Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Thơ Văn Phật Giáo


......... .

 

 

Ca Dao Tục Ngữ Phật Giáo Việt Nam

Lệ Như Thích Trung Hậu sưu tập

---o0o---

Chương một

NỘI DUNG

 

CA DAO TỤC NGỮ PHẬT GIÁO

 

Chữ N

 

1. Ngồi từ bi.

 

2. Nát đởm kinh hồn.

 

3. Năng nói năng lỗi.

 

4. Nhân tâm bất trắc.

 

5. Nhân tâm tùy thích.

 

6. Nhất tội nhì nợ.

 

7. Nỗi oan thị Kính.

 

8. Nằm sương gối lá.

 

9. Nịnh thần ôm váy.

 

10. Nói thánh nói thần.

 

11. Nát như tương đâm.

 

12. Nhơn duyên tiền định.

 

13. Nói ngay hay trái tai.

 

14. Nói lành sanh ra dữ.

 

15. Nhờ Thầy Tăng ăn trộm.

 

15b.Nhè Thầy Tăng ăn trộm.

 

16. Nhờ Thầy chùa mượn lược.

 

16.b.Nhè Thầy tu mượn lược.

 

17. Ngồi la liệt như La-hán.

 

18. Ngồi như Bụt mọc

 

19. Nhà rách Phật vàng.

 

20. Nói năng như chánh pháp.

 

20b.Nói chua sinh chua tử.

 

21. Nhân lão tâm bất lão.

 

22. Nhờ ông vãi húp nước xúp.

 

22b. Người như hoa ở đâu thơm đó.

 

23. No nên Bụt, đói ra ma.

 

24. Nhiều làm phúc, ít là duyên.

 

25. Người thì xông khói, lỗi nói thì xông hương.

 

26. Nói gần nói xa chẳng qua nói thiệt.

 

27. Nhất duyên thì phận tam phong thổ.

 

28. Nhiều Sãi không ai đóng cửa chùa.

 

29. Nhất tội nhất xá, vạn tội vạn xá.

 

30. Người hay mắc nạn, đứa gian vui cười.

 

31. Nhơn nào quả ấy mấy máy không sai.

 

32. Nhiều Thầy thúi Ma, nhiều cha con khó lấy chồng.

 

33. Nhà giàu cậy lúa chẳng hay làm lành.

 

34. Ngậm máu phun người máu dơ mình trước.

 

35. Nguyện kết cỏ ngậm vành đền ơn trời Phật .[1]

36. Nhanh nhẩu đoản thật thà hư.

 

37. Nhất sự thuận vạn sự thành.

 

38. Năm giờ, đồng hồ gõ, mặt trời lui.

Chim kêu, trống chùa đánh, chắc là tui xa mình.

 

39. Nấu chè van vái Phật bà,

Khiến choc hung hiệp một nhà phụng loan.

 

40. Ngó lên am tự chùa vang,

Tu thời đặng đó bỏ nàng ai muôi?

 

41. Ngồi buồn giả chước đi câu,

Cá ăn không giựt, mang sầu căn duyên.

 

42. Nghiêng tai hỏi nhỏ Phật đồng,

Trai tơ lấy gái có chồng đặng không?

 

43. Nhạn cắn thơ bay về bãi bến,[2]

Anh với nàng đã bén căn duyên.

 

44. Nhớ cha lòng quặn ruột đau,

Khắp trong thế giới biết đâu mà tìm.

 

45. Nhớ ngày xá tội vong nhân,

Lên chùa lạy Phật đền ơn sinh thành.

 

46. Niệm Phật ba vạn sáu ngàn,

Cầu cho cha mẹ đài vàng thảnh thơi.

 

47. Nhìn mẹ thật kỹ thật lâu,

Thân mẹ là cả một bầu kim cương.

 

48. Nhìn mẹ thật kỹ thật lâu,

Thân mẹ là cả một bầu trăng sao.

 

49. Ngày rằm xá tội vong nhân,

Lòng con lại nhớ song thân dạ đài.

 

50. Nực cười Thầy bói soi gương,

Thầy tu chải chấy, cá mương hóa rồng.

 

51. Nhớ ơn cha mẹ khôn nguôi,

Dốc lòng niệm Phật cho nguôi nổi sầu.

