Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh

qd.jpg (8936 bytes)

Văn Hóa Phật Giáo


   

 

PHẬT GIÁO VÀ PHONG TỤC VĂN HÓA

MỖI NĂM MỘT CHUYỆN

VIÊN CHIẾU 

MỤC LỤC

Lời Ngỏ

Như Đức

Kể Chuyện Con Dê 

Năm Thân Nói Chuyện Tây Du  

Chuyện Gà

Con Chó Và Phật Tánh 

Chuyện Năm Hợi  

Chuột VàngChuột Trắng 

Con Trâu Trong Truyện Tây Du  

Bài Luận Chăn Trâu 

Năm Cọp Chuyện Cọp  

Cọp Dân Gian

Năm Mèo Nói Chuyện Mèo  

Năm Thìn Kể Chuyện Rồng  

Con Rồng Và Những Liên Hệ Phật Giáo

Chuyện Con Ngựa  

Hạnh Huệ

Cọp Chính Là Mi  

Cọp Trong Kệ Thiền  

Nam Tuyền Trảm Miêu

Sự Ràng Buộc Khủng Khiếp 

Như Trung

Năm Thân Gặp Khỉ  

Hạnh Đạt

Thiền Tông Mục Ngưu

Phụ bản

Đồng Kính

Cưỡi Cọp

Viên Thể

Vĩnh Biệt Lem Lùn 

Thuần Bạch, Bạch Mai,

Uyên Phương, Phổ Quang Đức

 

Lời ngỏ 

Theo truyền thống Á Đông, mỗi năm đều có một con vật biểu tượng. Mười hai năm một chu kỳ gọi là mười hai con giáp. Viên Chiếu cũng mượn chuyện các con vật có liên hệ đến thiền sư, đến chuyện tu hành để gọi là “Văn dĩ tải đạo”. Gom góp tích lũy đến nay, được mười một con, chuyện năm con rắn không biết vì sao thất lạc. In ra đây gọi là tiêu khiển thời gian buổi tàn niên.

Viên Chiếu

Lập Đông Nhâm Ngọ – 2002 

 

Kể Chuyện Năm Mùi 

Tin vào cái mình sẵn có là điều mà Thiền muốn khơi dậy, mở mắt cho chúng ta. Đủ niềm tin thì không còn thấy mình nghèo, đụng gì cũng vơ vét, cũng dồn chứa, cũng nhai nuốt như con dê đói.

 

KỂ CHUYỆN CON DÊ 

Bà Tín Pháp (Bà Sáu, má của Hạnh Chứng) ra thăm Viên Chiếu, thấy đất vườn rộng rãi, quý cô đông, mà coi bộ thiếu sữa, bèn gợi ý:

- Kiếm nuôi một con dê lấy sữa uống. Sữa dê bổ lắm. Không tốn công bao nhiêu đâu.

Đã qua kinh nghiệm chăn bò nên chúng tôi né. Dê cũng như bò, trâu… lúc nào cũng thấy chúng quơ mõm ngắt, bứt, ngoạm, ngốn bất cứ thứ gì trước mắt, làm kẻ mục tử chạnh lòng nhớ câu: 

Thùy tri bộ bộ phạm gia miêu.

Ai hay từng bước phạm mạ non.

Đích đáng hơn, ngài Triệu Châu thượng đường quở: “... Giống in như con dê gặp vật gì cũng liếm cũng nhai...’’. Ngài Lâm Tế rầy nặng: “Học giả thời nay hoàn toàn không biết pháp, ví như nắm mũi con dê để thức ăn vào miệng nó, không phân biệt...”

Ngày nhỏ ê a câu “Con bò, con bò là loài nhai lại”. Dê cũng thuộc loại nhai lại. Ăn hết bao nhiêu sắc, thanh, hương rồi, lúc rỗi rảnh để cho mấy cái “Lạc tạ ảnh tử” (Bóng dáng rơi rớt của sáu trần) đó nhí nhố trong đầu mình, té ra mình đang nhai lại!

Các thiền sư sử dụng ngôn ngữ rất đặc biệt, không nói mình nhai lại sáu trần mà nói mình bị “sáu trần nuốt… sống”. Thí dụ như xem phim Xóm Vắng, đến lúc nữ diễn viên vào nhà thờ làm đám cưới, đưa tay ra chờ đeo nhẫn. Bàn tay trên màn ảnh vừa đưa ra, dưới khán giả cũng có người tự động đưa bàn tay mình ra, chờ đợi. Tập phim dài ba mươi tiếng, ngày nào bà Sáu cũng chịu khó đi, về bằng xe buýt lên nhà bà con xem. Hôm kết thúc, các cháu thấy ngoại về bằng xe xích-lô, về tới nhà còn kéo nón che mắt. Bà nói:

- Phim hay quá! Tao coi rồi khóc mờ mắt, không thấy đường về. Phải đi xích-lô.

ĐẠO SĨ CỐT DÊ

Thầy trò Đường Tăng đi ngang nước Xa Trì, quốc vương nước này trọng đạo sĩ, khinh thầy chùa, Tôn Hành Giả trổ tài đấu phép với ba quốc sư, với lời cam đoan là thua chết bỏ, nếu thắng chỉ xin cấp độ điệp cho thầy qua ải. Hai quốc sư đạo sĩ đầu bị thua cuộc chết lộ nguyên hình cốt cọp, cốt nai. Đạo sĩ thứ ba mới trổ tài tắm dầu sôi. Hành Giả tắm trước, giữa chảo dầu bốc nóng thấy Bát Giới đứng cạnh thầy,  chạnh lòng nghĩ mình cực khổ mà ít khi được vinh dự gần bóng Tôân sư, bèn biến mất. Quân canh chảo dầu hô:

- Thầy chùa nhỏ chết rồi!

Thò vá vớt mì vào chảo, mò tìm hoài không được chút xương. Vua sai dẫn thầy trò đem chém, Tam Tạng xin được cúng cơm cho Hành Giả, gọi là chút tình sư đệ. Cơm nước mang ra, Tam Tạng vịn chảo khóc lóc. Bát Giới nói:

- Thầy cúng cơm mà không đọc văn tế. Để con làm bài văn tế ảnh cho mát dạ dưới suối vàng.

Bèn đọc lớn:

Hỡi ôi!

Xưa những làm hung

Nay đà chết tốt

Tuốt luốt chức Mã Ôn

Rụi mịn đời khỉ đột. ...

 (Số là Bát Giới biết Hành Giả tài phép quảng đại, chết chóc gì, nên kiếm chuyện ghẹo chơi). Nghe Bát Giới đọc văn tế, Hành Giả nổi xung hiện nguyên hình giữa chảo dầu, hét:

- Thằng ăn hèm, mi nói xóc óc ai đó?

Rồi nhảy ra, nắm áo đệ tam Quốc sư, bảo:

- Vào tắm cho mau!

Quốc sư có rồng lạnh theo bảo hộ nên nước dầu sôi nguội ngắt. Hành Giả niệm chú bảo Long Vương thâu rồng lạnh, Quốc sư chới với giữa chảo, chết hóa thành bộ xương dê.

Trên đường thỉnh kinh, Đường Tăng gặp vô số yêu ma, cọp, beo, hùm, gấu, dê, thỏ, chồn, cáo... chúng cũng là biểu trưng cho thú tánh, muốn vê tròn công quả, chúng ta phải vượt qua mới thắng cuộc.

