Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Tịnh Độ


......... .

 

Vãng Sinh Tịnh Độ Luận Giảng Ký
Tác giả: Ấn Thuận Đại Sư

Vô Lượng Thọ Kinh Ưu Bà Đề Xá
Nguyện Sinh Kệ Chú
Lược Luận Tịnh Độ
Tác giả: Đàm Loan Đại Sư
Việt dịch : Thích Nhất Chân

 

 

---o0o--- 

 

 

MỤC LỤC

 

 

LỜI TỰA

Tịnh Ðộ không phải chỉ là lý tưởng của Tịnh Ðộ tông, mà còn là khuôn mẫu lý tưởng chung cho mọi tông phái của Ðại thừa Phật giáo nữa.

Người ngoài cũng như Phật tử nói chung, thường bị quan niệm thanh tịnh cá nhân (tức lý tưởng của Tiểu thừa) ám ảnh đến mức độ như tin chắc rằng Phật giáo chỉ là con đường để thanh tịnh cá nhân đến mức tuyệt đối toàn hảo. Ðại thừa bị nghi ngờ là hậu sinh và bị pha trộn đủ thứ lệch lạc trong đó. Thậm chí có người còn cho Ðại thừa không phải là Phật giáo mà chỉ là một nỗ lực của ngoại đạo để phá hoại Phật giáo “nguyên thủy” chính thống. Lý do chẳng qua là vì Ðại thừa hoàn toàn đượm mùi vị tôn giáo tập thể, phản ngược lại với chất vị cá nhân thuyệt đối trong sạch của Tiểu thừa “nguyên thủy”.

Một sự thẩm xét thấu đáo về Ðại thừa sẽ cho thấy rằng những ám ảnh trên là hoàn toàn sai lầm. Lịch sử Phật giáo cũng chứng thật rõ ràng là Ðại thừa không hề phá hoại Tiểu thừa, cũng không hề tiếp tay với ngoại đạo. Trước sau Ðại thừa vẫn là Ðại thừa và hoàn toàn là Phật giáo. Ðại thừa cũng không hề xóa bỏ con đường thanh tịnh của cá nhân, trái lại sự thanh tịnh ấy, đối với Ðại thừa, lại chính là chân lý tuyệt đối phổ biến khắp mọi nơi và mọi loài. Ðại thừa có thể nói với Tiểu thừa rằng: “Chúng ta chẳng có gì khác nhau, chẳng qua anh cá nhân và tôi tập thể mà thôi. Tất cả mọi nỗ lực của tôi làm là để thành tựu sự thanh tịnh cho tất cả chúng sinh. Anh tôn thờ Phật như một cá nhân hoàn toàn thanh tịnh, tôi tôn thờ Phật như một pháp thân thanh tịnh biến khắp không gian thời gian, mà mỗi vị Phật xuất hiện trong đời chỉ là một hiện thân cá nhân của pháp thân thanh tịnh ấy mà thôi. Anh thực hiện sự thanh tịnh viên mãn để Niết Bàn hóa toàn thể hiện hữu của cá nhân anh, tôi thực hiện sự thanh tịnh viên mãn cho toàn thể chúng sinh để tịnh độ hóa toàn thể vũ trụ...”.

Tóm lại, theo Ðại thừa, cái chân lý viên mãn mà đức Phật giác ngộ ra không phải Tiểu thừa mà cũng chẳng phải Ðại thừa, không phải ngoại đạo cũng chẳng phải Phật giáo. Nó vốn cứu cánh thanh tịnh tuyệt đối dứt mọi ngôn ngữ và tư tưởng. Tuy thế nó lại là nền tảng duy nhất cho toàn thể mọi xu hướng hiện hữu, nó là nguồn năng lực sinh khởi bất tận cho mọi sự hữu được hiện hữu. Nó là tất cả, là toàn thể. Song không phải vì thế mà cái gì cũng là Phật giáo được. Cái tính chất “là tất cả” của tất cả chân lý này, Phật giáo không hề chịu chia xẻ chung với Ấn Ðộ giáo. Cái nguyên lý “là tất cả” nầy là nguyên lý củ sự giác ngộ của đức Phật, chứ không phải là nguyên lý của một năng lực huyền bí bao trùm khắp vũ trụ, mà loài người cứ tha hồ võ đoán là thần lực hay Thượng Ðế... nói cách khác cái nguyên lý “là tất cả” nầy đã được giác ngộ hóa cũng như thanh tịnh hóa, thế nên toàn thể vũ trụ, tất cả các pháp, đều là giác ngộ, đều là thanh tịnh, đều là Phật pháp.