 

52. Nay con thân nghiệp nhẹ nhàng,

Nhớ ơn cha mẹ lại càng tu thân.

 

53. Nhờ mẹ mà con biết tu,

Nhờ cha con biết đi chùa tụng kinh.

 

54. Nghe chuông Hải Đức ngân nga,

Chạnh lòng nhớ đức mẹ cha cao dày.

 

55. Niệm Phật con nguyện để dành,

Mai sau mẹ thác được sanh Liên trì.

 

56. Nghe lời em nói thanh thanh,

Như chuông mới đúc, như thành mới xây.

 

57. Người xấu duyên lặng vào trong,

Bao nhiêu người đẹp duyên bay ra ngoài.

 

58. Nước trong nước chảy quanh chùa,

Không yêu ta cũng bỏ bùa cho yêu.

 

59. Ngó lên đám bắp trổ cờ

Chuối kia đúng vóc anh chờ duyên em.

 

60. Nam-mô chuỗi hạt kim cương,

Lần mãi lần hoài mà không thấy sang.

61. Ngày xuân liệu liệu có dài?

Chơi chùa tiên kẻo một mai nữa già.

 

62. Nói thương mà chẳng thấy thương,

Gần chùa thấy những mùi hương ngát lừng.

 

63. Nhớ lời giao hẹn khi chiều,

Dầu sương sa, chớp rạch cũng liều mà đi.

 

64. Nghĩ sao mà lại buông rơi,

Thắp hương mà lạy Phật trời định phân.

 

65. Nghiêng vai ngữa vái Phật trời,

Đương cơn hoạn nạn độ người trầm luân.

 

66.Ngắt bông sen còn vương tơ óng,

Cắt dây tình nào có dao đâu.

 

67. Nam mô cóc chết bỏ nhái mồ côi,

Nhái ngồi nhái khóc chàng ơi hỡi chàng.

 

68. Nam mô đức Phật Di Đà,

Đổ mật vào nồi chửa sôi đã nếm.

 

69. Nam mô Bồ Tát bồ hòn

Ông sư bà vãi quận tròn với nhau.

 

70. Ngoài miệng thì nói Nam mô,

Trong bụng thì chứa một bồ dao găm.

 

71. Nam mô Đại từ Đại bi,

Tháo cần bỏ đi lấy liền cái lưỡi.

 

72. Nắng chiều lai láng trên thành,

Hồ sen khẻ động dạ lành nên hương.

 

73. Nhác trông ngỡ tượng tô vàng

Nhìn lâu mới biết chẫu chàng trời mưa.

 

73b. Nhác trông ngỡ tượng tô vàng,

Nhìn xa mới tỏ chân chàng ngày xưa.

 

74. Năm voi anh đúc năm chuông,

Năm cô anh đóng năm giường bình phong.

 

75. Nhất vui là hội chùa Thầy,

Vui thầy vui vậy, chẳng tầy vui em.

 

76. Ngó lên nuột lạt mái nhà,

Bao nhiêu nuột lạt thương bà bấy nhiêu.

 

77. Ngó lên nhan tắt đèn thờ,

Chùa không lạnh ngắt bàn thờ lạnh tanh.

 

78. Ngó lên hòn kẽm đá đừng,

Thương cha nhớ mẹ quá chừng ruột đau.

 

79. Ngó lên ngó xuống thì vui,

Ngó về quê mẹ ngùi ngùi nhớ thương.

 

80. Ngó qua chùa lớn làm chay,

Thỉnh ông Tiêu Diệu, thỉnh bà Quan Âm,

 

81. Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa,

Miệng nhai cơm búng lưỡi lừa cá xương.

 

82. Ngồi buồn nhớ nước nhớ nhà,

Nhớ anh đi lính bỏ mẹ già ai nuôi.

 

83. Nam mô đức Phật Quan Âm,

Ra tay cứu độ trầm luân mọi loài.

 

84. Nam mô đức Phật Quan Âm,

Bao nhiêu vãi mầm thì lấy tiểu tôi.

 

85. Nam mô một bồ lấy bốn,

Đến lúc nguy khốn lại cầu Nam mô.

 

86. Nam mô một bồ lấy bốn,

Người ta đã khốn lại còn nam mô.

 

87. Nam mô đức Phật di đà,

Cái cuốc để đó, cả nhà đi đâu.

