Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Thơ Văn Phật Giáo


......... .

 

 

Ca Dao Tục Ngữ Phật Giáo Việt Nam

Lệ Như Thích Trung Hậu sưu tập

---o0o---

Chương một

NỘI DUNG

 

CA DAO TỤC NGỮ PHẬT GIÁO

 

Chữ O, P, Q

 

1.Oan hồn hồn hiện.

 

2.Oan oan tương báo.

 

3.Oản chùa cúng Bụt, đất ruộng đắp bờ.

 

4.Oán tao mày oán cho đời,

Đất vua tao ở cơm trời tao ăn.

 

5.Ông sư có ngãi và vãi có nghì.

 

6.Ô hố, chậu rã cúc ngã sen tàn,

Tiếc công anh lận đận với nàng bấy lâu.

 

7.Ông cha kiếp trước khéo tu,

Nên sanh con cháu võng dù nghênh ngang.

 

8.Ông Thánh còn có khi lầm,

Huống chi con gái tám nhăm tuổi đầu.

 

9.Ông Thầy đào giếng trên non,

Đến khi có nước chẳng còn tăm hơi.

 

10. Ông trăng mà bảo ông trời,

Những người hạ giới là người như tiên.

Ông trời mà bảo ông trăng,

Những người hạ giới mặt nhăn như tườu.

 

11. Ôi thôi tôi muốn bứt rời duyên nợ,

Em kiếm vợ anh lại kiếm chồng.

Làm chi đày đọa khách hồng quần lo.

 

12. Ông Hương, ông Lý bên Luơng,

Ông trùm bên giáo, ai thương tôi nào?

Công điền cấp được một sào,

Nửa đường đắp cái, nửa đào ao chung.

Bốn mùa trống dục thùng thùng,

Quan bắt nộp thuế, lạ lùng tôi chưa?

 

13. Ông Tô Tử lên chơi trên đỉnh núi,

Thấy hai vợ chồng con chim chích.

Chín tháng mười ngày đủ cánh mọc lông.

Vợ để con cho chồng con bay đi kiếm chác,

Lạ thung thổ mồi thời không được,

Bước chân ra về chạy nhện giăng tơ,

Mãn vui chơi bắt nhện nào ngờ.

Khí âm tối hoa sen cụp lại,

Chồng thì mong, con thì bỏ đói,

Hết dỗ đứng dỗ ngồi ra ngõ đứng trông.[1]

Kìa kìa gái bốn năm con,

Ở chửa thực lòng chồng,

Hãy còn đang say đắm về bên huê nguyệt.

Tôi thề rằng trời xanh nước biếc,

Phật Thánh chứng minh,

Núi non thề với nước non,

Nào ai phụ rẫy chồng con đã[2]trời!

 

14. Ông Tiền ông tiên,

Ông có đồng tiền,

Ông dắt mái tai,

Ông cài lưng khố,

Ông ra hàng phố,

Ông mua miếng trầu,

Ông nhai tóp tép,

Ông mua con tép,

Về ông ăn cơm,

Ông mua mớ rơm,

Để về ông thổi,

Ông mua cái chổi,

Về ông quét nhà,

Ông mua con gà,

Về cho ăn thóc,

Ông mua con cóc,

Về thả gầm giường,

Ông mua nén hương,

Về ông cúng Bụt,…

 

15. Ở ác gặp ác.

 

16. Ở hiền gặp lành.

 

17. Ở chùa đốt chùa,

 

18. Ở ác cũng thác ra ma.

 

19. Ở chùa cũng có ông thiện ông ác,

 

20. Ở có nhân mười phân không khó.

 

21. Ở không yên đọc canh[3]

22. Ở đâu có khói thì ở đó có lửa.[4]

23. Ở hậu gặp hậu, ở bạc găp bạc.

 

24. Ở hiền gặp lành, chui đầu giành mà trợn mắt lên.

 

25. Ở hiền thì lại gặp lành,

Ở ác thì lại tan tành như tro.