TIẾN SĨ LƯNG DÊ

Truyện cổ Việt Nam có ghi lại một vị tiến sĩ, sau lưng có da dê, dù tắm rửa, kỳ cọ, cạo gọt gì cũng không mất. Nói rằng, hồi đi đầu thai, ông là vong hồn lốt dê. Đến chỗ thay áo, trên đó treo sẵn các thứ da của thượng cầm hạ thú. Có bộ đồ dành cho người, nào y phục nhà quan, nhà dân... Quỷ sứ đứng sau, thúc giục mỗi loài chui vào đội lốt. Ông được đưa cho bộ y phục nhà quan, cổi lớp da dê dính khắn trong mình, ngục tốt thúc hối quá nên còn sót một miếng bằng bàn tay.

Chúng ta luân hồi trong lục đạo, mang đủ thứ thân hình theo nghiệp thọ sanh. Chư Tổ sư luôn nhắc nhở phải tỉnh giác trước từng ý nghĩ và hành động, kẻo đến đêm ba mươi, tay chân quờ quạng. Vì “Con người tự do trước mỗi hành vi của mình, nhưng tổng số các hành vi ấy lại trói buộc con người vào một nghiệp chướng nào đoù” (Trích Tập Văn Sông Hương - 40).

Làm cầm thú không hẳn là dở. Tiền thân của đức Bổn sư từng ở trong các loài cầm, cũng như thú. Có đi trong các dị loại, mới thấu hết nghiệp chướng của chúng sanh, từng là bà con nên lòng bi mẫn không dứt.

Trong một kiếp Ngài là con linh dương, chơi thân với một con rùa và một con quạ. Một hôm, linh dương bị sụp bẫy thợ săn, quạ báo tin cho rùa đến cứu. Rùa gặm bẫy, cố nhá cho đứt các sợi dây thép quanh chân bạn. Gặm suốt đêm rách cả mép. Trời sáng, dây gần mòn nhưng chưa đứt. Quạ bay đến nhà thợ săn, kêu lên tiếng buồn thảm. Thợ săn sợ điềm gở, định không đi thăm bẫy, nhưng rồi cũng đi, quạ theo đón đường, kêu mãi không được, bay về báo tin. Dây gần đứt rồi, bóng thợ săn hiện ở đầu rừng. Rùa gắng sức cắn vài nhát cuối, dây đứt, thợ săn tới sau lưng. Linh dương chạy thoát nhưng rùa bị bắt. Linh dương quay lại, chân khập khiễng cố dụ thợ săn theo mình, quạ bay trên đầu kêu réo, thợ săn liệng rùa để chạy theo linh dương. Nhử thợ săn đi xa để cho rùa kịp ẩn nấp, và sau đó, cả ba bạn an thân.

Trong một tiền thân khác, Ngài làm thợ săn, bắt gặp năm mươi con dê rừng trong núi. Anh thợ săn nghĩ rằng nếu giết một lần thì bán không hết, anh liền móc mắt cho chúng mù, thả vào hang núi, rồi mỗi ngày đưa một con xuống tỉnh bán. Do nhân ấy, kiếp tiếp theo thái tử Câu-na-la ra đời, mẹ mất sớm, hoàng hậu kế mẫu muốn giành ngôi báu cho con mình nên ra độc thủ. Bà sử dụng ấn của vua một ngày, sai thái tử đi dẹp loạn ở phương xa, và tiếp theo một đạo dụ ra lệnh cho dân ở thành ấy móc mắt thái tử.

Câu chuyện có hậu, thái tử được sáng mắt lại, xin vua cha tha tội cho hoàng hậu, và lên nối ngôi vua. Dầu cho mỗi chuyện tiền thân là một tấm gương tu tập của Đức Phật, nhưng trong đó nhân quả vận hành đều đặn theo luật của nó.

RUỘT DÊ

Cổ thi Trung Hoa có câu “Thạch hoạt dương trường hiểm” (Đá trơn đường ruột dê hiểm hóc). Đất Ba Thục nổi tiếng có những con đường ngoằn ngoèo quanh co như thế, nên đường vào đất Thục khó hơn lên trời. Miền núi cao sông hiểm này là quê hương của Tô Đông Pha, nhà thơ tài hoa nhà Tống. Tương truyền ông là hậu thân của thiền sư Giới. Không biết cuộc đời của thiền sư ra sao, chớ cuộc đời nhà thơ và nhà quan thật là đày ải lao đao. Ông kết bạn với khá nhiều đạo sĩ, thiền sư đương thời, chân tình giữa nhà thơ và nhà đạo còn để lại những bài thơ vang bóng.

Văn trưởng lão cũng là người đất Thục, tượng trưng cho một cõi quê hương xa cách, nơi Sư, ông gởi lời kính mến của một khách tài hoa:

Sư dĩ vong ngôn chân hữu đạo

Ngã trừ sưu cú bách vô công

Minh niên thái dược Thiên Thai khứ

Cánh dục đề thi mãn Triết đông.

Sư đã quên lời, thật là người có đạo

Tôi thì ngoài việc tìm câu để làm thơ,

hoàn toàn là kẻ vô tích sự

Sang năm tôi sẽ đi vào núi Thiên Thai

hái thuốc

Nhưng lại muốn đề thơ đầy cả miền

Triết đông.

Mười sáu năm sau, nghe tin Sư tịch. Ông bàng hoàng:

Sơ kinh hạc sấu bất khả thức

Triền giác vãn quy vô xứ tầm

Tam quá môn gian: Lão, bệnh, tử

Nhất đán chỉ khoảnh khứ, lai, kim.

(Ban đầu, sửng sốt vì thân Ngài gầy

như hạc lúc nào tôi không hay

Vừa định tỉnh thì mây trời đã bay về

cõi không hư

Ngài đi qua ba cửa ải: Lão, bệnh, tử

Trong một thoáng đủ cả ba thời:

Quá, hiện, vị lai).

Thơ của ông lướt nhẹ trên những đoạn đường trôi nổi từ Bắc xuống Nam. Đến chùa Nam Hoa, ông ghé lại đề thơ tâm sự:

Ngã bản tu hành nhân

Tam thế tích tinh luyện ...

Ta vốn người tu hành

Ba đời dày tu luyện

Nửa chừng một niệm hư

Trăm năm đày đọa khiến

Xốc áo lễ Chân tướng

Cảm động lệ mưa tuôn

Ngọn suối đầu gậy sư

Xin rửa nghiên ỷ ngữ.

Cái nghiệp thơ (ỷ ngữ) đã hại ông đi vào đường quanh co như ruột dê. Xin mượn dòng suối trên đầu gậy thiền rửa sạch các từ hoa mỹ.

ÂU DƯƠNG CÔNG TỬ

Nhân vật này không biết dính dáng gì với con dê, nhưng cũng nổi tiếng là không đứng đắn.