 

88. Nực cười thầy bói soi gương,

Thầy tu chải lược, người thương bực mình.

 

89. Ngày rằm trăng tỏ trăng tròn,

Ba mươi mồng một trăng lòn đám mây.

 

90. Ngày rằm trăng tỏ trăng tròn,

Ba mươi mồng một anh còn ăn chay.

 

91. Ngày rằm trăng tỏ trăng tròn.

Trăng vào điện Phật trăng lồng khua chuông.

 

92. Người đời như giấc mộng tàn,

Vào sanh ra tử hiệp sanh khó lường.

 

93. Người đời khác nữa là hoa,

Sống cho xứng phận, chết dành tiếng thơm.

 

94. Người đời hữu tử hữu sinh,

Sống cho xứng phận, chết dành tiếng thơm.

 

95. Người thanh nói tiếng cũng thanh,

Chuông kêu sẽ đánh bên thành cũng kêu.

 

96. Người đời khác thể phù du,

Sớm còn tối mất công phu lỡ làng.

 

97. Người gian thì sợ người ngay

Người ngay chẳng sợ đường cày khúc khiu

 

98. Nhất thanh thì núi Tản Viên,

Nhất thanh nhất sắc là tiên trên đời.[3]

 

99.Nợ dương trần trả lần không hết

Tôi xa mình chắc chết vì đau.

 

100. Ngó lên nhang tắt đèn mờ

Mẫu thân mất sớm, bàn thờ quạnh hiu.

 

101. Người trồng cây hạnh người chơi,

Ta trồng cây đức để đời về sau.

 

102. Người trồng cây hạnh người chơi,

Ta trồng cây đức để đời cho con.

 

103. Nhất cao là núi Tản Viên,

Bình yên vô sự cửa Thiền trong tâm.

 

104. Nửa đêm ra đứng giữa trời,

Cầm tờ giấy trắng nhớ lời mẹ răn.

 

105. Nước sao nước chảy tràn đồng,

Nợ duyên còn đó chỉ hồng chưa xe.

 

106. Người khôn tâm tính tại lòng,

Lọ là uống nước giữa dòng mới khôn.

 

107. Nuôi con mới biết sự tình,

Thảm thương cha mẹ nuôi mình ngày xưa.

 

108. Nhớ ngày mồng bảy tháng ba,

Trở vào hội Láng, trở ra hội Thầy.

 

109. Nụ cười như thể hoa ngâu,

Cái khăn đội đầu như thể hoa sen.

 

110. No thì ra Bụt đói ra ma,

Chẳng lạ nhân tình đất kẻ ta.

 

111. Nhất niệm Phật tại tiền,

Nhì niệm Phật tại thiên,

Tam niên bất kiến Phật .

 

111b. Nguyễn ra thì nguyễn lại về,

Giặc đến Bồ đề thì giặc lại tan.

Đầu cha lấy làm chân con

Mười bốn trăng tròn biết số thì thôi.

 

112. Ngày nào em bé cỏn con,

Bây giờ em đã lớn không thế này.

Cơm cha áo mẹ công Thầy,

Nghĩ sao cho bỏ những ngày ước ao.

 

113. Ngó ra ngoài biển mù mù,

Thấy ba ông Phật che dù nấu cơm.

Một ông xách nón đòi đơm

Hai ông ví lại nồi cơm chưa vần.[4]

 

114. Núi Ngự Bình trước tròn sau méo,[5]

Sông An Cựu nắng đục mưa trong,

Trách ai một dạ hai lòng,

Nợ duyên chẳng khiến, má hồng bỏ phai.

 

115. Ngồi buồn nghĩ đến hình dong,

Con dao lá trúc cắt lòng đôi ta,

Duyên đôi ta thề nguyền từ trước,

Biết bao giờ ta được cùng nhau.

 

116. Nhông nhông ngựa ông đã về,

Cắt cỏ Bồ đề cho ngựa ông ăn.

Mày ăn tao ăn,

Ông không có ngựa ông đã có bò.

 

117. Những người mặt trắng phau phau,

Bởi chưng kiếp trước hay lau đĩa đèn.

Những người mặt mũi lọ lem.

Bởi chưng kiếp trước đĩa đèn không lau.

 

118. Người đời ngay thật là khôn,

Gian tham ghen lận sao còn được hay.

