Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Tịnh Độ


......... .

 

PHẬT LỊCH 2546

TÂY PHƯƠNG NHỰT KHÓA
HT. Thích Thiền Tâm
Soạn thuật
---o0o---

 

Chớ quản gió sương sông núi cách

Hoa sen Bảo-Tích sắc hương mầu  


Mục lục

 

CHƯƠNG I  

PHI LỘ VÀ PHỤNG KHUYẾN

Hiện nay, người tu Tịnh độ càng ngày càng đông. Sở dĩ như thế, bởi môn Niệm-Phật có những yếu tố:

1.      Thích ứng cả ba căn.

2.      Gồm tự lực, tha lực.

3.      Giải thoát trong hiện kiếp.

4.      Hợp thời tiết cơ duyên.

 

A-    NIỆM PHẬT THÍCH ỨNG CẢ BA CĂN.

Các pháp môn khác, nếu thấp thì bậc thượng căn chẳng thích tu. Và cao, tất bậc trung, hạ căn không kham tu. Chẳng hạn như về Thiền-tông đạo lý thật mầu nhiệm cao siêu, một niệm đi thẳng vào chân tâm sáng suốt, ứng dụng tự tại, vượt khỏi đầu sào trăm trượng, như nhạn bay giữa thái hư dấu vết chẳng còn lưu. Nhưng khúc điệu càng cao, người họa càng thưa ít. Nếu chẳng phải bậc tuệ căn gieo sẳn, e cho vẽ cọp không thành. Nên cổ đức đã bảo:"Chẳng phải căn thượng thượng. Dè dặt chớ khinh truyền". (Phi thượng thượng căn. Thận vật khinh hứa). Bởi nếu không phải bậc thượng căn triệt ngộ thiền cơ, thì chẳng thể nhập được ngay vào chân-không mà phần nhiều lại lạc vào lối chấp thiên-không. Rồi từ đó bác phá nhân quả sự tướng, tăng lòng ngã mạn cống cao. Về điều này, trong Chứng Ðạo Ca, Vĩnh Gia Huyền Giác thiền sư có nói:"Nếu chấp cái không trống rổng. Rồi bác nhân quả. Thì ương họa lan tràn!"(Hoát đạt không. Bác nhân quả. Mãng mãng đảng đảng chiêu ương họa! – Chứng Ðạo Ca). Thật ra Thiền tông cần phải duy trì và phục hưng, cho chúng sanh được độ thoát an vui, vườn hoa Phật giáo thêm thắm tươi đầy đủ màu sắc. Nếu có bậc tu thiền chân chánh làm lợi ích cho mình và người, cũng đáng nên cúi đầu đảnh lễ. Rất tiếc nhiều kẻ mới vào cửa mầu thiền học, liền chuộng những huyền lý cao siêu, vội xem thường sự thờ cúng, tu phước, giữ giới, bác phá lễ Phật, sám hối, tụng kinh cho là hành môn thấp nhỏ, chấp trước sự tướng. Cảnh trạng một kẻ mê đường dẫn nhiều người lạc lối, khiến cho ngay những bậc tôn đức bên Thiền trông thấy cũng thê lương cho Phật pháp, xót dạ đau lòng ! Nếu huyễn sắc tức là chân không thì dù tham thiền, niệm Phật, tụng kinh, hay hành trì tất cả sự tướng trong đạo pháp, cũng đều là chân không. Bậc liểu đạt tuỳ niệm ứng dụng tự tại  không dính mắc, như trái hồ lô lăn tròn trên mặt nước, can chi mà phòng ngại! Cho nên chư cổ đức bên Thiền đã cảnh giác:"Thiền tông nếu đi đúng tất mau chứng quả bồ đề, còn lạc lầm thì vào địa ngục như tên bắn!". Các pháp môn cao với bậc thượng căn mới được sự lợi ích thiết thật là như thế ấy.

Còn môn Tịnh độ thì thích ứng cả ba căn cơ: thượng, trung, hạ. Bậc thượng thượng căn như ngài: Văn Thù, Phổ Hiền, Long Thọ, Trí Gỉa và các bậc cao đức xưa nay, phần nhiều đều tu về môn nầy. Như trong kinh Hoa Nghiêm, Thiện Tài đồng tử khi tham phỏng bậc tri thức, đầu tiên là Ðức-Vân Bồ tát, ngài Ðức-Vân đã đem môn Niệm Phật tam muội mà truyền dạy. Ðến lúc cuối cùng, Phổ-Hiền đại sĩ cũng nói Mười đại nguyện vương, khuyên Thiện Tài và chư vị Bồ tát trong Hoa Tạng hải hội niệm Phật hồi hướng về Cực Lạc. Do đấy, nếu bảo niệm Phật là pháp môn thấp kém, chỉ để cho hạng tầm thường ngu dốt tu, là quan niệm rất sai lầm!

Ðến như bậc hạ căn, thì trong Tịnh-Ðộ-Thánh-Hiền-Lục đã ghi chép các sự tích: Kẻ ngu muội dốt nát, phá giói phạm trai, nghèo khổ tật nguyền, cho đến loài chim theo lời người dạyxưng danh hiệu Phật, biết hồi tâm sám hối, trì niệm chuyên thành, đều được nguyện lực của Phật nhiếp thọ, tiếp dẫn sanh về Cực Lạc. Cho nên một bậc danh đức xưa đã khen môn Tịnh độ là:"Bảo phiệt ra khỏi Ta Bà. Huyền môn để thành Phật đạo". (Xuất Ta Bà chi bảo phiệt. Thành Phật đạo chi huyền môn). Cũng trong ý đó,  Aán-Quang đại sư có câu đối:"Bỏ đường tắt Tây phương, chín giới chúng sanh, trên khó thể viên thành quả giác. Lìa cửa mầu Tịnh độ, mười phương chư Phật, dưới không toàn độ thoát loài mê". Nói theo kinh, pháp môn Niệm Phật quả thật như chiếc lưới báo cưc to, có thể vớt tất cả loài cá lớn nhỏ trong tam giới, đưa lên bờ Niết Bàn vậy.

 

B – NIỆM PHẬT GỒM TỰ LỰC,THA LỰC.

Trừ Tịnh độ và Mật tông, các pháp môn khác đều nương vào tự lực, tức là sức tu của chính mình, để cầu giải thoát. Luận riêng về Tịnh độ, thì môn nầy gồm cả tự lực và tha lực. Tự lực là sức trì niệm của mình; tha lực là sức nhiếp thọ hộ niệm trong hiện tại và sự tiếp dẫn vãng sanh của Phật khi lâm chung. Có kẻ bảo người tu môn Niệm Phật là hèn yếu, chỉ ỷ lại vào tha lực, cũng là quan niệm cạn cợt sai lầm. Hành giả Tịnh độ, thân kính lễ Phật, miệng xưng danh Phật, ý chuyên tưởng Phật, nhiếp tâm từ loạn vào định, cho đến cả khi đi đứng nằm ngồi. Vận dụng cả ba nghiệp để hành trì, cố gắng hết sức mình, đó là chứng minhthực tế và hiển nhiên về tự lực. Như thế, tại sao lại bảo niệm Phật là hèn yếu, chỉ ỷ lại vào tha lực? Cho nên niệm Phật chính là đem hết tự lực của mình để cảm thông với tha lực của Phật, cứu cánh dung hoà với tự tha, tâm và Phật, đi sâu vào Chánh-ức-niệm-tam-muội. Bước đầu tiên khi đã có sự cảm thông, thì hành giả sẽ được Phật phóng quang minh thường trụ nơi đảnh nhiếp thọ, hiện tiền tiêu trừ tội chương tai bịnh, phước huệ lần tăng, khi mãn phần lại được tiếp dẫn sanh về Cực Lạc.