Âu Dương Công Tử cùng Quách Tỉnh đến đảo Hoàng Hoa thi tài cưới vợ. Thấy Quách Tỉnh ngốc nghếch và thô kệch như con trâu nước, Hoàng Dược Sư cố ý ra những đề rất mực phong lưu về cầm, kỳ, thi, họa. Hoàng Dược Sư đàn, Quách Tỉnh họa lại. Anh chàng này chẳng biết gì về âm luật, phách nhịp, tiết tấu, chỉ dùng nội lực lắng nghe, lâu lâu búng một tiếng. Mỗi lần búng là mỗi lần Hoàng Dược Sư giật mình, rớt nhịp.

Thử thách cuối cùng là phải đọc qua một lượt và trả bài thuộc lòng bản Cửu Âm Chân Kinh. Kinh này chưa được truyền bá trong võ lâm, là bửu bối tuyệt mật. Người độc nhất biết nó là Châu Bá Thông, Quách Tỉnh được Châu Bá Thông dạy truyền miệng bản Cửu Âm Chân Kinh mà không hay - vì bản tính anh chàng này không ưa những gì tà độc nên không chịu học khẩu quyết của nó, bị Châu Bá Thông gạt nên mới thuộc.

Một đàng Âu Dương Công Tử lăm le trổ hết tài để được cô vợ đẹp. Một đàng Hoàng Dược Sư hiểm độc tìm hết cách hạ chàng rể “văn bất thành cú”. Quách Tỉnh với một tâm hồn nhiên vô tư, cứ khơi khơi qua trót lọt các cuộc thử thách. Có thể mượn hai câu thơ sau của Tô Đông Pha cho thích hợp:

Sử dĩ vong ngôn chân hữu đạo

Ngã trừ sưu cú bách vô công.

Cũng có thể Quách Tỉnh thắng cuộc vì có sẵn niềm tự tin. Hoàng Dung đâu phải ai xa lạ, đã là người phe ta rồi mà!

Tin vào cái mình sẵn có là điều mà thiền muốn khơi dậy, mở mắt cho chúng ta. Đủ niềm tin thì không còn thấy mình nghèo, đụng gì cũng vơ vét, cũng dồn chứa, cũng nhai nuốt như con dê đói.

* Hòa thượng Tào Sơn, nhân có ông tăng hỏi:

- Thanh Nhuệ này nghèo khổ, xin Hòa thượng cứu giúp.

Sư gọi:

- Xà-lê Nhuệ!

Ông tăng:

- Dạ!

Sư nói:

- Rượu Thanh Nguyên Bạch Gia đã uống xong ba chén sao còn bảo là chưa dính môi?

Vô Môn tụng:

Nghèo tợ Phạm Nhiễm

Oai như Hạng Võ

Nghề nghiệp trống trơn

Dám so phú hộ.

* Hòa thượng Câu Chi tiếp người tham hỏi, chỉ đưa một ngón tay lên. Có chú tiểu cũng bắt chước Sư đưa ngón tay, Sư nghe được bèn tiện đứt ngón tay của chú. Chú đau đớn la khóc mà chạy. Sư bèn gọi, chú vừa quay đầu thì Sư lại giơ ngón tay lên. Chú bỗng khế hội.

Khi sắp tịch, Sư nói với tăng chúng:

- Ta được một ngón tay thiền của Thiên Long, cả đời dùng không hết.

* Mã Tổ Đạo Nhất sau khi ngộ đạo nơi Nam Nhạc Hoài Nhượng, khai đường giáo hóa ở Giang Tây. Sư Hoài Nhượng sai một vị tăng đến thăm, dặn:

- Đợi y thượng đường chỉ hỏi “Làm cái gì?”. Y trả lời nhớ ghi những lời ấy đem về đây.

Tăng làm đúng lời Sư dặn, khi về thưa:

- Đạo Nhất nói: “Từ loạn Hồ sau ba mươi năm chưa từng thiếu tương muối”.

Sư nghe xong gật đầu.

Chúng ta giàu hay nghèo?

 Như Đức

 

Kể Chuyện Năm Thân

Khởi niệm học đạo là niềm khắc khoải tìm kiếm lại mình, vì không biết mình là ai nên càng tìm càng chẳng thấy.

NĂM THÂN NÓI CHUYỆN TÂY DU

Tuổi thân con khỉ ăn bần

Chuyền qua chuyền lại té ùm xuống sông.

Dọc hai bên bờ sông Nam bộ, các nhánh bần gie la đà, khỉ chuyền cành ăn trái bần, thái độ lăng xăng hiếu động khiến người tức cảnh sanh tình làm thơ trêu ghẹo.

Nhà Phật gọi đệ lục thức là “Tâm viên ý mã”, Tổ sư quở “Tâm như khỉ vượn chuyền cành”, còn các thiền sinh rất ngán mấy chàng họ Tôn nhảy lung tung. Tuy thế, “Công vi thủ, tội vi khôi” (Công là đầu, tội cũng nhất), khôn lanh xa đạo nhưng ý thức nhạy bén và trí phương tiện quyền xảo cũng giúp chúng ta rất nhiều trên đường tu. Chuyến Tây Du của thầy trò Tam Tạng nếu không có Tôn Ngộ Không, chắc không rơi vào bụng ma thì cũng lầm Phật giả. Như trên trận Tiểu Lôi Âm, yêu quái hóa cảnh Phật khiến Đường Tăng tưởng đã tới nơi, dập đầu lạy rối rít, chỉ có Ngộ Không trợn mắt lửa tròng vàng thấy hơi yêu mù mịt, đã đề cao cảnh giác mà cũng không khỏi. Trận ấy thật gian nan vì yêu đầu có túi vải vô cùng lợi hại, thu hết mấy thầy trò và cả thiên binh thần tướng, chỉ trừ Ngộ Không lanh chân nhảy khỏi. Nếu không nhờ Bồ-tát Di-lặc cứu viện thì cũng còn cay đắng lâu dài, cứ chui ra khỏi túi rồi bị thu vào, biết chừng nào tới Tây Thiên? Bồ-tát Di-lặc là Tổ sư Duy Thức, công phu thỉnh kinh là một cách chuyển hóa thức tình thành trí tuệ, nên phải tôn Ngài làm thầy cứu nguy.

Tôn Ngộ Không tài phép cao cường, biến hóa xuất quỷ nhập thần, một ngày có thể qua lại Tây Thiên Đông Độ như đi chợ, sao không giao quách bộ kinh cho y, cần gì nhọc công thầy Tam Tạng? Bởi vì ý thức không phải là toàn thể con người, vẫn còn phần tâm thức sâu xa chủ tể, Duy Thức gọi là thức thứ tám hay thức A-lại-da. Cho nên đôi lúc ý thức mình rất tĩnh lặng, rất thánh thiện, tưởng như thành Phật tới nơi, nhưng tận cùng vẫn có điều bất ổn. Nhà thiền gạn lọc vấn đề này rất kỹ, nếu còn tình thức mà làm thơ nói kệ thì bị gọi là “Khẩu đầu thiền”, khôn lanh mà không qua được cửa Tổ sư thì bị gọi là “Đồ quỷ đái dầm”, chỉ chết ý thức mà chưa khởi diệu dụng thì bị gọi là “Nước chết không chứa rồng”.

Như thế nào đệ bát thức được gọi là Tam Tạng? Bát Thức Quy Củ tụng (Kệ tụng về khuôn phép của tám thức) nói như sau:

Hạo hạo tam tàng bất khả cùng.