Mưu thâm chất nặng chứa đầy,

Nhà đều ăn cả tội mang một mình.

 

119. Nam mô Quán thế âm Bồ tát,

Ai đi xớn xác bỏ quên cái rùi.

Nam mô một bồ kim cang,

Giây nó kình càng làm sao cho được.

 

120. Người ta thích lấy nhiều chồng,

Tôi đây chỉ thích một ông thật bền.

Thật bền như tượng đồng đen,

Trăm năm quyết với cùng em một lòng.

 

121. Người ta đi giáo tiền giáo gạo,

Tiểu tôi đi giáo áo giáo nồi

Nhà nào công đức thì thôi,

Nhà nào đi vắng tiểu tôi giáo bò.

 

121b. (câu đố)

Ngày thường nhờ đó làm duyên,

Đến khi bận việc lại phiền cho ta.

Chi bằng những kẻ xuất gia,

Tơ tình dứt sạch thoát ra bể trần (Tóc).

 

122. Nỗi tình chưa tỏ cho ai,

Khối tình mang xuống tuyền đài chưa tan.

Dẫu xây chín bậc phù đồ,

Không bằng làm phúc cứu cho một người.

 

123. Nước giữa sông cũng có khi trong khi đục,

Mây trên trời cũng có lúc trắng lúc xanh.

Cây kia cũng có lúc gãy cánh lìa cành.

Anh đi theo con đường chuông mõ cam đành cô đơn.

 

124. Ngó lên trời sao giăng tứ diện,

Ngó ra ngoài biển chim liệng cá đua.

Em thề với anh hết miễu qua chùa,

Ai cho em uống thuốc bùa em mê.

 

125. Ngủn ngởn như con thuyền chài,

Áo ngắn mặc ngoài áo dài mặc trong.

Người gian thì sợ người ngay,

Người ngay chẳng sợ đường cày khúc khiu.

 

126. Nuôi con chẳng dạy chẳng răn,

Thà nuôi con chó nó canh giữ nhà.

Con hư là tại mẹ cha,

Cháu hư là tại cả bà lẫn ông.

 

127. Nhà giàu trồng cau ra mía,

Nhà khó trồng củ tía ra củ nâu.

Số giàu đem đến dửng dưng,

Lọ là con mắt tráo trưng mới giàu.

 

128. Nuôi con những tưởng về sau,

Trao duyên phải lứa gieo cầu phải nơi.

Mực đen vô giấy khó chùi,

Chồng chồng vợ vợ nợ đời trăm năm.

 

129. Nước trong veo bao giờ có cá,

Nàng lỡ thời tại má tại cha.

Kén sui kén rễ lọc lừa..

Nên em hiu quạnh cũng vừa phấn duyên.

 

130. Nên duyên như lá tìm cành,

Như chim tìm tổ, như anh tìm nàng.

Đừng vì xà tích khuyên vàng,

Nghe lời mụ mối mà mang dạ sầu.

 

131.Ngọn cỏ phất phơ, ngọn cờ phơ phất

Nồi đồng sôi nồi đất cũng sôi

Anh với em duyên nợ hết rồi

Để cho người khác đứng ngồi với em

 

132. Nguyện cho tôi được tâm không,

Độ cho cha mẹ thoát vòng tử sanh.

Nguyện cho tôi được tâm khai,

Thuyết cho cha mẹ vui hoài pháp âm.

Nguyện cho tôi được biện tài,

Thuyết cho cha mẹ vui hoài vẫn vui.

 

133. Nhớ lời phụ thân khôn ngăn nước mắt,

Tiếc hồn cha phương Bắc phương Nam.

Mỗi năm đến lễ Vu Lan,

Cầu cho thân phụ Lạc bang được về.

 

134. Nhớ song thân như dần tấc dạ,

Lên Phật tiền bái tạ chư Tăng.

Nhân ngày Xá tội vong nhân,

Cầu cho cha mẹ tinh thần thảnh thơi.

 

135. Ngó lên mây trắng trời hồng,

Trai chưa có vợ ghẹo gái có chồng đặng không?

Ông Phật đồng ổng nói rằng không,

Trai chưa có vợ chọc gái có chồng mang gông.

 

136. Nghĩ tơ duyên quá dở,

Giận căn nợ bời bời.