 

26. Ở hiền gặp lành,

Những người nhơn đức trời giành phúc cho.

 

27. Ở tinh gặp ma,

Ở quỉ gặp quái, gian tà gặp nhau.

 

28. Ở hiền thì lại gặp lành.

Nếu ai ở ác tội dành vào thân.

 

29. Ở sao cho vừa lòng người,

Ở rộng người cười ở hẹp người chê.

 

30. Ở đây gần bạn gần thầy,

Công phu sớm tối có ngày Tây phương.

 

31. Ở nuôi cha mẹ trọn niềm,

Bao giờ trăng khuyết lưỡi liềm sẽ hay.

 

32. Ở cho phải phải phân phân,

Cây đa cậy thần, thần cậy cây kia.

 

33. Ở đây những núi cùng khe,

Nghe chuông đổ nhịp, nghe ve gọi sầu.

 

34. Ơn cha nghĩa mẹ nặng triều,

Ra công báo đáp ít nhiều phận con.

 

35. Ở đây có cảnh có chùa,

Sớm hôm nghe pháp hơn thua làm gì.

 

36. Ơn cha bằng biển cha ơi[5],

Nghĩa mẹ bằng trời chín tháng cưu mang.

 

37. Ở dưới sông sóng vận cát đùa,

Gá duyên không đặng, vô chùa em tu.

 

38. Ơn ai một chút đừng quên,

Phiền ai một chút để bên cạnh lòng.

 

39. Ơn ai một chút chớ quên,

Oán ai một chút để bên dạ dày.

 

40. Ở cho phải phải phân phân,

Cây đa cậy thần, thần cậy cây đa.

Thương người người lại thương ta,

Ghét người người lại hóa ra ghét mình.

 

41. Ở sao cho vừa lòng người,

Ở rộng người cười ở hẹp người chê.

Cao chê ngỏng, thấp chê lùn,

Béo chê béo trục béo tròn,

Gầy chê xương sống, xương sường phơi ra.

 

42. Ở đời nên phải chiều đời,

Chồng thời như cú, vợ thời như tiên,

Bởi chưng bố mẹ em tham bạc tham tiền.

Cho nên cú ở với tiên cùn đời,

Bao giờ mãn kiếp con cú kia ơi?

Thì tiên với cú mới rời được nhau.

 

43. Ở dưới địa ngục có đức Địa Tạng Từ Vương,

Mở đường cho hương linh bước,

Lên trên Thiên đàng có đức Di đà,

Tiếp rước hương linh,

Bên này hương linh đi theo gót Phật để pháp văn kinh,

Phò trì phái nội phú quý da đinh thọ trường.

 

44. Ở đây gần cảnh gần chùa,

Lẽ đâu có lẽ chuyện trò trăng hoa.

Trúc mai sum họp một nhà,

Song tình đạo nghĩa đã gần đồng cân.

Cũng liều phó thác cái thân,

Khi vui cũng một Tấn Tần mà thôi.

Ở đâu năm cửa nàng ơi?

Sông nào sáu khúc nước chảy xuôi một dòng?

Sông nào bên đục bên trong?

Núi nào thắt cổ bồng mà lại có Thánh sinh?

Đền nào thiêng nhất xứ Thanh?

Ở đâu lại có cái thành tiên xây?

Ở đâu là chín tầng mây?

Ở đâu lắm nước, ở đâu lắm vàng?

Chùa nào mà lại ở hang?

Ở đâu lắm gỗ, thời nàng biết không?

Ai mà xin lấy túi đồng?

Ở đâu mà lại có con sông Ngân Hà?

Kìa ai đội đá vá trời?

Kìa ai trị thủy cho đời được yên?

Anh hỏi em trong bấy nhiêu lời,

Xin em giảng rõ từng nơi từng người.

Thành Hà Nội năm cửa chàng ơi,

Sông Lục đầu sáu khúc nước chảy xuôi một dòng.

Nước sông thương bên đục bên trong,

Núi đất Thánh Tản thắt cổ bồng mà lại có thánh sinh.