Do đó, tuy chân lý tuyệt đối phải là chân lý chung của mọi loài, mọi tôn giáo, song nếu nó chưa được giác ngộ hóa và thanh tịnh hóa, thì nó không có một tác dụng gì hơn là một giấc mộng “vũ trụ” biến diệt bất tận và vô nghĩa. Nó thật sự không đưa lại một lối thoát, mà chỉ đưa lại một nguyên lý thần lực tuyệt đối áp đặt vào thân phận của muôn loài. Khi ấy Phật giáo từ chối nó như là chân lý tuyệt đối, mà chỉ coi đó là một nguồn lực vô minh bao trùm khắp mọi loài.

Như thế, với Ðại thừa, vô minh và giác ngộ có chung một nguyên lý tuyệt đối. Song trong giới hạn của vô minh, nguyên lý tuyệt đối này là một thảm họa cho muôn loài. Một khi thoát vào thế giới giác ngộ, nguyên lý tuyệt đối sẽ thanh tịnh hóa và giải thoát cho tất cả mọi cõi mọi loài. Và chỉ với giác ngộ, nguyên lý tuyệt đối này mới được coi là chân lý. Do đó, nếu thiếu giác ngộ, (hay rõ hơn, nếu thiếu một vị Phật) sẽ không thể có chân lý tuyệt đối, không thể có Niết Bàn, an lạc, giải thoát chân thật, dù cái nguyên lý tuyệt đối của muôn loài vẫn luôn luôn có mặt ngay đây.

Vì vậy, một mặt chân lý của đạo Phật là chung cho tất cả chứ không riêng gì của Ðại thừa, song mặt khác chỉ có xu hướng Ðại thừa mới duy nhất hiển lộ ra được toàn thể chân lý chung hết cho mọi loài. Bởi chỉ có xu hướng Ðại thừa mới lấy sự giác ngộ của đức Phật làm lý tưởng cứu cánh, con đường Ðại thừa mới nuội dưỡng và phát triển ánh sáng giác ngộ ấy đến mức viên mãn.

Mà đến mức viên mãn có nghĩa là đưa ánh sáng giác ngộ từ cá nhân sang thấm nhập vào tất cả mọi hiện hữu cho đến khi toàn thể hiện hữu đều trở nên hoàn toàn thanh tịnh trong ánh sáng giác ngộ. Khi ấy thế giới trở thành Tịnh Ðộ và cá nhân giác ngộ trở thành pháp thân thanh tịnh biến khắp không và thời gian. Ðây là cảnh giác ngộ viên mãn và chân thật nhất của một vị Phật, và là khuôn mẫu lý tưởng của Ðại thừa Phật giáo vậy.

Ðại thừa trở thành một tôn giáo, bởi đối tượng của Ðại thừa giờ đây là pháp thân thanh tịnh Phật, một thật thể siêu việt nhưng tích cực biến hiện cùng khắp theo nguyên tắc giác ngộ và tịnh hóa mọi loài. Ðồng thời Ðại thừa vẫn là con đường thành tựu thanh tịnh của cá nhân, bởi mỗi cá nhân tin tưởng đều có bổn phận phải thành tựu pháp thân thanh tịnh kia qua sự giác ngộ của mình để cứu độ tất cả chúng sinh.