Đau lòng qua lắm em ơi,

Xui chi gặp gỡ chẳng trọn đời với nhau.

 

137. Nắm tóc nhôi tóc nhôi dài,

Nắm tóc mai tóc mai cụt,

Cầu trời khấn Bụt cho tóc mai dài.

Bao giờ cho chấm ngang vai,

Thì ta kết nghĩa thành hai vợ chồng.

 

138. Nước dưới sông lững lờ,

Mây gió đưa dật dờ,

Tơ duyên đã buộc sờ sờ,

Qua đây bậu đó còn chờ đâu xa.

 

139. Ngó lên trời thấy trời cao,

Ngó xuống đất thấy đất thấp,

Anh đến tam cấp lập cửa trùng đài,

Thời hư thời khiến,

Anh lập hoài cũng phải nên.

 

140. Nhớ ai em cũng khóc thầm

Hai hàng nước mắt đầm đìa như mưa

Nhớ ai ngơ ngẩn ngẩn ngơ

Nhớ ai ai nhớ bây giờ nhớ ai

Nhớ ai bổi hổi bồi hồi

Như đúng đống lửa, như ngồi đống than.

 

141. Ngó lên trời thấy cặp chim đang đá,

Ngó ra biển thấy cặp cá đang đua.

Biểu em về lập miểu thờ vua,

Lập trang thờ mẹ lập chùa thờ cha.

Anh về bán gốc cây đa,

Bán cặp trâu già mới đặng cưới em.

 

142. Nghĩ con cá lý ngư nó cũng như thân thiếp

Chờ cho mãn kiếp tu được hóa rồng

Thôi, anh đừng mong vợ mong chồng

Để cho thiếp xa lánh bụi hồng gió trăng.

 

143. Nhớ lời nguyện ước ba sinh,

Xa xôi ai có biết tình chăng ôi.

Khi về nhắn liễu chương đài,

Nhành xuân đã bẻ cho ai một nhành,

Có yêu anh thì nhớ bẻ quách cho anh.

 

144. Nhất diệp phù bình qui đại hải,

Nhân sinh hà xứ bất tương phùng.

Ngó lên ngọn tháp bảy tầng,

Một đêm em dậy mấy lần nghe chuông.

Nghe chuông Thiên Mụ thì buồn,

Trông về thành nội khói tuôn lại sầu.

 

145. Ngó lên trời thấy cặp cu đương đá,

Ngó ra ngoài bể thấy cặp cá đương đua.

Ai về lập Miếu thờ vua,

Lập trang thờ mẹ, lập chùa thờ cha.

Ơn cha nặng lắm ai ơi,

Nghĩa mẹ bằng trời chín tháng cưa mang.

 

146. Một nhà có bốn chị em,

Có tôi là út, tôi thèm đi chơi.

Cả gan may túi đựng trời,

Đem nong sảy đá, giết voi xem ngà.

Ngồi buồn đem thước đi đo,

Đo hết núi sở, đo sang chùa Thầy.

 

147. Nuôi con chẳng dạy chẳng răn,

Thà nuôi con chó nó canh giữ nhà.

Con hư tại mẹ tại cha,

Cháu hư thì tại cả bà lẫn ông.

Con hư là bởi cha dong,

Vợ hư là bởi thằng chồng cả nghe.

 

148. Ngựa ô anh thắng kiệu vàng,

Anh tra khớp bạc,

Lục lạc đồng đen,

Búp sen lá rậm,

Dây cương đầm thắm,

Cán roi bịt đồng,

Anh đưa nàng về dinh…

 

149. Nam mô Bồ-Tát,

Chẻ lạc đứt tay,

Đi cày trâu húc,

Đi súc phải cọc,

Đi học thầy đánh,

Đi gánh đau vai,

Nằm dài nhịn đói.

 

150. Nam mô một bồ dao găm

Một trăm giáo mác,

Một vác dao bầu,

Một xâu thịt chó,

Một lọ mắm tôm,

Một ôm rau hung,

Một thúng rau răm.

 

151. Ngồi buồn trách lẫn ông xanh,

Khi vui muốn khóc, buồn tênh lại cười.

Kiếp sau xinh chớ làm người,

Làm cây thông đứng giữa trời mà reo.

Giữa trời vách đá cheo leo,

Ai mà trèo đặng thì trèo với thông.[6].