Đền Sòng thiêng nhất xứ Thanh,

Ở trên tỉnh Lạng có thành tiên xây.

Trên trời có chín tầng mây,

Dưới sông lắm nước, núi nay nhiều vàng.

Chùa Hương Tích mà lại có hang,

Trên rừng lắm gỗ thời chàng biết không

Ông Nguyễn Minh Không xin được túi đồng,

Trên trời mà lại có con sông Ngân Hà.

Nước Tàu dệt gấm thêu hoa,

Ông Hữu sắc sinh ra cửa ra nhà chàng ơi.

Bà Nữ Oa đội đá vá trời,

Vua đại Vũ trị thủy cho đời được yên.

Anh hỏi em trong bấy nhiêu lời,

Em đã giảng rõ từng nơi, từng người.

 

 

 

 

 

CHỮ P.

 

 

1.Phật Thánh.

 

2.Phật trời.

 

3.Phật tại tâm.

 

4.Phật tức tâm.

 

5.Phật Thánh phò hộ.

 

6.Phật Thánh độ trì.

 

7.Phật khẩu tâm xà.

 

8.Phật tại tâm trung.

 

9.Phá chùa phá miễu.

 

10. Pháp Phật nhiệm mầu.

 

11. Phúc chủ lộc thầy.

 

11b. Phúc đẳng hằng sa.

 

12. Phật thường độ hữu duyên.

 

13. Phật tức tâm, tâm tức Phật .

 

14. Phật với ma, như cha với con.

 

15. Phí của trời, mười đời chẳng có.

 

16. Phải tội cửa sau, luồn vào cửa trước.

 

17. Phải tội mua mạ, phải vạ mua than.

 

18. Phước bất trùng lai, họa vô đơn chí.

 

19. Phúc chí tâm linh họa lai thần ám.[6]

20. Phật hiền không thờ, quỉ dữ phải cúng.

 

21. Phật nhà chẳng cầu, cầu Thích Ca ngoài đường.

 

22. Phật bất cấu cầu, họa vô cấu miễn.

 

23. Phúc đức tại mẫu.

 

24. Phúc nhà vợ, chẳng bằng nợ nhà chồng.

 

25. Phận đẹp duyên may.

 

26. Phận mỏng cánh chuồn.

 

27. Phận gái theo chồng.

 

28. Phải chi lên đặng Ngọc Hoàng,

Lén coi sổ bộ duyên nàng về ai.

 

29. Phải duyên hương lửa cùng nhau,

Xe dê họ rắc lá dâu mới vào.

 

30. Phải duyên Hồ Việt cũng gần,

Trái duyên Tần Tần dẫu gần cũng xa.

 

31. Phước gì bằng phước mẹ còn,

Họa gì sánh họa tuổi non mất người.

 

32. Phải căn duyên nhà lá cột chà là,

Không phải căn duyên nhà ngói đôi ba toà

Cũng không tham.

 

33. Phải căn duyên anh không kén không lừa.

Đám mây kia đông đặc, gió đùa cũng tan.

 

34. Phải chi cải tử hườn sinh,

Mổ gan trao lại kẻo mình nhớ em.

 

35. Phụ mẫu đánh em xương tan thịt nát, bỏ xác xuống đường mương,

Anh đấng làm trai thông minh trí huệ sao để gái hiền lương bị đòn?

 

36. Phải duyên chẳng cứ hẹn hò,

Một ngày nên ngãi chuyến đò nên quen.

 

37. Phật dạy chữ hiếu làm đầu,

Mà ai giữ được đạo mầu mới trao.

 

38. Phải chi cao đất thấp trời,

Hỏi thăm duyên nợ đổi dời thế nao.

 

39. Phải duyên phải kiếp thì theo,

Thân em có quản khó nghèo làm chi.

 

40. Phận người nát gỗ còn tro,

Phận ta nát giỏ nhánh nà cũng không.

 

41. Phép chay làm bảy ngày đêm,

Một người cầu tự, một thầy tụng kinh.