(Lộng lộng ba tàng không thể cùng)

Thể của đệ bát thức rộng, sâu, bao la vô cùng. Tam Tạng là năng tàng, sở tàng, ngã ái chấp tàng, vì hay chứa tất cả chủng tử nên gọi là năng tàng, các thức đệ lục, đệ thất và tiền ngũ thức đều hàm ngụ đệ bát, nên gọi là sở tàng (được chứa) như ba đồ đệ của Tam Tạng đều vì Sư phụ, theo tinh thần thỉnh kinh của Sư phụ. Nếu không có mẫu số chung này, thì Hành Giả về Thủy Liêm động, Bát Giới về xóm Cao Lão, Sa Tăng về sông Lưu Sa, nhà ai nấy ở việc gì lôi kéo nhau đi chung đường. Bát Giới tượng trưng cho đệ thất thức chấp ngã, nên luôn luôn dựa hơi Sư phụ nói hành Ngộ Không, thức đệ bát vì sự đeo níu này mà mang tên Ngã Ái Chấp tàng, thầy Tam Tạng hay nghe lời Bát Giới là vậy.

Tụng tiếp:

Uyên thâm thất lãng cảnh vi phong.

(Nơi nguồn sâu đệ bát thức có sóng

bảy thức và gió cảnh giới.)

Kinh Lăng Già có câu:

Tạng thức hải thường trú

Cảnh giới phong sở động

Chủng chủng chư thức lãng

Đằng dược nhi chuyển sanh.

Biển tạng thức thường trú
Gió cảnh giới chuyển động

Lớp lớp sóng bảy thức

Sôi nổi mà sinh khởi.

Tánh của tàng thức là vô phú vô ký, hồn nhiên nhậm vận chẳng suy tính so đo, thầy Tam Tạng lên đường thỉnh kinh, thâu đồ đệ, bị yêu bắt, được cứu, tiếp tục đi, rồi bị yêu bắt... xem như không có tài cán gì. Tạng thức đã cùng trôi nổi qua những thác ghềnh sanh tử, nhưng bản chất vô nhiễm sâu kín vẫn là cái cớ cho chúng sanh phát hiện Phật tánh. Gió cảnh bên ngoài thổi động dạt dào, theo đó bảy thức nổi sóng, “quậy” nhất vẫn là thức thứ sáu, sóng không ngoài nước, biển vẫn là y nhiên.

Nói qua Tôn Hành Giả, khi còn là Hầu vương ở động Thủy Liêm. Tên động cũng chỉ là một cách chơi chữ, chữ tâm ().

Mã Tổ sai thiền sư Phục Ngưu Tự Tại mang thư sang quốc sư Huệ Trung.

Quốc sư hỏi:

- Gần đây Mã Tổ dạy đồ chúng thế nào?

Phục Ngưu đáp:

- Tức tâm tức Phật.

Hỏi:

- Là ngữ thoại gì?

Giây lâu Quốc sư hỏi tiếp:

- Ngoài cái đó lại có gì dạy chúng?

- Phi tâm phi Phật, chẳng phải tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải vật.

- Vẫn còn so sánh chút ít.

Phục Ngưu hỏi:

- Mã đại sư thế ấy, chẳng biết dạo này Hòa thượng dạy chúng thế nào?

- Tam điểm như lưu thủy

Khúc tợ ngãi hòa liêm.

Ba điểm như dòng nước

Uốn cong tợ lưỡi liềm.

Tâm như dòng nước trôi từ vô thủy đến vô chung. Trước cửa động Thủy Liêm là rèm nước trắng xóa, nước chảy ngược qua lỗ đá, đóng lại cửa cầu, nét móc trong chữ tâm () như chiếc cầu nằm giữa nước. Muốn vào động phải nhắm mắt nhảy đại vào giữa thác nước. Nhắm mắt nhảy đại mà lọt vào trong tâm đấy! Hầu vương ở trong động, vui chơi quên ngày tháng, cớ chi khởi niệm tìm thầy học đạo để từ đó đất bằng dậy sóng?

 

Ta đã ra đi từ triều nước động

Dòng cuốn phăng thiên lý ngợp ba đào.

(Tuệ Sĩ)

Tâm lên đường tìm Tâm. Nơi Hầu vương học đạo cũng là một cửa động hay tên khác của Tâm. Núi tên Linh Đài Phương Thốn (tấc vuông linh). Động tên Tà Nguyệt Tam Tinh (Trăng khuyết và ba ngôi sao ). Khởi niệm học đạo là niềm khắc khoải tìm kiếm lại mình, vì không biết mình là ai nên càng tìm càng chẳng thấy. Tổ sư nói “Hệt như cưỡi trâu tìm trâu”. Hầu vương rời động cũ, học thành tài chọc trời khuấy nước, được phong chức “Tề thiên đại thánh” nhưng vẫn phải quy phục dưới bàn tay Phật Tổ, bởi vì Tâm phải trở về với Phật tâm.

Đoạn đường thỉnh kinh là đoạn đường cần thiết, “Phá vi trần xuất kinh quyển” - bụi ngũ ấm phải vỡ tung để hiển lộ một hành giả mới. Dùng trí quán chiếu Nhị không, Ngã không và Pháp không, công lao của Tôn Ngộ Không trong chuyến Tây du rất nhiều. Nhưng lời thành tựu nhường cho Bát Giới - tượng trưng ngã chấp, vì chấp ngã nên sanh ra tham ăn - mê ngủ - mê sắc dục… Khi dự tiệc ở Trần Gia Trang, lúc thỉnh kinh trở về, bao nhiêu mâm cao cỗ đầy Bát Giới cũng không ăn bốc ăn hốt như trước, chỉ cầm đũa lên rồi buông xuống. Hành Giả hỏi:

- Chú mày no sao?

Bát Giới nói:

- Không biết sao tự nhiên no ngang, hay là bao tử tôi bị yếu?

Hành Giả nói:

- Không phải! Ngày trước còn phàm tục nên chú mày ăn mấy cũng không no. Bây giờ là Thánh rồi, đâu cần ăn nữa.

Cũng lạ kỳ, khi thỉnh kinh gian khổ, phải bưng bát đi xin cơm từng nhà còn không có ăn. Bây giờ công viên quả mãn, nhà này nhà nọ thiết đãi thỉnh mời. Mới hay trong chỗ Vô dục đầy đủ mọi phong hoa tuyết nguyệt.

Do sức của Hành Giả, đệ thất thức được thanh tịnh trước. Lúc đó không còn chấp đệ bát thức làm ngã. Đệ bát thức lúc này xả bỏ tên Tàng thức.

Bất động địa tiền tài xả tạng

Kim Cang đạo hậu Dị Thục không

Từ Bất động địa trở lên (đệ bát địa), thức ấy chỉ còn nghiệp cảm của thế gian chưa thành vô lậu, nên gọi là Dị Thục thức. Đến Kim Cang đạo thì các chủng tử ác và vô ký đều dứt, đoạn dứt thùy miên và sở tri chướng nên bỏ luôn tên Dị Thục.

Đại Viên, Vô Cấu đồng thời phát

Phổ chiếu thập phương trần sát trung.

Đại Viên Cảnh Trí, thức Vô Cấu Bạch Tịnh

phát sanh

Chiếu khắp mười phương cõi Phật như

vi trần.