Trong tiến trình thực hiện sự giác ngộ để thành tựu pháp thân, Tịnh Ðộ (và báo thân Phật) là một điều không thể thiếu sót được cho hành giả Ðại thừa. Ðó là huyết mạch giao thông giữa hành giả và thập phương chư Phật, qua đó hành giả thân chứng từ từ ra được pháp thân phổ biến vô cùng tận. Do đó sự thể nhập vào Tịnh Ðộ của Phật A Di Ðà là một phương tiện tối cao, tối cần thiết, và không thể không có được cho một hành giả Ðại thừa. Và sự thể nhập chỉ hoàn toàn đúng nghĩa khi hành giả trở thành một với Tịnh Ðộ, nghĩa là qua sự vãng sinh để trở thành một thành phần (một con dân) của Tịnh Ðộ. Sự vãng sinh để thể nhập nầy có thể thực hiện được là bởi toàn thể vũ trụ đã được quang minh trí tướng của A Di Ðà Phật tịnh hóa đã được mười kiếp nay rồi, song chúng ta vẫn cứ hóa hiện theo nguyên tắc của vô minh nên vẫn không hề hay biết, song như thế có nghĩa là chúng ta đã ở sẵn trong Tịnh Ðộ rồi, vấn đề chỉ còn là rũ bỏ tất cả mọi nghiệp lực vô minh của cá nhân qua sự chết và bằng lòng đón nhận Tịnh Ðộ qua niềm tin quyết liệt. Do đó thể nhập vào Tịnh Ðộ, niềm tin là căn bản tiên quyết. Hành giả Ðại thừa cần phải có lòng tin tuyệt đối vào Tịnh Ðộ và buông bỏ hết mọi dính dấp với sáu cõi vô minh. Tịnh Ðộ trở thành thật thể của hành giả, khi ấy trí huệ thể nhận ra pháp thân cùng đại nguyện cứu độ toàn thể chúng sinh sẽ được phát hiện và thành lập. Và con đường Bồ tát đạo mở rộng ra trước hành giả...

Tịnh Ðộ như thế là chung cho các hành giả Ðại thừa chứ không riêng gì của Tịnh Ðộ tông. Vãng Sinh Luận ở đây do Thế Thân (Vasubandhu) Bồ Tát tạo, và được giảng giải qua hai bậc Ðại sư khả kính: Ấn Thuận Ðại sư, một cao tăng hiện đại của Trung Hoa, và Ðàm Loan Ðại sư, một bậc cổ đức của triều đại nhà Tùy bên Trung Hoa. Thế Thân vốn là tổ của Duy Thức học; Ấn Thuận là một bậc bác học về tạng kinh điển, nhưng có thiên về tính Không học; Ðàm Loan như khai tổ của Tịnh Ðộ học vậy, bởi có lẽ trước ngài không ai khai triển hay đả động gì đến Tịnh Ðộ... Như thế đủ thấy mọi xu hướng của Ðại thừa một khi đi sâu vào chân ý nghĩa của Ðại thừa, ắt hẳn sẽ gặp nhau nơi Tịnh Ðộ.

Những sự hiểu lầm về Tịnh Ðộ cần phải được tẩy rửa đi, lòng tin vào Tịnh Ðộ cần phải được thành lập, trước khi chúng ta có thể đặt bước vào con đường Ðại thừa Bồ Tát đạo. 

  

GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ ẤN THUẬN VÀ ÐÀM LOAN

 

ẤN THUẬN ÐẠI SƯ (1906)

 Ấn Thuận Ðại sư người huyện Hải Ninh, tỉnh Triết Giang, sinh năm 1906.

Ngày 11 tháng mười năm 1920 (Dân Quốc 19) được lão hòa thượng Thanh Niệm trụ trì Phước Tuyền Am tại Phổ Ðà Sơn thế độ cho, đặt phàp danh là Ấn thuận, hiệu là Thanh Chánh. (việc xuất gia của Ấn Thuận là do sự đồng ý , chỉ thị của Dục Sơn Thượng Nhân, giới huynh của Thái Hư Ðại sư).

Cuối tháng mười 1920 (Dân Quốc 19), đến thiên Ðồng Tự thọ giới. Giới Hòa thượng (Hòa Thượng đàn đầu) là Viên Anh Lão Pháp sư.