 

152. Ngồi buồn may túi đựng trời,

Đan xề xẩy đá, giết voi xem giò.

Ngồi buồn đem thước đi đo,

Đo từ núi Sở núi So chùa Thầy.

Lên trời đo gió đo mây,

Xuống sông đo nước về đây đo người.

Đo từ mười tám đôi mươi,

Đo được một người vừa đẹp vừa xinh.

 

153. Nước ta mấy đống núi cao?

Tản viên cao độ chừng bao, hỡi chàng.

Nước ta mấy khúc sông trường?

Nhị Hà trường được độ chừng mấy mươi.

Đường trong cho chí đường ngoài,

Cửa rừng ghềnh hiểm mấy nơi bến thuyền.

Sông nào đệ nhất Nam Thiên,

Chùa nào lập chốn cô Tiên đó mà?[7]

 

154. Nhớ xưa nợ trả ba đời,

Chiều ba mươi tết mẹ ngồi nhìn con.

Gánh cực mà đổ lên non,

Còng lưng mà chạy, cực còn chạy theo.

Chừ đây hết cực hết nghèo,

Vui theo ra ruộng nhàn theo về nhà.

 

155. Nhà tôi có dãy vườn hoa,

Có ba dãy nhãn, có ba dãy dừa.

Dù anh đi sớm về trưa,

Sao anh chẳng nghỉ dãy dừa nhà tôi.

Sao anh chẳng đứng chẳng ngồi,

Hay là anh phải duyên ai anh buồn,

Còn tiền lấy vợ anh buồn làm chi.

 

156. Này bạn ơi con cò trắng lượn quanh đám cấy,

Bước đến đây sao thấy dạ bồi hồi,

Chẳng duyên chẳng nợ thì thôi,

Phải duyên phải nợ em đáp lời cùng anh.

Này anh ơi! Duyên đâu run rủi giữa đàng,

Nếu phải như ba sinh tiền định thiếp mời chàng ghé đây.

 

157. Nam mô đại tướng Thuyền Quang,

Mũ ni, tích trượng, phướn, phan[8]thay cờ,

Bình Tây kiến lập vệ, cơ[9]

Nghĩa quân khắp chốn đi về sớm hôm.

Chùa làm kho súng bên đồn,

Lãng sa[10]bạt vía kinh hồn Thuyền Quang.[11]

Nam mô đại đế Át Nam[12]

Hộ trì đại tướng Thuyền Quang công thành.

 

158. Nú na nú núng,

Cái bống nằm trong,

Con ong nằm ngoài,

Củ khoai chấm mật,

Phật ngồi Phật khóc,

Con cóc nhảy ra,

Con gà ú ụ,

Nhà mụ thổi xôi,

Nhà tôi nấu chè,

Tè he công rụt,

Xỉa cá mè đè cá chép,

Chân nào đẹp thì đi buôn men,

Chân nào đen ở nhà làm chó.

 

159. Ngó lên giộc một chùa Lầu,[13]

Cảm thương người bạn buổi đầu thâm ân.

Kể từ qua lại mấy lần,

Nào ai khỏa lấp sông Ngân suối vàng.

Gẩm trong kim cổ kỳ quan,

Bước vô vườn liễu bông tàn về ai.

Nhìn xem nguyệt quế non Đoài,

Bóng trăng lờ lợi không biết ai thương cùng.

Tận xưa rày nhân nghĩa bập bùng,

Xuống lên không đặng tỏ cùng anh hay.

Làm cho chàng thiếp mỗi ngày mỗi xa.

 

160. Nghĩ gần thôi lại nghĩ xa,

Làm thân con nhạn mấy lần vương tơ.

Chắc về đâu trong đục mà chờ,

Hoa thơm mất tuyết biết nương nhờ vào đâu.

Số em giàu lấy khó cũng giàu,

Số em nghèo chín đụn mười trâu cũng nghèo.

Phải duyên phải kiếp thì theo,

Thân em có quản khó nghèo làm chi.

Chữ nhân duyên thiên tải nhất thì,

Giàu ăn, khó chịu lo gì mà lo.

 

161. Nhà tôi chỉ có một gian,

Nửa thì làm bếp, nửa toan làm buồng.

Anh cậy em coi sóc trăm đường,

Để anh buôn bán trẩy trương thông hành.