 

42. Phản phúc khác nữa đầu trâu,

Ăn cơm nhà Phật, đốt râu Thầy chùa.

 

43. Phải duyên thì dính như keo,

Trái duyên, trái kiếp như kèo đục vênh.

 

44. Phen này cắt tóc đi tu,

Tụng kinh độc lập ở chùa Duy Tân[7]

45. Phụng hoàng đua se sẻ cũng đua,

Anh cho trước miễu sau chùa.

Dụng người buôn bán, quê mùa thiếu chi.

 

46. Phải duyên túc đế,[8]

Như cây cỏ để ngoài Huế anh cũng tìm.

Không phải lương duyên,

Như cây cúc mọc dựa thềm anh cũng không.

 

47. Phàm Lê Huê sa mê Thái tử,

Oán thù dữ còn đổi ra hiền.

Huống chi phận thuyền quyên,

Chẳng qua căn số định, giận phiền uổng công.

 

48. Phất phơ ngọn trúc trăng tà,

Tiếng chuông Trấn Võ, canh gà Thọ xương.

Tuyệt mù khói tỏa mù sương,

Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ.

 

49. Phát gai góc thì thông đường cả,

Vén mây mù quả thấy trời cao.

Phải căn duyên ngoài đó xứ Huế cũng tìm,

Không phải căn duyên cây cỏ mọc trước thềm cũng nhổ quăng đi.

 

50. Phải chi anh chưa vợ,

Hãy còn duyên nợ.

Em cũng cậy yên như thuyền cậy lái,

Ai ngờ phận trái như lái nghịch chèo.

Thôi anh phải giữ lấy lèo,

Đừng ham thả lỏng hiểm nghèo có khi.

 

51. Phận nhân duyên em nửa mình chồng,

Bởi tại dây tơ hồng xe nên chỉ thắm.

Vì thầy bu em không liệu cơm gắp mắm,

Quăng em vào cố đấm ăn xôi.

Xem anh chị đắp điếm cho hở môi răng lạnh,

Dù khi ngang con mắt,

Chị cũng đập rơ trải chiếu.

 

52. Phụ đồng phụ chổi, thổi lỗi mà lên,

Ba bề bốn bên, sôi lên cho chóng.

Nhược bằng cửa đóng phá ra mà vào,

Cách chuôm cách ao, cách ba ngọn rào,

Cũng vào cho lọt, cái roi von vót,

Cái vọt cho đau, hàng trầu hàng cau,

Hàng hương hàng hoa, là đồ cúng Phật,

Hàng chuối hàng mật, hàng kẹo mạch nha.

Nào cô bán quế, vừa đi vừa té,

Một lũ học trò, người cầm quạt mo,

Là ông vợ chổi, thổi lỗi mà lên.

 

53. Phen này quyết chí đi tu,

Tam qui ngũ giới tu chùa hồ sen.

Thấy cô má phấn răng đen,

A Di Đà Phật anh quên mất chùa.

Có ai mua mõ thì mua.

 

 

Chữ Q

 

1.Quả báo nhãn tiền.

 

2.Quả kiếp tu hành.

 

3.Quỉ phá nhà chay.

 

4.Quỉ tha ma bắt.

 

5.Quỉ khóc thần kinh.

 

6.Quỉ khóc thần sầu.

 

7.Quả dục bảo thâm.

 

8.Qua được cửa Trà, phúc đức bằng đình thượng[9]

9.Qua chợ còn tiền.

Vô duyên càng khỏi nhẫn má.

 

10. Quí thay đức Mục Kiền Liên,

Treo gương hiếu thảo muôn nghìn thiên thu.

 

11. Quê tôi vốn chỗ không nhà,

Cha tôi là Phật, mẹ là Pháp không.

 

12. Quan nói hiếp,

Chồng nói nghiệp nói thừa.

 

13. Qua như quả tử trên bàn,

Để chưng Phật thủ vững vàng xem chơi.

 

14. Quả chuông treo mấy cửa chùa,

Nước Nam Việt mấy ông Vua trị vì.