Sở dĩ người xưa nay khi đề cập đến môn Tịnh độ, phần nhiều nhấn mạnh về tha lực, đó là hàm ý chú trọng sự tiếp độ đến chỗ giải thoát. Vì nếu không được sức Phật nhiếp thọ tiếp dẫn, thì đạo lực tầm thường của hành giả không thể sanh về cõi Cực Lạc cách đây mười muôn ức Phật độ. Bởi dù cho đạo lực của bậc lục thông La-Hán, cũng chỉ ở phạm vi thấy biết dạo đi trong cõi Tam-thiên-đại-thiên, thuộc thế giới Ta Bà nầy mà thôi. Và khi còn hoặc-nghiệp mà không được tiếp dẫn vãng sanh Cực Lạc bước lên cảnh giới Bất-thối-chuyển, nương nơi thắng duyên của cõi ấy mà tiến tu, tất phải tùy nghiệp chịu luân hồi, không biết chừng nào mới được giải thoát! Vì sự vãng sanh có điểm rất quan hệ như vậy, nên tha lực của Tịnh độ được chú trọng nhiều, khiến cho kẻ nông cạn vội nhận lầm là môn nầy chỉ ỷ lại vào tha lực, không cần tự lực.

Ðến đây, thấy nên giải thích thêm vài điểm nghi vấn. Có kẻ hỏi:"Bậc Bồ tát chứng Vô-sanh-nhẫn đã dứt hoặc nghiệp thoát khỏi luân hồi, cần chi phải cầu về Cực Lạc? Và các vị ấy có thần thông đi đến vô lượng thế giới, lại cần chi niệm Phật để cầu sự tiếp dẫn?"Xin đáp:"Theo kinh nói: Sự cất chân lên để bước xuống của Phật, bậc Ðẳng-giác Bồ tát còn không thấu hiểu huống chi hàng thập địa Bồ tát! Các vị ấy tuy dứt Kiến, Tư và Trần-sa-hoặc, song Vô-minh-hoặc hãy còn, nên cần phải gần gủi Phật để học đạo-pháp thành Phật. Thật ra, chư Ðại-Bồ-tát có hai việc; trên cầu về mười phương Tịnh-độ để học vô lượng pháp-môn của Như Lai, dưới hiện thân khắp mười phương uế-độ để giáo hoá các loài hàm-thức, Pháp-thân của chư vị thường trú, tuy ở cõi tịnh mà không lìa cõi uế, và dù ở uế độ vẫn không rời tịnh độ. Còn việc Bồ tát niệm Phật, để cầu tiếp dẫn, ví như một học giả đến viếng bậc thầy của mình, tuy có thể tự tại đi vào nhà, nhưng theo lễ phải xin phép.Và vị thầy đúng theo tâm niệm dìu dắt hàng hậu lai, cũng vui vẻõ tiếp đón. Việc chư Bồ tát muốn về Cực Lạc niệm hồng danh Phật để cần cầu, và Ðức Phật tùy bản nguyện đến tiếp dẫn cũng lại như thế. Nhưng sự tiếp dẫn của Phật tùy niệm ứng hiện, trong một sát na có thể đồng thời đến vô-biên thế-giới ở mười phương, tiếp dẫn số chúng sanh như vi trần, như gương trắng sáng hiện bóng khắp các điểm nước, sông , hồ, đâu có tướng đến đi và đâu có chi nhọc mệt mà phòng ngại!".

C- NIỆM PHẬT GIẢI THOÁT TRONG HIỆN KIẾP

Với các pháp môn khác, hành giả phải dứt trừ hết hoặc-nghiệp mới vượt sự sống chết luân hồi. Riêng môn Tịnh độ, dù cho hoặc chướng hãy còn, vẫn có thể hiện đời nương nơi nguyện-lực của Phật, đới nghiệp vãng sanh, tiến thẳng lên bờ giải thoát. Về điểm nầy, trong bức thơ phúc đáp cho Tịnh-Tu pháp sư, ngài Aán Quang đã nói như sau:"Có hai đường tiến tới chỗ giải thoát là: Thánh-đạo và Vãng-sanh:

Về Thánh-đạo, tức đường tu chứng lên quả Thánh, không chi thẳng tắt mau lẹ hơn môn Trực-chỉ-thiền. Nhưng tu thiền giữa đời nầy, trong hiện đời chưa dễ gì ngộ đạo, huống chi là chứng đạo? Nếu không chứng quả, trong mười người đã lạc lối hết tám chín, bởi khi luân hồi sẽ bị nhiều duyên làm cho thối chuyển, dễ mê muội túc căn. Tu thiền, nếu chứng được sơ-quả Tu-đà-hoàn, tuy còn bảy lần sanh lên cõi trời, bảy phen trở lại nhơn gian, nhưng sẽ không còn lo thối chuyển. Khi chứng đến quả A-La-Hán, mới dứt hẳn luân hồi. Ngoài ra, thì không nhứt định. Có kẻ đời hiện tại tu hành rất tốt, kiếp sau được hưởng phước, say đắm theo dục lạc, tạo nghiệp ác rồi bị đọa vào địa ngục. Dù cho năm ba đời giữ được thiện-căn, không tạo nghiệp ác, song ai có thể đảm bảo những kiếp về sau lại chẳng gây nghiệp rồi bị đọa tam đồ! Chẳng nói đâu xa ngay trong đời hiện tại, rất nhiều hành giả trước siêng năng sau biếng trể, đạo-tâm dần dà thối chuyển, đến nỗi có kẻ phải hoàn tục. Những đời về sau, theo đà mạt-kiếp, Phật-pháp lần suy kém, bậc tri thức rất khó tìm, sự giải thoát lại còn xa hơn nữa! 

Riêng có đường lối Vãng-sanh, là niệm Phật cầu về Tịnh-độ, thì dù cho hoặc chướng hãy còn, vẫn có thể nương theo nguyện-lực tiếp dẫn của đức A-DI-ÐÀ, vượt ngang ba cõi, đới nghiệp thẳng sang Cực Lạc. Thật ra, cũng như bên Thiền, giữa thời mạt pháp nầy, người tu Tịnh độ đến cảnh giới Sự-nhứt-tâm-bất-loạn rất là ít có, huống chi cảnh Lý-nhứt-tâm, và đi sâu vào Niệm-Phật-tam-muội! Nhưng nếu thuở bình nhựt mỗi ngày chuyên cần trì niệm,  khi lâm chung chủng-tử của câu hồng danh đã huân tập từ lâu phát hiện, liền khiến cho tạm thời được nhứt tâm. Lúc ấy chỉ cần gia thêm ý niệm tha thiết, rũ sạch trần duyên hướng về liên quốc, quyết định sẽ được sự cảm thông tiếp dẫn. Khi đã về cảnh ấy rồi, trên có Phật, Bồ tát, dưới là các hàng thượng-thiện-nhơn, nước chảy chim kêu nói ra pháp diệu, không còn bị các duyên ăn, mặc, ở và việc sanh-kế (y, thực, trụ, hành) làm vướng bận, sống lâu vô lượng kiếp, lo chi đạo quả không thành! Pháp sư đã hỏi, tôi chỉ y theo chỗ thấy hiểu của cổ-đức và căn cứ nơi Phật-lý mà giải đáp, xin suy gẫm kỹ rồi tùy tâm lựa chọn..." 