Buông bỏ hết mọi tình chấp và chủng tử bất thiện nên đệ bát thức lúc này thành thức Bạch Tịnh Vô Cấu, thường tương ưng với Đại Viên Cảnh Trí soi thấu cảnh giới mười phương. Đến địa vị này, đệ bát thức không còn tánh vô phú vô ký nữa, mà lại có tánh vô lậu thuần thiện. Cuối cùng của đường Tây du, Tam Tạng được phong là Chiên Đàn Công Đức Phật, cũng ví như thức Vô cấu vô nhiễm hương thơm lan xa, thức này làm lợi lạc chúng sanh vô số kể, các thức kia đồng thời chuyển thành trí, để thành tựu mùa Xuân Miên Viễn. 

( Như Đức

NĂM THÂN GẶP KHỈ

 

Một dịp may hiếm có, chúng tôi trở về Chơn Không trong một ngày trời nắng đẹp.

Được thầy Thông Như hoan hỷ đón tiếp hướng dẫn chúng tôi lên chánh điện, Đức Phật Bổn sư tay cầm cành hoa sen, khiến tôi nhớ đến sự tích trên hội Linh Sơn, Phật đưa cành hoa lên, ngài Ca Diếp mỉm cười. Lễ Phật xong, bước ra phía ngoài, chúng tôi thấy vách sau chánh điện là bức phù điêu thật sống động, có một vị cư sĩ đeo đá trên lưng đang giã gạo, đứng kế bên là vị Hòa thượng già, đó là sự tích Lục Tổ Huệ Năng và Tổ Hoằng Nhẫn.

Thầy lại đưa chúng tôi đến nhà Tổ vừa làm Trai đường ở gian giữa, hai bên là phòng của quý Thầy. Trên lầu ở giữa là Thư viện, bên trái là phòng của Hòa Thượng, bên phải  là phòng của quý Thầy.

Thầy vừa hướng dẫn chúng tôi, vừa vui vẻ kể chuyện, bất chợt thấy con khỉ trên núi phía sau chùa thầy kể luôn:

- Quý cô biết không có bầy khỉ do một con khỉ chúa cầm đầu, chúng ở trên núi thường hay xuống đây quấy phá, có một buổi trưa tôi và thầy Thông Không ngủ trong phòng, trên bàn để nải chuối, ngủ dậy thấy đâu mất, ra sân thấy vỏ chuối lột liệng tùm lum, thì ra có một con khỉ lớn vào phòng lấy trộm.

Trong bầy khỉ có một con cụt mất một cánh tay, có lẽ là do nó bị mắc bẫy, người ta bẫy khỉ bằng cách bỏ trong lon một trái chuối, họ cột sợi dây bằng ruột xe, khỉ thò tay bốc chuối, bị dây xiết lại giựt lên treo tòn ten một tay dính trên cây, có thể là nó bị bẫy và cắn cho đứt cánh tay để thoát, cho nên con khỉ này rất dạn và thí mạng không sợ gì cả, tôi bỏ xoài và chuối ra sân, nó tới thấy là lượm ăn liền, không như các con khác còn e dè sợ bị bẫy.

Lần đó, có một con khỉ leo lên bàn Tổ thấy dĩa trái cây có: bôm, cam, chuối, nó ngồi gọn lắm không làm đổ bể cái gì hết, nó bốc bôm và cam để qua một bên vì không biết ăn hai thứ đó, rồi nó bẻ chuối lột vỏ ăn ngon lành. Một chú thợ làm gần đó thấy vội la lên: “A! Có một con khỉ leo lên bàn Tổ kìa!”. Nó liền nhanh chân chạy mất.

Khỉ là loài hay bắt chước, nó lén nhìn thấy quý Thầy đánh răng, đợi khi quý Thầy đi rồi, nó cũng bắt chước lấy bàn chải quẹt kem và bắt đầu đánh răng, mới đầu nó đánh đúng bề bàn chải rồi, nhưng mà nào giờ đâu có đánh răng nên đánh tới đánh lui đụng nướu đau quá, nó rút bàn chải ra nhìn nhìn, rồi đổi bề bàn chải ngược lại thử đánh qua đánh lại sao cũng đau quá, nó liền liệng bàn chải và bỏ đi.

Có lẽ bọn khỉ đã quấy rầy quý Thầy nhiều lần, nhưng chúng là loài vật hiền lành, nên quý Thầy từ bi và cảm thấy thương chúng nhiều hơn. Thầy còn kể nhiều về khỉ nữa mà tôi không nhớ hết.

( Như Trung

 

Kể Chuyện Năm Dậu

Thiệt tức mình cho bác nông dân. Nếu để con gà sống chắc nó sẽ đẻ trứng vàng đến tận ngày nay. Trong lúc tu hành, đôi lúc hăm hở “khử vọng cầu chơn”, chúng ta giống như bác nông dân nọ. 

 

CHUYỆN GÀ

Chuyện ngụ ngôn La Fontaine kể rằng:

Bác nông dân nọ có nuôi một con gà đặc biệt, mỗi ngày gà đẻ một quả trứng vàng. Một hôm bác nghĩ rằng trong bụng gà hẳn chứa cả kho tàng, muốn lấy hết một lần, bác mổ bụng gà ra để tìm. Nào dè không có vàng. Gà chết, trứng vàng cũng hết.

Thiệt tức mình cho bác nông dân. Nếu để con gà sống chắc nó sẽ đẻ trứng vàng đến tận ngày nay. Trong lúc tu hành, đôi lúc hăm hở “khử vọng cầu chơn”, chúng ta giống như bác nông dân nọ. Chứng Đạo Ca nói:

Vô minh thật tánh tức Phật tánh

Huyễn hóa không thân tức pháp thân

Nên cẩn trọng cái trứng gà của mình.

 

GÀ TRỐNG VÀ MẶT TRỜI

Chuyện ngụ ngôn Trung Quốc hiện đại. Một con gà trống ban đêm bị ốm, nó lo lắng nói:

- Hỏng rồi, sáng sớm mai ta không đủ sức gáy, mặt trời sẽ không mọc được.

Ngôi sao trên trời nghe thế, bảo nó:

- Từ xưa đến nay, bao nhiêu gà trống đã chết, mà mặt trời vẫn mọc mỗi ngày.

Nhiều khi chúng ta tưởng rằng mình là cái rốn của vũ trụ, không có ta chắc thiên hạ chết hết. Ca dao Việt Nam có câu:

Ai về Đồng Tỉnh, Huê Cầu,

Đồng Tỉnh bán thuốc,

Huê Cầu nhuộm thâm.

Dù ai làm vương làm tướng, thì dân làng Đồng Tỉnh vẫn bán thuốc nhuộm, để cho dân làng Huê Cầu làm thợ nhuộm muôn thuở. Mọi việc cứ vận hành theo nhịp điệu tự nhiên không vì có ta hay không ta mà thay đổi. Khi xuân đến, muôn loài hoa đồng cỏ nội tự nhiên nở rộ không cần đến bàn tay con người.

Một năm xuân trọn một năm xuân
Cỏ nội hoa đồng mấy độ tươi
Trời sáng không nhân chuông trống động
Trăng lên đâu bởi khách đi đêm.