Còn chút Mẹ già nuôi lấy cho anh,

Để anh buôn bán thông hành đường xa.

Liệu mà thờ kính mẹ cha,

Đừng tiếng nặng nhẹ người ta chê cười.

Dù no dù đói cho tươi,

Khoan ăn, bớt ngủ liệu bề lo toan.

Cho anh đành dạ bán buôn,

 

162. Nhắn ai viếng cảnh Nha Trang,

 Muốn tìm dấu cũ thì sang Tháp Bà.

Muốn trông trời bể bao la,

Con thuyền nho nhỏ bơi ra Hòn Chồng.

Muốn xem cá lạ biển đông,

Xuống tòa Hải Học trong vùng Trường Tây.

Muốn vui cùng nước cùng mây,

Mây tuôn suối ngỏ nước đầy suối Tiên.

Ba hồ lắm thú thiên nhiên,

Qua sơn là chốn thần tiên đi về.

Lòng mong nương bóng Bồ Đề,

Lên chùa Hải Đức gần kề Nha Trang.

 

163. Non xanh nước biếc hữu tình,

Lúa đồng bát ngát rung rinh bốn mùa.

Đền lãng thờ đất vua Lê,

Ngắm nhìn núi cõi khác chi con rồng.

Vờn thêm một dãi uốn cong,

Kìa con Thiên mã đang lồng về Nam.

Một dòng nước nhỏ xanh lam,

Một ngôi chùa nhỏ nằm ngang lưng đồi [14]

164. Nhà em có vạt cá đầy,

Có ao rau muống có đầy chỉnh tương

Dầu không mỹ vị cao lương,

Trên thờ cha mẹ, dưới nhường anh em.

Một nhà vui vẻ êm đềm,

Đói nho tùy cảnh không luồn lụy ai.

 

165. Người ta thích lấy nhiều chồng,

Tôi chỉ thích lấy một ông thật bền.

Thật bền như tượng đồng đen,

Trăm năm quyết với cùng em một lòng.

Ngày ngày nghe tiếng còi tầm,

Nghe tiếng vọng từ âm phủ về.

Tiếng còi não nuột tái tê,

Bước vào hầm mõ như lê vào tù.

 

166. Nói người chẳng nghĩ đến thân

Thử sờ lên gáy xem gần hay xa

Nói người chẳng nghĩ đến ta

Thử sờ lên trán xem xa hay gần

Ai ơi chớ vội cười nhau

Ngắm mình cho tỏ trước sau sẽ cười

Cười người chớ khá cười lâu

Cười người hôm trước hôm sau người cười. 


 

[1] Bê.

[2] Bến: bên ấy

[3] Có nơi chép: Thanh nhàn vô sự là tiên trên đời

[4] Vũ ngọc Phan. Đọc dân ca Nam trung bộ. Tr.77.

[5] Núi Ngự Bình và sông An Cựu ở Huế.

[6] Ca dao tục ngữ.Vũ Ngọc Phan. Tr. 159

[7] Dân ca Thái Bình

[8] Phướn, phan: Những thứ của nhà sư dùng khi chay đàn hay rước Phật

[9] Vệ, cơ: Những đơn vị trong quân đội thời bấy giờ

[10] Làng Sa: chỉ giặc Pháp

[11] Câu này ý nói làng Thuyền Quan đã từng làm bạt vía kinh hồn thực dân Pháp.

[12] Át Nam: Tiếng phạn, Tên một vị Phật, sau chữ này là một câu kinh trong kinh Phật .

[13] Địa danh Phú Yên

[14] Núi cõi thuộc vùng Thanh Liêm Tỉnh Hà Nam Ninh. Trên núi áy có thờ Lê Đại Hành

 

---o0o---

 

Mục Lục |Chương một  A, Ă, Â|B|C| D, Đ|E, G, H|

I, K, L| M|N|O, Ô, Ơ, P, Q|R, S|T| U, Ư, V, X, Y

| Chương hai  |

---o0o---

Vi tính: Đông Phương. Trình bày: Nhị Tường

Cập nhật: 1-09-2005


Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về Thư Mục Thơ Văn

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp cho Trang Nhà qua địa chỉ: quangduc@tpg.com.au
Địa chỉ gởi thư: Tu Viện Quảng Đức, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic. 3060. Tel: 61. 03. 9357 3544