Lời trên đây của đại sư, đã vạch rõ chỗ ổn đáng và khó bảo đảm trên đường giải thoát của thời nay, giữa Tịnh cùng Thiền. 

D – NIỆM PHẬT HỢP THỜI TIẾT CƠ DUYÊN.  

Trong thời Chánh-pháp và Tượng-pháp, con người phần nhiều nghiệp nhẹ tâm thuần, hoàn cảnh sanh hoạt giữa xã hội lại đơn giản có thể tu các pháp môn về Thánh-đạo. Thời ấy, Thiền-tông đặc biệt hưng thạnh, hành-giả căn cơ sáng lẹ, thấy non xanh hoa nở, nghe gió thổi suối reo đều có thể ngộ đạo. Nhưng từ thời Mạt-pháp về sau, nhơn tâm khác xưa, sự sanh-hoạt tổ-chức giữa xã hội lần lầ phức-tạp, căn cơ người tu phần nhiều là bậc trung, hạ. Cho nên muốn bảo đảm sự giải thoát, cần phải hướng về pháp hợp thời tiết cơ duyên là môn Niệm-Phật. Về điều nầy, xin dẫn những chứng liệu như sau: 

* Trong kinh Ðại-Tập, Ðức Thích-Tôn đã huyền ký:"Thời mạt pháp ức ức kẻ tu hành, song ít có người đắc đạo, chỉ nương theo pháp môn Niệm-Phật mà thoát khỏi luân hồi". (Mạt pháp ức ức nhơn tu hành, hản nhứt đắc đạo, duy y Niệm-Phật đắc độ sanh tử. – Ðại-Tập-Nguyệt-Tạng Kinh). Nơi kinh Vô-Lượng-Thọ, Phật cũng bảo:"Trong đời tương lai, khi kinh đạo diệt hết, ta dùng sức từ bi thương xót, riêng lưu trụ kinh nầy một trăm năm. Chúng sanh nào gặp kinh nầy, tùy theo sở nguyện, đều có thể đắc độ".(Ðương lai chi thế, kinh đạo diệt tận, ngã dĩ từ bi ai mẫn, đặc lưu thử kinh chỉ trụ bá tuế. Kỳ hữu chúng sanh trị tư kinh giả; tùy ý sở sở nguyện, giai khả đắc độ. – Vô-Lượng-Thọ Kinh). Ðức Như-Lai là bậc trí tuệ rộng sâu, vì sao chẳng lưu các pháp kia, mà chỉ lưu môn Tịnh-độ? Ðó là thâm ý Phật đã chỉ rõ; thời Mạt-pháp về sau, đường tu hợp với cơ duyên chúng sanh, chỉ là môn Tịnh-độ.

 * Nơi đoạn Minh-Giáo của An-Lạc-Tập, Ðạo-Xước thiền sư lại có lời bình luận:"Nếu giáo pháp hợp vì thời cơ, thì dễ tu dễ ngộ. Như giáo pháp trái thời cơ, tất khó tu lhó nhập. Nên kinh Chánh-Pháp-Niệm nói: - Hành giả khi nhứt tâm cầu đạo, phải quan sát về phương-tiện thời cơ, nếu trái với phương-tiện đó, tất bị thất lợi. Tại sao thế? Như cọ gỗ ướt để tìm lửa thì lhông thể được, vì trái thời. Và như bẻ cây khô để tìm nước, cũng chẳng thể có, vì không trí tuệ _ Ðức Như-Lai đã phân định năm thời kiên-co sau khi ngài nhập diệt, mỗi thời là năm trăm năm. Trong các thời Chánh-pháp và Thiền-định kiên-cố, hành giả nên chọn Thánh-đạo, tu định huệ làm phần chánh, cầu Tịnh độ làm phụ. Từ cuối thời Ða-văn bước sang thời Tháp-tự và Ðấu-tranh kiên-cố về sau, nên lấy Tịnh-độ làm phần chánh, tu Thánh-đạo làm phụ".

Ngoài những chứng liệu trên, còn lời huyền-ký của bậc chân tu đắc đạo như là Thiên-Như thiề-sư, cùng những điểm nhận định và biện chứng của các bậc danh đức xưa nay. Trong phạm vi khái ước nầy không thể nêu ra hết được. Bên Trung-Hoa tư cuối đời nhà Tống về sau, các bậc tôn-đức quan sát rõ thời cơ, đều chuyển lần lần từ Thiền trở sang xiển-dương Tịnh-độ. Tuy nhiê vì Thiền-tông lưu hành hưng thạnh từ lâu, đã thành phong thái, nên thường có sự tranh đua giữa Tịnh và Thiền. Song le, đó chỉ là kiến chấp của một số người chưa quán triệt Phật lý cùng thời cơ, còn các bậc cao-tăng đã liễu đạt, thì chỉ tuỳ duyên mà duy hộ chánh pháp, tuyệt không tâm niệm phân biệt kia đây. Cứ trung thật mà luận, chúng hữu tình có nhiều tâm bịnh cùng sở nguyện, riêng một môn Tịnh-độ vẫn không thể phổ cập và thích ứng để hoằng dương chánh-pháp lợi lạc quần sanh, nên rất cần sự có mặt của các pháp-môn. Theo thiển ý, trong thời Mạt-pháp, hành giả các tông khác tuy hoằng truyền bản-môn, nhưng cũng nên nghiên-cứu Tịnh-tông và quy hướng về lối vãng sanh để bảo đảm cho sự giải thoát, như chư tôn đức bên tông Tào-Ðộng _ ngoài hoằng Thiền trong tu Tịnh _ khi xưa. Và người tu Tịnh-độ cũng cần học hỏi các tông khác để thêm tiến ích cho đường hành đạo của mình,  bởi mỗi tông như những đoá hoa, đều sáng tươi riêng phần đặc sắc. Lời dẫn luận trên chỉ y theo quan điểm từ mẫn lợi sanh của Phật và chư cổ đức, nêu ra một đường lối tu tập thích ứng với thời tiết cơ duyên mà thôi.

Ở Trung Hoa vào thời cận đại, có phong-trào chấn-hưng Phật-giáo do một số danh-tăng và Phật-tử trung kiên cổ xuý. Quán sát hành vi lúc sanh thời và khi lâm chung của ít mgười trong nhóm ấy – những biểu-tượng mà thường nhơn không thể có được—nhiều nhà học Phật quả quyết đó là các bậc Bồ-tát tái lai để duy hộ chánh pháp.Trong hạng người phi thường ấy: -- Ðế-Nhàn pháp sư giảng kinh khắp nơi, chấn hưng về Thiên-thai-tông – Hư-Vân thượng-nhơn tu chỉnh các danh lam, chấn hưng về Thiền-tông – Aán-Quang đại-sư dùng thư tín kinh tượng đôï vô số người, chấn hưng về Tịnh-độ-tông –Hoằng-Nhứt luật-sư nghiêm giữ giới hạnh, soạn thành Nam-Sơn-Luật-Uyển-Tòng-Thư, chấn hưng về Luật-tông – Thái-Hư đại-sư vận động cuộc cách tân Phật-giáo, chấn hưng về Duy-thức-tông – Kim-cang-thượng-sư Hô-Ðồ-Khắc-Ðồ từ Tây-khang đến, truyền dương về Mật-tông. Ðến như cư sĩ Dương-Nhân-Sơn trọn đời lập thành bang-hội sưu-tầm và ảnh-ấn các tượng Phật, Bồ-tát và tam tạng kinh điển, để cho chánh pháp khỏi bị sơm huỷ diệt về sau.