Tháng 2, 1931 (Dân Quốc năm 20, ngài 26 tuổi) được sự đồng ý của tiên sư, Ấn Thuận đến Mân Nam Phật học viện, chùa nam Phổ Ðà ở Hạ Môn cầu pháp. Vào học lớp sơ cấp, mùa hạ chưa hết lại bị bệnh. Từ đó không khôi phục tinh thần lại được bình thường, cơ thể suy yếu nhiều.

Ðầu tháng tám, đại diện cho viện trưởng Ðại Tinh Pháp sư phái ngài đến Dũng Tuyền Phật học viện ở Cổ Sơn dạy học.

Năm 1932 (Dân Quốc 21, ngài 27 tuổi), đầu học kỳ, Ðại Tinh Pháp sư yêu cầu Ấn Thuận dạy lại chính lớp mà khi trước ngài (Ấn Thuận) vào học.

Ðược ít lâu, Ấn Thuận bèn tự nghĩ: “Mình phát tâm xuất gia vì cầu pháp. Học chưa đầy bốn tháng lại ở chính nơi đây làm giảng sư, thật chẳng biết tàm quý. Ở đây không thể đạt được nguyện vọng cầu pháp của mình, mình phải tự tìm cầu. Nghĩ thế, Ngài bèn biên thư về Phước Tuyền Am nhờ biên thư kêu ngài trở về gấp vì lý do khẩn.

Mùa hạ 1932 (27tuổi), đến chùa Huệ Tế - núi Phật Ðỉnh, ở Lầu Kinh đọc Ðại Tạng. Ở đây được một năm rưỡi để đọc chương sớ của Tam Luận Tông.

Tháng một 1934 (29 tuổi) lại đến Vũ Xương Phật học viện, tại đây lần đầu tiên được lễ kiến Thái Hư Ðại sư. Sau đó đi Nam Kinh, đến thăm Cổ đạo tràng của Tam Luận Tông. Trở lại Vũ Xương ở đấy nửa năm, đọc xong chương sớ của Tam Luận Tông, và sau đó trở lại núi Phật Ðỉnh.

Khoảng tháng 6, 7 nhận được thư của Thái Hư Ðại sư và Thường Tinh Pháp Sư, viện trưởng đại học Mân Nam mời ngài đến Hạ Môn (Mân Nam Phật học viện).

Ðến Hạ Môn được nửa năm (1/1935, 30 tuổi), trở lại Thượng Hải, sau đó về Lầu Kinh ở núi Phật Ðỉnh, duyệt tạng kinh đến mùa thu năm 1936 (Dân Quốc 25, 31 tuổi) đọc xong Ðại tạng.

Ấn Thuận Ðại sư là một trong những hiện đại danh tăng lỗi lạc nhất hiện cư ngụ tại Ðài Loan (Ðài Trung). Tuy nhiên lạp đã cao nhưng ngài vẫn ngày đêm nghiên cứu thêm về Phật Pháp, viết rất nhiều tác phẩm Phật giáo.

Ngoài những tác phẩm lẻ mà sau này được kết lại thành bộ Diệu Vân Tập, còn được biết thêm những tác phẩm của ngài như:

-         Nguyên Thủy Thánh điển chi tập thành,

-         Ðại thừa sơ kỳ Phật giáo, khởi nguyên dữ khai triển,

-         Như Lai tạng chi nghiên cứu v.v...

(Theo “Hoa Vũ Hương Vân” của Ấn Thuận).

 

Ðàm Loan Ðại Sư (476-542) 

Truyền thống Tịnh Ðộ Trung Hoa coi Lô Sơn Huệ viễn (334-416) Ðại sư như sơ tổ và không hề đề cập gì đến Ðàm Loan Ðại sư hết. Tuy nhiên theo truyền thống Tịnh Ðộ Nhật Bản thì Ðàm Loan Ðại sư lại được coi là Thủy Tổ, bởi Tịnh Ðộ Nhật Bản tryền thừa theo hệ Ðạo Xước và Thiện Ðạo, mà Ðạo Xước và Thiện Ðạo lại liên hệ và bị ảnh hưởng chính yếu bởi Ðàm Loan.