(T s. Bổn ở Vân Cái)

Đầu một ngày ở Viên Chiếu, trưởng rẫy lẩm bẩm:

- Cầu cho trời mưa, đỡ phải tưới.

Trưởng ruộng thì kêu gào:

- Nắng đi ông ơi! Con mới sạ lúa hôm qua. Nắng mấy bữa rồi hẵng mưa!

Còn Trụ trì sắp phải đi đường, cầu khẩn:

-   Đừng nắng cũng đừng mưa.

Nếu có một ông trời, biết chìu theo ai?

NỔI DA GÀ

Thiền sư Chánh ở Bá Trượng nói tụng:

Họa sư họa địa ngục

Họa xuất bá thiên ban

Chú bút tùng đầu khán

Đặc địa cốt mao hàn.

 

Thợ vẽ vẽ địa ngục

Vẽ đủ cảnh trăm ngàn

Dừng bút xem thật kỹ

Cả người nổi da gà.

Các pháp từ tâm sanh. Trong lúc cao hứng khởi tâm tạo đủ thứ, và đứng trước tác phẩm của mình, thật là lãnh đủ.

( Như Đức

Kể Chuyện Năm Tuất 

Phật tánh của con chó, hay Phật tánh chung của tất cả loài hàm thức là một điều hoài nghi tha thiết. Không riêng loài hữu tình, nơi vô tình cũng có đủ. Chúng ta thường nghe câu: “Tình với vô tình, đồng viên chủng trí” là vậy.

CON CHÓ VÀ PHẬT TÁNH 

Thiền sư Triệu Châu – một hôm có người hỏi:

- Con chó có Phật tánh không?

Sư đáp:

- Không!

- Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, tại sao lại nói không?

Sư đáp:

- Có!

- Đã có sao lại chui vào đãy da?

- Vì biết mà cố phạm.  

Phật tánh của con chó, hay Phật tánh chung của tất cả loài hàm thức là một điều hoài nghi tha thiết. Không riêng loài hữu tình, nơi vô tình cũng có đủ. Chúng ta thường nghe câu: “Tình với vô tình, đồng viên chủng trí” là vậy.

Thiền sư Hối Đường Tổ Tâm cùng Hạ Ỷ Công đang bàn về Triệu Luận có câu: “Hội vạn vật vi tự kỉ” (muôn loài như chính mình) và “Tình dữ vô tình cộng nhất thể” (loài hữu tình và loài vô tình chung một thể). Khi ấy có con chó nằm dưới ghế. Sư lấy thước gõ con chó lại gõ cái bàn nói:

- Con chó hữu tình nên đi, cái bàn vô tình không đi, vậy thì tình vô tình làm sao đồng một thể?

Ỷ Công suy nghĩ không đáp được. Sư bảo:

- Vừa dính suy nghĩ liền thành pháp dư, đâu thể “hội vạn vật vi tự kỷ”.

Loài vô tình đất đá, thảo mộc, lẽ dĩ nhiên không thể cử động nhưng vẫn có cách biểu lộ riêng của nó. Phần kết thúc mỗi bộ kinh thường có ghi: “Sau khi Phật nói kinh này, quả địa cầu chấn động sáu cách”. Sự xuất hiện của một Đức Phật, cảm ứng đến muôn loài trong một tần số sâu và mạnh.

 

...Trái đất rung động bảy lần

Khi bất diệt đi ngang dòng sanh diệt

Bàn tay chuyển pháp trong hương

đêm tinh khiết

Ấn Cát Tường nở trắng một bông hoa

Thế giới ba ngàn đồng thanh ca ngợi

Văn Phật Thích Ca ...

(thơ NH)

Ngài Đạo Sinh, một trong những vị tuấn triết trong hội dịch kinh của ngài La-thập, vì diễn giảng kinh Niết Bàn, chấp nhận hạng Nhất-xiển-đề (người không đủ lòng tin) có Phật tánh nên bị phản đối.

Ngài lên núi xếp đá chung quanh rồi diễn thuyết, hỏi chúng có đồng ý không, mấy hòn đá gật đầu.

“Nhấp nhô đá cũng xếp quanh gật đầu”

Đạo phong, tâm hồn các bậc chí thiện, cảm ứng được với hiện tượng thiên nhiên, có lẽ các Ngài đạt đến chỗ “cùng một tánh Phật”. Lục Tổ khi đến Tào Khê, muốn tìm nguồn suối tốt bèn đi dạo trong núi. Đến một nơi, vừa cắm gậy xuống, nước liền vọt lên chảy thành mạch. Suối ấy được tên là suối Trạc Tích, nguồn nước chảy đến tận ngày nay. Có một thời, nhân vì người trong thôn lén đem hài cốt thân nhân đến mai táng tại Tượng Sơn, phía sau chùa, suối Trạc Tích bỗng nhiên khô cạn. Sự việc đưa đến quan, bắt phải dời mộ nhưng suối vẫn khô, trong chùa không có nước nấu ăn. Tăng chúng đến suối âm thầm cầu nguyện. Nước suối liền chảy lại (Truyện này được Lý Thượng Thơ ghi rõ ràng).

Năm 1935, Hòa thượng Hư Vân về Nam Hoa, trùng tu Tổ đình của Lục Tổ. Trước tiên tu sửa Tổ điện, xây Quan Âm Đường cùng các liêu phòng. Mấy tháng mùa đông, phía sau chùa mé Nam suối Trạc Tích có ba cây tùng già trồng từ đời Tống – trải qua mấy trăm năm, một cây đoạn trên đã chết khô, hai cây kia cành lá rơi rụng. Khi ngài Hư Vân khai đàn giới mùa đông, tăng chúng bốn phương tựu về có tới vài trăm. Sinh khí hưng thịnh, ba cây tùng bỗng dưng đâm chồi ra lá mới.

Sự cảm ứng chung quanh ta có thể thấy được trong đời thường. Chép thêm về cây tùng của ngài Huyền Trang.

Chùa Linh Nham nơi Ngài ở, có cây tùng già cỗi. Khi Ngài sang Tây Trúc thỉnh kinh, cành nhánh của nó đều hướng về Tây. Khi Ngài mang kinh về, cành nhánh cây tùng bỗng xoay chiều sang Đông. Môn đệ Ngài thấy điềm lạ vui mừng bảo nhau “Thầy sắp về tới”, liền đi về phía Tây đón rước. Quả nhiên gặp được Ngài. Người ta gọi nó là Tùng Ma Đảnh. Cây cối vui mừng khi chủ nhân về, ưu sầu khi chủ nhân qua đời, ai bảo chúng không có tánh Phật? Thấy ra điều này chính là nghe được kinh Pháp Hoa.

Sáng hôm nay

tới đây

Chén trà nóng

Bãi cỏ xanh

bỗng dưng hiện bóng hình em thuở trước

bàn tay gió

dáng vẫy gọi

nụ chồi non xanh mướt

nụ hoa nào

hạt sỏi nào

ngọn lá nào

cũng thuyết Pháp Hoa Kinh.

(thơ NH)

Vào năm Hòa thượng Hư Vân trùng tu Tổ đình Nam Hoa, có câu chuyện con chồn trắng quy y, được ghi lại trong Hư Vân Niên Phổ.