    Riêng ngài Ấn-Quang đã đem sự vãng sanh lúc lâm chung, chứng minh cho lời nói và hành động buổi bình thời, thì không cần bàn luận. Còn Ðế-Nhàn pháp-sư tuy hoằng dương kinh Pháp-Hoa, truyền dạy môn Tam-quán, nhưng lúc lâm chung vẫn theo gót đấng khai tổ bản tông là Thiên-Thai-Trí-Gỉa, niệm Phật sanh về Cực-Lạc. Hư-Vân thượng-nhơn tuy thị hiện ngộ đạo, làm mô phạm hướng dẫn hành giả tu thiền, song khi gặp hoàn cảnh cơ duyên, cũng khuyên người niệm Phật. Hoằng-Nhứt luật-sư lưu lại bút-tích Bi-Hân-Giao-Tập lúc lâm chung, thấy Tây-phương-tam-thánh đến rước. Thái-Hư đại-sư tuy hoằng dương Duy-Thức,  song hằng khen ngợi mười phương tịnh độ, nhưng vì không muốn trái với ứng tích của đấng khai tổ là Di-Lặc Bồ-tát, nên cầu sanh Ðâu-Suất tịnh-độ. Thượng-sư Hô-Ðồ-Khắc-Ðồ tuy truyền pháp Thánh-Cứu-Ðộ-Phật-Mẫu – gồm 21 Ðộ-Mẫu, hoá thân của đức Quán-Thế-Âm – để cứu nạn tai thời mạt kiếp,  song cũng khuyên  hàng đệ tử đem công đức trì  niệm hồi hướng về Cực-Lạc. Dương-Nhân-Sơn cư-sĩ lúc mãn phần, ngồi chắp tay nói với các hàng đạo hữu: “ bản nguyện tôi cùng bản nguyện đức A-Di-Ðà dung hợp nhau”, rồi niệm Phật mà hoá. Có phải chăng các bậc danh-đức trên đây, tuy mỗi người làm một Phật-sự, song đã dùng bản thân hoặc lời nói, mà ngầm khuyên các hành giả chú trọng về sự giải thoát vãng sanh?

 

E – LUẬN VỀ NGƯỜI VÀ CẢNH THỜI NAY.

Nói chung, trên phương diện hoằng dương đạo pháp, mỗi tông đều phát huy những đặc-điểm của mình, để người học Phật tuỳ sở thích mà thu nhập. Nhưng bình tâm thử nghiệm xét, lúc này là thời buổi nào?

Thời này, luận về người,  thì chúng-sanh phần nhiều đều nặng nghiệp. Bên Trung-Hoa, khoảng cuối đời Thanh bước sang Dân-Quốc, cư-sĩ Cao-Hạt-Niên khi đi hỏi đạo nơi các danh-lam, gặp một vị cao-tăng ẩn tu bảo: “Thời nay trong một trăm kẻ ác, mới có một người thiện. Trong một trăm kẻ thiện, mới có một người hướng về đạo. Trong một trăm kẻ hướng về đạo, mới có một người giữ vững tâm nguyện, không thối chuyển trên bước tu hành. Thuở xưa, trong lúc phú pháp cho Huệ-Khả đại-sư, Tổ Ðạt-Ma có dạy:-"Khoảng hai trăm năm về sau, người học lý thì nhiều, song ngộ lý rất ít. Người nói lý thì nhiều, song hành lý rất ít". Nên ý thức, chỉ riêng bước đầu là phần học Phật-lý, nhiều kẻ nếu chẳng vướng về chấp có, giữ chặt lấy sự tướng ; cũng lạc vào chấp không, bài bác nhân quả.  Mấy ai là bậc hiểu sâu Phật-thừa, liểu ngộ diệu-hữu tức chân-không, chân-không đều diệu-hữu? Cư-sĩ tuy mộ đạo, song dè dặt đừng sa vào kiến-chấp đó!’’ Cao-Hạt-Niên có hỏi đến chỗ tiến chứng của nhiều bậc trưởng-lão. Tất cả đều khiêm nhường và thành thật trình bày, đại khái như: nghiệp chướng nặng, còn nhiều tán-loạn hôn-trầm, giới hạnh oai nghi kém khuyết, bước tu chưa đạt đến thật địa... Khi cư sĩ đề cập đến những kẻ xưng mình đã chứng ngộ, thì các vị ấy đều cảnh giác: “Theo Kinh Lăng Nghiêm, đức Phật đã huyền-ký: -- Gần thì thập thế (mỗi thế 100 năm), xa thì bách sanh (mỗi sanh 30 năm), có rất nhiều ma ngoại ám nhập người tu, hoắc ẩn bóng trong chánh-pháp – Thời buổi nầy, nếu có ai tự xưng đã chứng ngộ, hoặc bảo mình là Phật, Tổ hiện thân, đó đích-thị là hàng ma ngoại”. Những điều trình thuật trên đây, cho chúng ta thấy con người thời nay hoặc-nghiệp và ma-chướng quá nhiều !

 Luận về cảnh, thì những tai nạn: Ðộng đất, núi lở, bão lụt, trộm cướp, chiến tranh, lửa cháy, hạn hán, mưa nắng trái thời, sâu trùng phá hoại, dịch chướng tràn lan, đã diễn ra ở nhiều nơi. Nhìn đến tương lai, trận thế chiến thứ ba chắc đâu đã khỏi ! Các phái Tiên đều bảo buổi nầy là thời mạt-kiếp, có sự thanh lọc rộng lớn. Ðạo Chúa nói sẽ có tận thế trước năm hai ngàn. Còn riêng đạo Phật, khi Hư-Vân thiền-sư xuất thần lên cung trời Ðâu-Suất,  được nghe Di-Lặc Bồ-tát nói pháp môn Duy-tâm-thức-định. Nơi đoạn kết thúc, Bồ-tát đọc bài kệ dài, trong ấy có mấy câu:"Kiếp nghiệp đương đầu. Cảnh tích phổ giác. Khổ hải từ hàng. Vô linh thối khước". Ðại ý, đức Di-Lặc bảo: -- Ở trần giới, tam-tai tiểu-kiếp đã bắt đầu, gồm các nạn: đói khát, tật dịch và chiến tranh. Bồ-tát khuyên thiền-sư và những hành-giả đạo Phật, nên làm chiếc thuyền từ trong biển khổ,  nhắc nhở chúng sanh thức tỉnh trước các tai nàn ấy, mà gắng lo tu hành đừng để thối chuyển... Nói khái quát, đi sâu vào thời mạt-pháp, chúng sanh nghiệp nặng, thế giới nạn tai, cảnh nước lửa lầm thang đã hiện ra trước mắt. Thời buổi nầy, thật ra còn không nên có sự phân biệt giữa các tôn giáo, huống chi trong các môn phái đạo Phật ! Hiện nay các đạo đều thi nhau dong con thuyền tế độ giữa cảnh sóng gió trầm luân.  Thần-đạo thì độ thuộc-phái trở về cảnh giới thần.Tiên đạo độ những người có căn tiên. Thiên đạo độ những vị thiện tâm về các cõi trời. Còn Phật-đạo, tất phải khuyên những kẻ hữu duyên về nơi Phật-cảnh.

