm láp cũng mầm hoa sen.

Thài lài mọc cạnh bờ sông,

Tuy rằng xanh tốt vẫn tông thài lài.

 

42. Hiến thân dâng ánh lửa thiêng,

Báo ân Tam Bảo, xây nền tự do,

Quyết đem xương máu điểm tô,

Đạo vàng dân tộc bóng cờ Việt Nam.[14]

43. Hồ tĩnh tâm giàu sen bạch diệp,

Đất Hương cần ngọt quit, thơm canh.

Ai về cầu ngói Thanh toàn,  

Đợi đây về với một đoàn cho vui.

 

44. Hiền thần phải trạch quân nhi sự,

Dương cầm còn trạch mộc nhi thê.

Em tuy phận gái vụng về,

Căn duyên này dẫu lỡ em chẳng hề biết lo.

 

45. Hữu tình nên mới xuống đây,

Hữu duyên nên mới chung dây chung sào.

Nên chăng tay bắt miệng chào,

Cho giăng thêm tỏ sai vào trong khoang.

 

46. Hồng nhan anh chín em mười,

Đôi ta gặp phận ông giời xe duyên.

Sắm sanh lễ vật quí quyên,

Anh mời nhà nước cưới em phen này.

 

47. Hỡi cô mà thắt bao xanh,

Có về kinh kệ với anh thì về.

Kinh kệ có cây Bồ-đề,

Có giếng tắm mát, có nghề ăn chơi.[15]

48. Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ

Vô duyên đối diện bất tương phùng

Anh có thương em thì kết duyên cùng

Anh đừng thương vội nửa chừng bỏ em.

 

49. Hò ơi!

Con cá tróc vi hiềm vì nước chảy,

Cần câu gãy vì bởi bụi hóp cong.

Bởi vì anh mượn người mai chước chưa xong,

Khiến xui nên duyên trắc trở.

Hò ơi!

Xuôi tấm lòng em khó nguôi.

 

50. Hỡi cô cắt cỏ bên đàng,

Có muốn ăn nhãn lồng thì lại sang đây.

Sang đây anh nắm cổ tay,

Hỏi rằng duyên ấy tình này làm sao.

Cái gì là mận là đào,

Cái gì là nghĩa tương giao hỡi nàng?

 

51. Hai đứa mình mà đặng gần kề,

Trăm năm một dạ nguyền thề không xa.

Nhìn chàng dòng lệ nhỏ sa,

Xa mình cũng bởi mẹ cha la rầy.

Ngày nào chồng vợ xum vầy,

Vì ai xui khiến nổi này trời ơi!

 

52. Hạc thời đối hổ, hạc đổ nhành mai,

Hèn lâu gái mới gặp trai,

Chàng mà gặp thiệp như bài liền pho.

Anh thương em,

Núi chảy thành tro,biển cạn thành gò.

Sông sâu chín  lạch sao đò còn đưa?

Vái trời chồng cũ vợ xưa,

Kết duyên phu phụ nắng mưa có trời.

 

53. Hôm qua tát nước đầu đình,

Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen.

Em được thì cho anh xin,

Hay là em để làm tin trong nhà.

Áo anh sứt chỉ đường tà,

Vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâu.

Áo anh sứt chỉ đã lâu,

Mai mượn cô ấy vào khâu cho cùng.

Khâu rồi anh sẽ trả công,

Mai mốt lấy chồng anh sẽ giúp cho.

Giúp em một thúng xôi vò,

Một con lợn béo một vò rượu tăm.

Giúp em đôi chiếu em nằm,

Đôi chăn em đắp, đôi tằm em đeo.

Giúp em quan tám tiền cheo,

Quan năm tiền cưới lại đèo buồng cau.

 

54. Hồn ếch ta đã về đây,

Mãi năm khô hạn ta nay ở bờ.

Ở bở những hộc cùng hang,

Tay thì cái giỏ tay thì cần câu.

Nó có chiếc nón đội đầu,

Khăn vuông chit tóc ra mầu xinh xinh.

Nó có cái quạt cầm tay,

Nó có ống nứa bỏ đầy cóc con.

Nó có chiếc cán thon thon,

Nó có sợi chỉ thon thon mà dài.

Ếch tôi mới ngồi bờ khoai,

Nó giật một cái đã sai quai hàm.

Mẹ ơi! lấy thuốc cho con,

Lấy những lá ớt cùng là xương sông.

Ếch tôi ở tận hang cùng,

Bên hè rau muống phía trong bờ dừa.

Thằng măng là con chú tre,

Nó bắt tôi về làm tội lột da,

Thằng hành cho chí thằng hoa,

Mắm muối cho vào cay hỡi đắng cay.[16]


 

[1] Phủ từ Sơn, Bắc Ninh, Hà Bắc

[2] Tục ngữ ca dao dân ca V.N: Em là con gái Tổng trên. Em đi bát cáy xuống lên ngõ này

[3] Chợ Hàng Dầu

[4] Chỉ tâm

[5] Chỉ tâm

[6] Gió Bắc là duyên lúa mùa

[7] Gập gềnh nước chảy qua đèo

Ngựa đua dưới nước thuyền chèo lên non.

[8] Gần chùa gọi Bụt bằng anh

Thấy Bụt hiền lành bế Bụt đi chơi.

[9] Có nơi còn gọi đa là giống Bồ đề Việt Nam

[10] Chỉ Thầy Pháp

[11] Có nơi viết: Hữu tật thì bái tứ phương, Vô tật đồng lương không mất

[12] Có nơi viết: hữu sự thì vái tứ phương, vô sự thì nén hương không mất

[13] Có bản hai câu sau không có.

[14] Phật tử Đào Thị Yến Phi tự thiêu ngày 26-1-65 lúc 10g30’ chống chế độ Thiệu.

[15] Kinh kệ: 1 làng thuộc tỉnh Phú Thọ

[16] Bài này là bài phụ đồng Ếch, thường hát để vui chơi, nhưng nội dung phản ánh đời sống cơ cực của người dân V.N thời phong kiến.

 

---o0o---

 

Mục Lục |Chương một  A, Ă, Â|B|C| D, Đ|E, G, H|

I, K, L| M|N|O, Ô, Ơ, P, Q|R, S|T| U, Ư, V, X, Y

| Chương hai  |

---o0o---

Vi tính: Đông Phương. Trình bày: Nhị Tường

Cập nhật: 1-09-2005


Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về Thư Mục Thơ Văn

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp cho Trang Nhà qua địa chỉ: quangduc@tpg.com.au
Địa chỉ gởi thư: Tu Viện Quảng Đức, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic. 3060. Tel: 61. 03. 9357 3544