Theo “Tục Cao Tăng truyện”, Ðàm Loan vốn người Nhạn Môn, tỉnh Sơn Tây. Nhân du ngoạn Ngũ Ðài Sơn, thấy tâm thần thư thái, bèn phát tâm xuất gia. Ngài học rộng về cả nội, ngoại điển, nghiên cứu thâm sâu về bốn luận (Trung, Bách, Thập nhị môn luận và Ðại trí Ðộ Luận), cùng các vấn đề về Phật tính. Một hôm đang duyệt đọc Ðại tập Kinh, thấy từ ngữ rất thâm mật, khó cho người hiểu, nên ra sức chú giải. Ðược nửa phần, bỗng nhiên phát bệnh. Sau tuy có khỏi, nhưng nghĩ đến đời người vô thường, nên lập chí tìm học thuật trường sinh trước, rồi mới hoằng đạo sau. Do đó mới lần về phương Nam, đến Nam Kinh thuộc tỉnh Giang Tô vào năm Ðại Thông triều Lương Vũ Ðế. Lương Vũ Ðế tiếp kiến tại Trùng vân điện, hỏi về vấn đề Phật tính. Sau đó, tại Thái Vân điện hỏi thăm Ðại sư cớ gì tìm đến phương Nam. Ngài bèn cho biết muốn tìm Ðào Quân để học phép tiên. Ðế giới thiệu cho Ðào quân, tức Ðào Hoằng Cảnh, tiếp đãi ân cần và tặng cho Ðại sư mười quyển tiên kinh. Ðại sư được tiên kinh, muốn tìm ngọn núi ẩn cư tu luyện. Trên đường trở về Bắc Ngụy, ngang qua lạc Dương, gặp gỡ Tam Tạng Bồ Ðề Lưu Chi, mới hỏi thăm trong Phật pháp có chăng phương pháp bất tử hơn hẳn tiên kinh của Trung Quốc? Lưu Chi Tam Tạng bác bỏ tiên kinh, cho rằng dù có được trường sinh bất tử, nhưng chung cuộc vẫn thuộc ba cõi luân hồi! Trường sinh bất tử chân chính duy chỉ có Phật đạo. Rồi trao cho Ðại sư Quán Vô Lượng Thọ Kinh, bảo y theo đó mà tu hành, sẽ được giải thoát và trường thọ vĩnh viễn. Ðàm Loan vâng theo, đốt hết tiên kinh và chuyên tu theo Di Ðà Tịnh Ðộ Pháp môn. Lại dạy bảo tăng tục tự thực hành và dạy người khác hành. Giới đế vương Bắc Ngụy thời ấy tôn trọng đức ngài, sắc phong là Thần Loan, và sắc trụ tại Ðại Nghiêm Tự ở Tinh Châu. Sau ngài dời về Huyền Trung Tự ở Phần Châu tập chúng huân tu niệm Phật pháp môn. Ngài thị tịch vào triều Ðông Ngụy, tháng 5 năm Hưng Hòa thứ 4.

Tác phẩm do Ðàm Loan trước tác không có bao nhiêu. Ngoài “Ưu bà Ðề Xá Nguyện Sinh Kệ chú” (2 quyển) ở đây ra, còn có “Tán Di Ðà Phật kệ” (1 quyển) và “Lược Luận An Lạc Tịnh Ðộ Nghĩa” (1 quyển).

(Phỏng theo “Trung Quốc Tịnh Ðộ Giáo lý sử” của Vọng Nguyệt Tín Ðình).

 ---o0o---

[ Mục Lục ] [ Phần 1] [ Phần 2] [ Phần 3 ] [ Phần 4 ]

 

---o0o---

Vi tính: Diệu Xuyến

Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 07-2003

 


Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về trang Mục lục

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp cho Trang Nhà qua địa chỉ: quangduc@quangduc.com
Địa chỉ gởi thư: Tu Viện Quảng Đức, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic. 3060. Tel: 61. 03. 9357 3544