 G – VÀI ÐIỀU KẾT YẾU.

Ðoạn trên, tệ-nhơn đã trình bày môn Tịnh-độ qua bốn yếu điểm, luận nhơn về cảnh thời nay, khái lược các điều quan yếu, để phụng khuyến đồng bạn trong biển mê tối trầm luân, cùng hướng bước về nẻo sáng suốt an lành của Tịnh-độ. Ðó là phần lý thuyết, còn thực hành sẽ có nghi-thức ở sau.

Trong khi trình luận, có mấy điểm đề cập đến giới hạn giữa Tịnh và Thiền, cũng bởi vài lý do bất đắc dĩ và cần thiết: 1 – Vì một ít vị học thiền bài bác tụng kinh niệm Phật qua nhiều điểm, khiến đa số Phật-tử hoang mang hỏi đến, nên bất đắc dĩ phải biện minh. 2 – Vì nương theo gót từ bi của Phật và chư tôn đức, đã nói về pháp hợp thời cơ để làm lợi ích cho người học đạo, nên cần thiết phải giải thích. Bởi nếu nói pháp chẳng hợp cơ, tất chúng sanh chìm trong biển khổ. (Thuyết pháp bất đậu cơ, chúng sanh một khổ hải).

Thật ra, tệ nhơn rất mến thích Thiền-tông và có thể bảo là có căn về môn ấy. Nói mến thích, vì Thiền-tông có những đặc điểm của nó. Chẳng hạn như, khi học-giả đến hỏi một thiền-sư:"Thế nào là đạo?"Sư đáp"Một áng khói mây phong cửa động. Muôn chim về tổ chợt quên đường !". Chỉ dùng hai câu vừa văn-nhã, vừa giản-dị bao-quát, để phá những khái niệm phân biệt về đạo, đưa vào chân tâm, Thiền-tông đã toả ra một hương vị thanh thoát. Lại như câu chuyện: -- Khi ngài Pháp-Nhãn hỏi Như-Tắc thiền-sư:"Sao chưa từng thấy Giám-viện đến hỏi đạo?"Như-Tắc đáp:"Tôi đã có chỗ sở nhập, do sư Thanh-Lâm khai thị. Vì khi tôi hỏi: Thế nào là Phật? Thanh-Lâm đáp:"Bính-đinh-đồng-tử đi tìm lửa !"Pháp-Nhãn bảo:"Khá hay ! Nhưng e ông chưa hiểu, vậy thử tỏ bày chỗ kiến-giải xem sao?"Như-Tắc thưa:"Bính đinh thuộc hành hoả, tức là lửa, đem lửa tìm lửa, cũng như chính mình là Phật mà lại đi tìm Phật !"Pháp-Nhãn nói:"Qủa nhiên Giám-viện hiểu sai rồi !". Như-Tắc không tỏ sắc giận, quay mình bỏ đi. Pháp-Nhãn bảo thị-giả:"Người nầy nếu trở lại thì cứu được, bằng không chắc không thể cứu độ". Tắc thiền sư đi nữa đường, bỗng suy nghĩ:"Oâng ta là bậc thiện-tri-thức của đại chúng gồm năm trăm vị, chẳng lẽ lại trêu mình?". Liền trở lại, sám-hối cầu khai-thị. Pháp-Nhãn bảo đề-khởi lại câu hỏi trước. Sư liền đảnh lễ thưa:"Bạch tôn đức ! Thế nào là Phật?"Pháp-Nhãn đáp:"Bính-đinh-đồng-tử đi tìm lửa !". Nghe xong Như-Tắc chợt tỏ ngộ. Lối giải đáp của ngài Pháp-Nhãn, là đúng ngay ý thức tìm cầu về Phật, đã sẵn có của Như-Tắc thiền-sư, hốt nhiên đưa sư đi thẳng vào cảnh giới siêu-thức. Cảnh giới tỏ ngộ ấy sâu hay cạn và như thế nào, đều không phải lời nói, tâm tư có thể đến được, chỉ do đương nhơn tự biết lấy, như chính mình thể-nhận khi uống nước nóng hoặc lạnh mà thôi. Và đây cũng lại là một hương sắc thơm đẹp của bên Thiền.

Còn nói có căn về Thiền, vì tệ-nhơn lúc trẻ tuổi đang trên đường học đạo, một hôm đứng tựa gốc cây, bỗng nhiên muôn niệm đều tiêu tan, tâm-cảnh thoạt vào cõi rất mức an tĩnh nhẹ nhàng sáng suốt. Cảnh thoát-trần không thể diễn tả ấy, chỉ kéo dài không đầy năm phút. Khi hoàn lại trạng thái cũ, tệ-nhơn suy nghĩ biết đó là túc-tập về tu thiền trong một tiền-kiếp của mình. Từ ấy hằng ưa thích thiền tư tĩnh toạ. Trên bước tu, tuổi càng lớn sự lịch duyệt càng sâu, tự xét mình thiện-căn tuy có song hoặc-nghiệp còn nhiều, lối luận thuyết cao siêu, sự hiểu biết chút ít về đạo, không thể đưa đến chỗ giải thoát được. Do đó lần lần hướng về Tịnh-độ, sám hối niệm Phật, cầu nguyện-lực của Như-Lai hộ trì tiếp dẫn.

Ðến nay, thành thật mà nói: gương tánh hãy mờ, gót tu chưa ổn, căn thân chẳng tịnh, hạnh kiểm còn sơ. Soi gương Bá-Ngọc, hơn năm mươi vẫn thấy lỗi lầm.Hướng gót Triệu-Châu, tuổi tám chục còn mong học hỏi. Với danh phận xuất-gia, tự thấy còn chưa xứng đáng, chẳng qua trên cương-trường hoằng-hoá, phải cố gắng đóng cho trọn vai tuồng của mình đó thôi. Nhìn đến tương lai, xét về bổn phận, xin mượn hai câu sau để tự diễn tả:

Quý-Tử áo thô nhiều vẻ thẹn

Lưu-Lang suối cũ luống bàng hoàng !

 

CHƯƠNG II

NGHI THỨC MẬT TỊNH

(Từ đây trở về sau, những đoạn nào có khép vòng đơn, là các điều căn dặn hoặc dẫn giải, in bằng chữ nhỏ. Chữ lớn là phần xướng tụng hành trì. Trải nhiều năm kinh nghiệm, tệ-nhơn xét thấy các hành-giả thời nay có những ma chướng, mà đạo-lực kém yếu của phần đông người mạt-pháp khó nỗi vượt qua. Ðó là những ma-chướng nội tâm, ma-chướng ngoại-cảnh, và ma-chướng thuộc giới vô hình. Vì thế, sau khi nghiên cứu trong đại-tạng, tệ-nhơn đã dựa vào kinh nghiệm chính mình và nhiều hành-giả khác thuật lại, dung hợp môn tu Tịnh-độ thuộc Mật-giáo cùng Hiển-giáo, soạn ra nghi-thức nầy. Trong đây chú trọng về sự khái quát đơn-giản, lời gọn mà ý tứ đầy đủ. Pháp-nghi nơi sau chia làm ba phần: Lễ-bái sám-hối, Trì-chú niệm-Phật, và Phát-nguyện hồi-hướng. Xin lưu-ý, pháp-nghi chỉ là hình thức, là khuôn mẫu, để cho hành-giả nương nơi sự tướng tiến tu, mà hướng về chân-cảnh. Còn tiến trình sâu hay cạn, thấp cùng cao, công đức ít hoặc nhiều, còn tuỳ tâm chí thành, sức trì niệm của các hành-giả).