Năm Dân Quốc thứ 25, tại Nam Hoa, sau khi mở giới đàn xong, lúc sắp giải giới, có người đoàn trưởng của toán quân đóng gần đó đến thăm. Ông xách theo một cái lồng, trong nhốt một con vật toàn thân màu trắng có vằn đen, đuôi rất lớn, miệng thở hào hển ngậm lấy chiếc đuôi dài, đúng là một con chồn. Ông đoàn trưởng cho biết, gặp nó bị bắt bán, ông mua về định nấu đồ bổ ăn. Thấy nó mắt sáng long lanh, lại hiểu ý người nên đổi ý, không làm thịt mà đem cho sở thú ở Quảng Châu. Bỗng nhiên ông bị tống giam mà không rõ tội trạng, án cứ để mãi không ai giải quyết. Người nhà đi cầu Bà, được dạy rằng việc bị giam là do quả báo nhốt chồn, nên đem đến chùa Nam Hoa phóng sanh mới hết nạn. Phu nhân của ông bèn chuộc lại con chồn và xin đưa đến chùa. Hòa thượng Hư Vân nhận con chồn, truyền Tam quy Ngũ giới cho nó rồi thả sau chùa. Mỗi ngày nó đều vào chùa để tăng chúng cho ăn, và không ăn thịt, chỉ ăn rau quả. Mấy người thợ làm chùa muốn chọc nó, lấy thịt trộn với trái cây cho ăn. Con chồn ăn phải liền nhổ ra, lấy móng chân trước bới thức ăn kiểm soát, liếc nhìn mấy người thợ. Đôi khi vì giận người trêu chọc, nó bỏ đi nhiều hôm không về. Một hôm bị người làng đuổi bắt, nó phải leo lên cây, ngọn cao khoảng vài chục trượng, ôm cành gào khóc. Chú Sa-di bạch với Phương trượng, Hòa thượng bèn đi đến bên gốc cây đứng nhìn lên. Vừa thấy Ngài nó liền tuột xuống, nhảy xuống nắm tay áo như một con thú nhà thấy chủ. Hòa thượng liền dắt nó trở về. Sợ nó bị người rình bắt, Hòa thượng bèn đóng chuồng nuôi nó. Nếu thả nó ra, nó chỉ đi quanh quẩn trong chùa, không vào rừng.

Một hôm Tưởng Trung Chính tới thăm chùa, đem theo khoảng mười người lính hầu, nhưng không báo trước. Đến cửa Tào Khê, thấy con chồn bạch, lính hầu định bắn nhưng Tưởng ngăn lại. Chồn gật đầu, vẫy đuôi dắt ông Tưởng đi vào, rồi nó chạy như bay vào phương trượng, cắn áo Hòa thượng mời xuống lầu gặp khách.

Mỗi khi Hòa thượng ngồi thiền, chồn thường nằm dưới thiền sàng. Thấy Hòa thượng ngồi lâu thì nó vuốt râu, trêu cho Hòa thượng mở mắt nhìn nó. Hòa thượng dạy:

- Con có linh tánh chớ vào rừng, hay ra ngoài sơn môn mà bị con nít chọc.

Một hôm, chẳng biết nó đi đâu để xe cán trọng thương, nằm nhẹp, không đứng dậy nổi. Hòa thượng đến thăm, nó gắng sức đứng dậy chìa vết thương cho Ngài xem. Hòa thượng biết nó không thể bình phục, bèn khai thị:

- Cái túi da này, không đáng để lưu luyến. Con nên buông nó đi. Hãy sám hối những nghiệp duyên quá khứ. Một niệm mà sai thì rơi vào loài khác, chịu quả báo ác, vướng vào sự thống khổ như thế đó. Lúc này quả báo của nghiệp xưa đã mãn. Nguyện cho con nhất tâm niệm Phật, sớm được giải thoát.

Chồn dường như hiểu ý, gật đầu hai lần, kêu lên ba tiếng rồi mất. Hòa thượng nhớ đến chuyện Bá Trượng và chồn hoang, bèn chôn nó như một vị tăng. Có làm bài minh:

Không rơi, không lầm

Nhân quả đối chọi

Đừng bám thùng sơn

Hư không nát bấy

Có – không ngại gì

Phật tánh – con chó

Đường xưa cây khô

Khí khái nhạn trời

Chồn chết thỏ khóc

Cả hai lải nhải

Đi trong dị loại

Phải quán tự tại.

Thiền sư Thủ Sơ ở Động Sơn làm bài tụng “Con chó theo trâu”:

Gia hữu nhất cẩu nhi

Ngãi tiểu, nhân nan kiến

Chung nhật tùy ngưu khứ

Vị tỉnh sử nhân hoán

Kiến khách bất tác thinh

Kiến nhân thiên nhân thiện

Nghĩ nghị thiện môn lai

Tảo thị thâu tha tiện

Hảo hảo báo thiền sư

Tu trước tinh thần khán

Nhậm nhữ linh lợi nhân

Bất giác, vi tử hán.

 

Nhà có một con chó[1]

Nhỏ xíu khó người thấy

Trọn ngày đi theo trâu

Chưa tỉnh khiến người gọi

Thấy khách chẳng biết sủa

Thấy người riêng hay giỏi

Toan tính trên cửa vào

Sớm đã được phương tiện

Khéo khéo bảo thiền sư

Cần để tinh thần xét

Dù ông người khôn lanh

Không biết, thành người chết. 

( Như Đức
 

Kể Chuyện Năm Hợi

 

Luận về chỗ đi của một sinh mệnh sau khi chết, Tổ Quy Sơn đã dạy: “Lưới thủng chim bay, thức tâm theo nghiệp, như người mắc nợ, ai mạnh lôi trước”. Nếu bình sinh không tạo một sức đẩy mạnh để tự mình vọt lên, thì trong vô số dòng nghiệp ta đã tạo, nghiệp mạnh nhất sẽ rước mình trước.

Bồ-tát và Dạ-xoa

Không cách nhau gang tấc.

CHUYỆN NĂM HỢI

Thời gian đầu ở rừng Viên Chiếu. Thầy thường tới lui chăn dắt chúng tôi. Như một ông cụ có con cháu đông, gặp hoàn cảnh không thể bảo bọc hết, thả chúng ra thì phải chăm nom theo dõi. Mỗi lần Thầy đến, việc đầu tiên là xách gậy đi một vòng, chỉ trỏ chỗ này chỗ kia phải làm gì, làm gì… chúng tôi cứ theo đầu gậy của Thầy mà làm. Nửa buổi Thầy ngồi nghỉ trên võng, võng giăng dưới hai cây dẻ to, chúng tôi ngồi bệt chung quanh và Thầy kể chuyện. Thường là chuyện Thiền sư, hoặc vài đoạn thơ kệ đạo lý, cũng có khi là chuyện Thầy đã trải qua.