 

15. Quả chuông treo mấy quả chùa,

Làm thân con gái bán mua mấy lần?

 

16. Quả báo cắn cháo gẫy răng,

Ăn cơm gẫy đũa, xỉa răng gẫy chầy,

 

17. Quân tử thời oán tam niên,

Tiểu nhân thời oán nhãn tiền mà thôi.

 

18. Quê ta có dải sông Hàn,

Có chùa non nước, có hang Sơn trà.

 

19. Quỳnh lâm Khánh đá chuông đồng,

Muốn chơi em giả của chồng em chơi.

 

20. Qua cầu, cầu yếu phải nương,

Từ rày bạn cũ thôi thương mình rôồ.

Tai nghe bạn cũ có đôi,

Trong lòng bối rối như vôi mới hầm.

Cầm tay bạn cũ khóc thầm,

Từ nay hương phải khóc trầm, trầm ơi!

 

21. Qua chùa núi Hó, thắp bó nhang vàng,

Xin cho bạn cũ lại hoàn như xưa.

Trông trời chẳng thấy trời mưa,

Rồng đi mấy nước rồng chưa kịp về.

Lựu tìm đào, đào chẳng tìm lê,

Lên non tìm quế, quế về rừng xanh,

Trách cho ai trông ngọn thác cành.

 

22. Quê tôi tên gọi Việt Nam,

Đã vì giông bão điêu tàn xác xơ.

Dân em tháng đợi năm chờ,

Thanh bình trở lại ước mơ tựu thành.

Quê em đồng ruộng gió lành,

Có chuông tối có trăng thanh dịu dàng.

Anh ơi về với xóm làng,

Thương yêu thành một cung đàn dựng xây.

Quê tôi có gió bốn mùa,

Có trăng giữa tháng có chùa quanh năm.

Chuông hôm gió sớm trăng rằm,

Chỉ thanh đạm thế âm thầm thế thôi.

Mai này tôi bỏ quê tôi,

Bỏ trăng bỏ gió chao ôi bỏ chùa.

Đem thân đi với giang hồ,

Sân ga phẳng lặng, bến đò lênh đênh.


 

[1] Có nơi chép: ra ngõ còn trông

[2] Hả

[3] Canh: kinh

[4] Có bản chép: ở đâu có khói thì lửa ở đó

[5] Ai ơi

[6] Khi phúc đến tâm trí nghĩ đâu trúng đó, lúc họa đến thì trăm điều nghĩ không trúng một điều

[7] Bài này tìm ra là của Nguyễn Quyền. 1905 trong thơ văn CM. Việt Nam:

Phen này cắt tóc đi tu

Tụng kinh độc lập ở chùa Duy Tan

Đêm ngày khấn vái chuyên cần

Cầu cho ích nước lợi dân mới là

Quyết tu cho mở trí dân nhà

….

Lòng thành thấp một tuần nhang

Nam mô Phật tổ Hồng bàng chứng minh.

[8] Túc đế: sắp đặt sẵn

[9] Tương truyền rằng, ngày xưa cửa sông Trà Lý có một con cá lớn nổi lên.

Những đêm tối trời cá nổi lên, trông đỏ rực cả một đám cửa sông, cá đi đến đâu mặt nước sôi động ầm ầm. Dân chài lưới ở đây rất sợ, gọi là cá Thần

 

---o0o---

 

Mục Lục |Chương một  A, Ă, Â|B|C| D, Đ|E, G, H|

I, K, L| M|N|O, Ô, Ơ, P, Q|R, S|T| U, Ư, V, X, Y

| Chương hai  |

---o0o---

Vi tính: Đông Phương. Trình bày: Nhị Tường

Cập nhật: 1-09-2005

 


Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về Thư Mục Thơ Văn

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp cho Trang Nhà qua địa chỉ: quangduc@tpg.com.au
Địa chỉ gởi thư: Tu Viện Quảng Đức, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic. 3060. Tel: 61. 03. 9357 3544