 

A – PHẦN LỄ BÁI SÁM HỐI

 

(Trước tiên rửa tay rửa mặt, lễ-phục nghiêm chỉnh. Khi đến nơi lễ tụng, hành giả dùng ấn Kiết-tường, tay trái ngón cái nắm co đầu ngón vô danh, vẽ và tưởng chữ Ram (chữ hán đọc là chữ Lãm) sắc trắng trong lòng tay mặt 3 lần, Rồi tay mặt cũng kiết ấn vẽ vào lòng tay trái y như vậy. Kế tiếp, đốt hương rồi bước lui đứng chắp tay trước bàn Phật, đọc bài kệ tán).

 

Sắc thân Phật mầu đẹp

Trong đời không ai bằng

Khó sánh ví, nghĩ bàn !

Nên nay con đảnh lễ.

 

Sắc thân Phật vô tận

Trí tuệ cũng như thế

Tất cả pháp thường trú

Nên nay, con quy y.

 

Bi, trí , nguyện lực lớn

Ðộ khắp cả hàm-linh

Khiến bỏ thân nhiệt-não

Sanh về cõi thanh-lương.

 

Nay con tịnh ba nghiệp

Quy-y và lễ tán

Nguyện cùng các hữu tình

Ðồng sanh về Cực-Lạc.

 

            (Hành giả có thể đọc bài kệ tán khác mà mình thích).

 

Phổ lễ chân ngôn:

Aum ! Vàjra mùd (7 lần)

 

(Ðọc: Um ! Va ji ra muỵt. Trong khi tụng chú, kiết ấn kim-cang hiệp-chưởng để trên đầu, chắp hai tay lại ngón so le, hữu áp tả. Theo Mật-giáo, nên tưởng mình hiện thân khắp pháp hội mười phương lễ chư Phật, xong xả ấn nơi đảnh).

1.      – Chí tâm đảnh lễ: Hoằng dương môn Tịnh độ, Thích Ca Mâu Ni Phật, trăm ngàn ức hoá thân, khắp pháp giới chư Phật. (1 lạy)

2.      – Chí tâm đảnh lễ: Thường-tịch-quang-tịnh-độ, A-Di-Ðà-Như-Lai, pháp thân mầu thanh tịnh, khắp pháp giới chư Phật. (1 lạy)

3.      – Chí tâm đảnh lễ: Thật-báo-trang-nghiêm-độ, A-Di-Ðà Như-Lai, thân tướng hải vi trần, khắp pháp giới chư Phật. (1 lạy)

4.      – Chí tâmđảnh lễ: Phương-tiện-thánh-cư-độ, A-Di-Ðà Như-Lai, thân trang nghiêm giải thoát, khắp pháp giới chư Phật. (1 lạy)

5.      – Chí tâm đảnh lễ: Cõi Cực-Lạc phương tây, A-Di-Ðà Như-Lai, thân căn giới đại-thừa, khắp pháp giới chư Phật. (1 lạy)

6.      – Chí tâm đảnh lễ: Cõi Cực-Lạc phương tây, A-Di-Ðà Như-Lai, thân hoá đến mười phương, khắp pháp giới chư Phật. (1 lạy)

7.      – Chí tâm đảnh lễ: Cõi Cực-Lạc phương tây, giáo, hạnh, lý ba kinh, y, chánh đều tuyên dương, khắp pháp giới Tôn pháp. (1 lạy)

8.      – Chí tâm đảnh lễ: Cõi Cực-Lạc phương tây, Quán-Thế-Âm Bồ-tát, thân tử kim muôn ức, khắp pháp giới Bồ-Tát. (1 lạy)

9.      – Chí tâm đảnh lễ: Cõi Cực-Lạc phương tây, Ðại-Thế-Chí Bồ-Tát, thân trí sáng vô biên, khắp pháp giới Bồ-Tát. (1 lạy)

10.   – Chí tâm đảnh lễ: Cõi Cực-Lạc phương tây, Mạn-Thù (Mànjusri) Ðại-Bồ-Tát, thân thị hiện trí mầu, khắp pháp giới Bồ-Tát. (1 lạy)

11.   – Chí tâm đảnh lễ: Cõi Cực-Lạc phương tây, Phổ-Hiền Ðại-Bồ-Tát, thân hạnh nguyện sát trần, khắp pháp giới Bồ-Tát. (1 lạy)

12.   – Chí tâm đảnh lễ: Cõi Cực-Lạc phương tây, Thanh-tịnh-đại-hải-chúng, thân phước trí trang nghiêm, khắp pháp giới thánh chúng. (1 lạy)

(Kế tiếp, quỳ trước bàn Phật, chắp tay chí thành, đọc kệ sám hối:)

Quy mạng mười phương Phật

Tôn Pháp, Hiền Thánh Tăng

Tam thánh cõi Cực-Lạc

Xin thương xót chứng minh

Vô-thỉ kiếp đến nay

Con mê lạc luân hồi

Do bởi tham, sân, si

Từ nơi thân, khẩu, ý

Tạo Tứ-trọng, Ngũ-nghịch

Thập-ác, vô-biên tội.

Nay đem tâm chí thành

Tỏ bày cầu sám hối

Nguyện nhờ sức gia trì

Chúng sanh đều thanh tịnh

Xin phát đại-bồ-đề

Ðộ mình người giải thoát.

 

Nam mô Cầu-sám-hối Bồ-tát ma-ha-tát. (3 lần)

 

(Ðứng chắp tay xướng:)

Ðệ tử sám hối phát nguyện rồi, chí tâm đảnh lễ Tam bảo.

(1 laỵ)

 

B-    PHẦN TRÌ CHÚ NIỆM PHẬT.

 

(Ngồi kiết-già hoặc bán-già trước bàn Phật. Tịnh tâm trong giây phút, rồi tưởng chữ (Ra)sắc trắng trên đầu, phóng ánh sáng đỏ. Kế dùng ấn Kiết-tường viết và tưởng chữ Ram cùng chữ Hùm đều sắc trắng, gia-trì hai lòng bàn tay và chuỗi, mỗi nơi ba lần. Lại tiếp dùng ấn Kiết-tường, gia-trì chân-ngôn sau đây nơi tràng chuỗi, xong búng ba cái, xả ấn trên đảnh):

 Gia trì sổ châu chân-ngôn:

Aum ! Vairocana mara svàhà. (7 lần)

(Ðọc: Um ! Vai rô ca na ma ra xoá ha. Xả ấn xong vẫn ngồi chắp tay tụng bài Hương tán:)

 

Nguyện mây hương mầu nầy

Hiện khắp mười phương cõi

Tất cả các Phật độ

Vô lượng hương trang nghiêm

Ðầy đủ Bồ-tát-đạo

Thành tựu Như-Lai hương.

 

Nam mô Hương-vân-cái Bồ-tát ma-ha-tát. (3 lần)

 

(Vẫn chắp tay tụng tiếp bài tán Vô Lượng Thọ)

 

Quang, thọ khó suy lường

Sáng lặng khắp mười phương

Thế-Tôn Vô­-Lượng-Quang

Cha lành cõi Liên-bang

Thần-lực chẳng tư-nghì

Sống lâu A-tăng-kỳ

A-Di-Ðà Như-Lai

Tiếp dẫn lên liên-đài

Cực-Lạc cõi thuần tịnh

Công đức lạ trang nghiêm

Nơi tất cả quần sanh

Vượt lên ngôi Bất-thối

Mười phương hằng-sa Phật

Ðều ngợi khen Vô-Lượng

Cho nên hôm nay con

Nguyện sanh về An-Dưỡng.

 

            Nam mô Liên-trì-hải-hội Phật-Bồ-Tát (3 lần)

 

            (tiếp tụng):

 

*Phổ thanh tịnh chân ngôn:

Aum ! Svabhàva suddha, sarva dharma, svabhàva suddha hàm.

Aum ! Ram ram ram.   (7 lần)

(Ðọc: Um ! Soa phạ va suýtđa, sạtva đạt ma, soa phạ va suýt đa hàm.

Um ! Răn răn răn.

Khi tụng chú nầy, kiết Chuẩn-Ðề biệt-ấn. Cả hai tay, ngón cái nắm co ba ngón: trỏ, vô danh và út. Kế hiệp hai tay lại, hai ngón giữa dụm đầu nhau dựng đứng. Tụng xong xả ấn nơi đảnh. Ðây là phối hợp chú Tịnh-tam-nghiệp và Tịnh-pháp-giới. Chân ngôn nầy có công năng khiến cho bên trong: thân, khẩu, ý, y phục, bên ngoài từ chỗ ở của mình đến hoàn cảnh rộng xa đều thanh tịnh. Do chú nầy tội chướng đều được tiêu trừ và có thể thành tựu các việc thù thắng).

*  Hộ thân chân ngôn:

Aum ! Vajra agni pra nàmbidháya svàha.

Aum ! Sram sram sram.                    (7 lần)

(Ðọc: Um ! Va ji ra, a nghĩ ni, bá-ra năm bì đá da soá ha.

Um ! Si răn, si răn, si răn.

Khi tụng chú nầy, kiết ấn Bị-giáp-hộ-thân. Hành-giả xoa hai tay vào trong, hữu áp tả, hai ngón dựng đầu dính nhau, hai ngón cái áp vào ngón vô danh. Hai ngón trỏ cong lại như lưỡi câu,  nhưng không đụng vào lưng hai ngón giữa. Ðây là phối hợp chú Hộ-thân trong nghi Thập-bát-đạo và Mạn-Thù-Nhất-tự chân ngôn. Khi kiết ấn tụng chú nầy, thân của đương-nhơn liền được mặc giáp-trụ. Tất cả loài ma làm chướng ngại, bỗng thâý hành giả oai đức tự tại, ánh sáng bao phủ chói ngời, liền tan rã bỏ chạy. Sức chân-ngôn nầy có thể bảo vệ được bản thân và tất cả mọi người xung quanh. Các ách nạn như: nước, lửa, cọp, sói, sư tử, dao gậy, gông xiềng thảy đều tiêu diệt. Khi tụng chú nầy xong 7 biến liền xả ấn nơi đảnh. Kế hai tay đều kiết ấn Kim-cang-quyền, ngón cái bấm vào gốc ngón vô danh, nắm chặt lại. Rồi đem ấn in vào các nơi: trán, yết hầu, hai vai, ngực, rún, hai bắp đùi, sau thận môn, xương gu sau cổ, và đảnh rồi xả ấn. Trong khi ấy miệng tụng chữ Hùm liên tiếp, cho đến khi xả mới thôi. Ðây là pháp thức trấn tà ma không cho xâm nhập vào thân).

Vô-lượng-Thọ Như-Lai chân-ngôn:

Namo ratnatrayaya. Namo arya. Amitábàya. Tatthagatáya. Arahati. Samyaksambuddhàya. Tadyatha ! Aum ! Amirti. Amirto nabàvé. Amirtá sambàvé. Amirtá gabé. Amirtásuddhé. Amirtá sité. Amirtá vicalanté. Amirtá vicalantá gàmini. Amirtá gàgana kiti cali. Amirtá lodo visabhàli. Sarvarithá sadhàni. Sarva macali. Saksá ỳucali. Svàhà. Aum !  Bhrum hùm ! (54 hoặc 108 lần).

(Ðọc: Na mô rát na tra da da. Na mô a rị da. A mi tá bà da. Tát tha ga tá da. A ra ha ti. Sam dắt sam buýt đà da. Tát da tha. Um ! A mi rị ti. A mi rị tô na bà vê. A mi rị tá sam bà vê. A mi rị tá ga bê. A mi rị tá suýt đê. A mi rị tá si tê. A mi rị tá vi ca lăn tê. A mi rị tá vi ca lăn tá ga mi nị. A mi rị tá gà ga na ky ti ca li. A mi rị tá lô đô vi sa phạ li. Sạt va rị thá sa đà ni. Sạt va ma ca li. Sa khất sá du ca li. Soá ha ! Bút rum hùm ! – Khi tụng chân-ngôn nầy kiết ấn Vô-lượng-liên-hoa. Hai tay xoa bên ngoài hữu áp tả. Dựng hai ngón giữa đầu dụm cong lại như cánh sen. Có thể kiết ấn nầy, tụng chân ngôn ba lần, xã ấn lên đảnh, rồi lần chuổi ký số. Ðà ra ni nầy, tụng một biến, diệt các tội Tứ-trọng, Ngũ-nghịch, Thập-ác trong thân, tất cả tội chướng thảy đều tiêu diệt. Nếu hàng xuất gia tăng ni, hoặc tại gia thiện tín, phạm giới căn bản, tụng xong bảy biến trở lại được giới phẩm thanh tịnh. Khi kiết ấn tụng chân ngôn nầy, liền cảnh giác đức Vô-lượng-Thọ Như-Lai phóng quang trụ nơi đảnh của hành giả và được sự nhiếp thọ. Tụng đến một vạn biến, tâm bồ đề hiển hiện trong thân không quên mất. Người trì niệm lần-lần thể nhập vào tịnh tâm tròn sáng mát-mẻ trong sạch như trăng thu, tiêu tan tất cả phiền não. Khi lâm chung, hành giả thấy Phật A-Di-Ðà cùng vô lượng trăm ức chúng Bồ-tát vây quanh đến an ủi tiếp dẫn. Ðương nhơn liền sanh về phẩm Thượng-thượng ở Cực-Lạc.  Câu: Aum ! Bhrum hùm là chân ngôn Nhứt-tự-chuyển-luân,  như bánh xe nâng đỡ, khi phối hợp vào, có công năng làm cho các chân ngôn khác mau kiến hiệu và thành tựu.

Trên đây là pháp-thức Tịnh-độ của Mật-giáo. Các vị tu Mật-tông muốn sanh về cực lạc, chỉ chuyên tụng chú nầy. Tệ-nhơn vì xét thấy nhiều liên-hữu khi tu bị phiền-não và ma nạn khuấy rối, nên phối hợp dụng chân-ngôn nầy đi tiên –phong dẹp các chướng ngại,  khiến cho thân tâm dễ được thanh tịnh trước khi niệm Phật. Tuy nhiên chúng sanh túc-tập và sở-háo đều khác. Vị nào thích tụng chú Ðại-bi hoặc Chuẩn-đề thì chỉ cần đổi bài kệ tán Ðại-bi, Chuẩn-đề và sau khi tụng chú Hộ-thân. Lục-tự-đại-minh, tiếp tụng môn đà-ra-ni của mình. Và hành giả nào thích tụng kinh Kim-cang hoặc Pháp-hoa, chỉ đổi đoạn trì chú thành tụng kinh, rồi tiếp tục niệm Phật. Chân-ngôn Vô-lượng-Thọ thuộc về Bất-tư-nghì-thần-lực, câu niệm Phật thuộc về Bất-tư-nghì-công-đức. Cả hai, bên Mật bên Hiển, cùng một nguồn gốc, đều có năng lực đưa hành-giả về Tịnh-độ. Nếu phối hợp lại, tất công năng vãng sanh càng thêm kiến hiệu. Tụng chân-ngôn xong, tiếp chắp tay đọc bài kệ khen tướng hảo đức A Di Ðà và tiếp qua niệm Phật:  

Thân Phật Di Ðà vàng rực rỡ

Tuyệt vời tươi đẹp tướng trang nghiêm

Năm Tu-Di uyển chuyển ngọc-hào

Bốn đại-hải, biếc xanh liên mục

Vô-biên Hoá-Phật cùng Bồ-tát

Hiện đầy trong ánh diệu quang minh

Nguyện lành bốn tám độ hàm linh

Chín phẩm sen vàng sanh Cực-lạc.

 

Nam mô Tây-phương Cực-Lạc-thế-giới, đại từ đại bi tiếp dẫn đạo sư A Di Ðà Phật.

(Kế tiếp niệm: Nam mô A-Di-Ðà Phật. Chuyên tụng Vô-lượng-Thọ-Như-Lai Ðà-ra-ni cũng được vãng sanh, nhưng vì chân ngôn dài khó nhiếp tâm hơn sáu chữ hồng danh, nên sau khi trì chú lại tiếp niệm Phật).

Về cách trì niệm, tệ-nhơn lại phối hợp với môn Thiền, của Ngài Trí-giả khiến cho Thiền, Tịnh được dung hoà. Pháp thức nầy chia thành bốn giai đoạn đi từ cạn đến sâu:

1.      –Ký số niệm: Hành giả lấy mười câu làm một đơn vị, niệm xong mười câu lần một hột chuổi. Người hơi dài có thể niệm suốt.Như hơi ngắn thì chia thành hai đoạn, mỗi đoạn 5 câu. Cần phải niệm rành rẽ rõ ràng nhiếp tâm lắng nghe, ghi nhớ từ một đến mười câu. Vì còn sự ghi nhớ số ấy, nên gọi là ký số.

2.      – Chứng số niệm: Khi niệm đã thuần, thì không cần ghi nhớ từ một đến mười. Niệm đủ mười câu, liền tự biết một cách hồn nhiên đó gọi là chứng số. Lúc nầy tâm hành giả được tự tại hơn, ý niệm càng chuyên nhứt.

3.      – Chỉ quán niệm: Lúc mới niệm, dứt tất cả tư tưởng phiền tạp, duy yên tỉnh lắng nghe, gọi là Chỉ. Khi yên tỉnh đã lâu, tâm muốn hôn trầm, liền khởi ý niệm Phật tha thiết, như con sa vào vòng tội khổ gọi cha mẹ cứu vớt. Sự khởi ý tưởng đến Phật đó, gọi là Quán. Hai cách nầy cứ thay đổi lẫn nhau, tán-loạn dùng phép Chỉ, hôn trầm dùng phép Quán.

4.      Tịch tĩnh niệm: Khi Chỉ Quán đã thuần, hôn-trầm tán-loạn tiêu tan, hành-giả liền một niệm buông bỏ tất cả. Lúc ấy trong quên thân tâm, ngoài quên thế giới, đạo lý diệu huyền cũng xả, cho đến cái không cũng trừ. Bấy giờ tâm niệm vắng lặng sáng suốt, chỉ còn hồn nhiên một câu niệm Phật mà thôi. Ðến giai đoạn nầy Tịnh tức là Thiền, có niệm đồng với không niệm, tạm mệnh danh là Tịch-tĩnh-niệm.

Pháp thức niệm trên đây, sau nhiều năm bị chướng ngại trong lúc hành trì, tệ-nhơn đã suy tư nghiên cứu vạch ra một đường lối để áp dụng riêng cho mình. Nay cũng mong nó đem lợi ích lại cho hàng liên hữu.

C – PHẦN PHÁT NGUYỆN HỒI HƯỚNG.

(Sau khi trì danh đủ số, đến quỳ trước bàn Phật, chắp tay niệm):

Nam mô A Di Ðà Phật (10 câu)

Nam mô Quán Thế Âm Bồ tát (10 câu)

Nam mô Ðại Thế Chí Bồ tát (10 câu)

Nam mô Thanh Tịnh Ðại Hải Chúng Bồ tát (10 câu)

(Vẫn quỳ, chí tâm đọc bài kệ phát nguyện hồi hướng):

-- Nay con trì chú xưng niệm Phật

Thệ phát lòng Bồ-đề rộng lớn

Cúi xin xót thương nhiếp thọ con

Chứng minh sám hối và sở nguyện.

-- Về trứơc đến nay con tạo ác

Ðều do vô thỉ tham, sân, si

Từ thân, miệng, ý phát sanh ra

Tất cả, chí tâm xin sám hối.

-- Chúng-sanh vô biên thề nguyền độ

Phiền não vô tận thề nguyền dứt

Pháp môn vô lượng thề nguyền học

Phật đạo vô thượng thề nguyền thành.

-- Con nguyện lâm chung dự biết thời

Dứt trừ tất cả điều chướng ngại

Diên kiến Tây-phương Tam-thánh-Tôn

Liền được sanh về cõi Cực Lạc

--Xin đem công đức trì niệm nầy

Hồi hướng bốn ân và ba cõi

Nguyện khắp pháp giới các chúng sanh

Ðều sanh Cực Lạc thành Phật đạo.

(Năm bài kệ tuy đơn giản, song đầy đủ tất cả ý nghĩa. Hành giả có thể đọc nguyện văn khác mà mình ưa thích, nhưng phải đúng với ý nghĩa phát nguyện hồi hướng. Xong đứng lên xướng):

Chí tâm đảnh lễ: Ta-Bà giáo chủ, Bổn-sư Thích-Ca-Mâu-Ni Phật, Tây-phương Cực-Lạc thế-giới, Tiếp-dẫn đạo-sư A-Di-Ðà Phật, đại-bi Quán-Thế-Âm Bồ tát, đại-lực Ðại-Thế-Chí Bồ tát, Thanh-Tịnh-Ðại-Hải-Chúng Bồ tát thập phương tam thế biến pháp giới Tam bảo.

(Lễ ba lạy lui ra).

Chung.


---o0o---

Vi tính: Thích Đức Tuấn

Trình bày: Nhị Tường

Cập nhật: 1-10-2002

 


Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về trang Mục lục

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp cho Trang Nhà qua địa chỉ: quangduc@quangduc.com
Địa chỉ gởi thư: Tu Viện Quảng Đức, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic. 3060. Tel: 61. 03. 9357 3544