Dưới đây là chuyện con heo, tôi được nghe hồi đó:

Có lần Thầy đến chùa Phước Tường - Thủ Đức. Thầy Bửu Ngọc trụ trì. Đi viếng cảnh, đến nhà Tổ, Thầy thấy một bài vị đề tên Nguyễn Thị Hòa có vẻ được trọng vọng. Thầy hỏi, Thầy trụ trì kể lại chuyện. Bài vị ấy của bà chủ chùa. Bà là bổn đạo của Hòa thượng khai sơn đây. Khi chưa có chùa, một hôm bà thỉnh Hòa thượng về nhà tụng kinh. Tối đó Hòa thượng nghỉ ở phòng phía trước. Ngoài vách phòng, lui phía sau một chút có một ổ heo, heo mẹ và ba bốn heo con. Nửa đêm heo con đói bụng kêu la, Hòa thượng chợt thức và nghe giọng người nói nhỏ:

- Mấy đứa con đừng ồn, để ông Hòa thượng ngủ, tao mắc nợ bà Hòa hai đồng tám, chết không trả được phải sanh tụi bây trả nợ.

Hòa thượng bàng hoàng, nửa tin nửa ngờ vào lỗ tai mình. Sáng ngày, Hòa thượng hỏi bà chủ nhà:   

- Bà có cho ai mượn tiền… mà không đòi được?

- Con có cho con… (Lâu ngày Thầy quên tên) mượn tiền, mà nó chết rồi con coi như bỏ.

- Bao nhiêu?

- Dạ chừng hai đồng mấy.

- Nó sanh làm heo trong nhà bà để trả nợ đó.

Hòa thượng kể lại chuyện tối hôm qua.

Về sau heo mẹ chết, bà Hòa bán mấy heo con được đúng hai đồng tám. Và sau nữa, bà cúng luôn nhà cho Hòa thượng, Hòa thượng mới lập chùa này.

Chúng tôi nghe xong đều lặng lẽ. Nhân quả chính xác của câu chuyện như một sự đe răn. Sự luân hồi của đời thật kinh khiếp, người chết làm heo, heo chết làm người, thay hình đổi dạng nhưng dòng nghiệp cũ phải trả tới mức tận cùng. Trong chuyện “Trư Hòa Thượng” (Truyện Cổ Phật Giáo - Tập 3), con heo của Hòa thượng trụ trì nuôi lâu năm, khi chết không được làm theo lời dặn của Hòa thượng trước lúc Ngài đi xa là: “Xẻ thịt và chia cho hàng xóm, mỗi nhà một miếng”. Hai mươi năm sau, một vị quan huyện trẻ tuổi đến trấn nhậm vùng chùa nọ. Quan tỏ ra lưu luyến cảnh chùa và thường lui tới đàm đạo với chúng tăng. Cho tới một ngày quan huyện bị triệu về kinh, bị xử phân thây giữa chợ vì một vụ án phản nghịch. Chúng tăng trong chùa bùi ngùi, nhưng sau đó, Thầy trụ trì đời ấy được báo mộng cho biết:

- Quan tri huyện chính là Trư Hòa thượng ngày trước.

Như thế, con heo của chùa Tây Thiên - Huế - khi chết tái sinh về đâu? Con heo này, nghe kể lại cũng rất già. Chùa nuôi để lấy phân. Nó già đến nỗi da bụng thòng xuống phết đất, mỗi khi đi nó lại dẫm phải da bụng. Cũng rất tinh tấn, biết nghe chuông cố gượng đứng lên - y như người ta khi nghe chuông liền ngồi dậy. Ôn Tây Thiên thỉnh thoảng têm cho miếng trầu, đút vào miệng, nó xìa hai cái răng dài nhai trệu trạo. Phật tử cũng thích ra thăm heo, nói đôi ba câu.

Luận về chỗ đi của một sinh mệnh sau khi chết, Tổ Quy Sơn đã dạy: “Lưới thủng chim bay, thức tâm theo nghiệp, như người mắc nợ, ai mạnh lôi trước”. Nếu bình sinh không tạo một sức đẩy mạnh để tự mình vọt lên, thì trong vô số dòng nghiệp ta đã tạo, nghiệp mạnh nhất sẽ rước mình trước. Kinh Pháp Cú, phẩm Tham Ái, Đức Phật có nói một số kệ liên quan đến một con heo.

Một hôm, Đức Thế Tôn vào thành Vương-xá khất thực, trên đường đi Ngài thấy một con heo nái, bèn mỉm cười. Tôn giả A-nan hỏi lý do, Phật dạy:

- Này A-nan, ông có thấy con heo kia?

- Bạch Thế Tôn, con có thấy.

- Vào thời Đức Phật Kakursandha, nó là một con gà mái sống gần ngôi pháp đường của chúng tăng. Nhờ thường xuyên nghe thầy Tỳ-kheo lẩm nhẩm đề mục thiền định, nên sau khi chết, gà tái sinh làm một vị công chúa. Một hôm, công chúa ra nhà xí và thấy đống dòi bò lúc nhúc. Quán chiếu đống dòi, công chúa chứng Sơ thiền. Mãn kiếp, được tái sanh lên cõi trời Phạm thiên, cô trôi lăn nhiều kiếp và bây giờ là con heo kia. Ta biết hết những tiền kiếp ấy nên mỉm cười.

Nhân chuyện này Phật dạy các Pháp Cú: 338, 339, 340, 341, 342, 343.

Con heo nái này, trải qua nhiều lần tái sinh, cho đến lúc là Phu nhân của quan Tể tướng Lakuntaka Atimbara. Tôn giả Anula khi đi khất thực, đứng trước nhà Phu nhân, chợt nhận ra, và nói với các Tỳ-kheo:

- Này chư huynh, thật kỳ diệu thay khi con heo trước kia nay là Phu nhân của quan Tể tướng triều đình.

Vị phu nhân trẻ tuổi vừa nghe xong lời nói của Tôn giả, bỗng nhớ hết các tiền kiếp của mình, và chứng Túc mạng thông. Bà xin phép chồng xuất gia, trở thành Tỳ-kheo ni trong tăng đoàn của Trưởng lão ni Pancabalaka. Thời gian sau bà chứng quả A-la-hán, trước khi vào Niết-bàn bà kể lại tất cả mười ba lần tái sanh của mình, lúc làm thú, khi làm trời, làm người, ở các chỗ nơi từ thiên thượng đến nhân gian. Lời khuyên cuối của bà là: “Này chư vị, xin hãy khẩn thiết, tinh tấn tu tập để chóng được giải thoát”.

Quả vị A-la-hán được gọi là Vô sanh. Đến quả vị này, các chủng tử si ái đưa người đi tái sanh đã đoạn dứt, nên gọi là “củi hết lửa tắt”. Cội gốc si ái nằm trong thức thứ bảy, một loại tiềm thức bản năng sâu kín, đệ lục ý thức không thể nào đánh động đến nó. Si ái trên bề mặt ý thức chỉ là một thứ cành lá. Nên Phật dạy, một khi chưa nhổ sạch cội gốc chưa gọi là xong việc.

Pháp Cú 338:

Như cây bị chặt đốn
Gốc chưa sạch vẫn bền
Ái tùy miên chưa nhổ
Khổ này vẫn sanh hoài.

Thức thứ bảy, vì liên kết chặt chẽ với si ái, nên bị xem là một thức ngu nhất - lẽ dĩ nhiên theo cái nhìn của người giác ngộ.

Anh em tám đứa một thằng si (thức thứ 7)
Duy có ý thức rất linh ly (thức thứ 6)
Năm người ngoài cửa lo buôn bán (5 thức trước)
Làm chủ trong nhà đệ bát y (thức thứ 8).

Anh chàng ngốc Trư Bát Giới biểu hiện cho tính chất si mê từ vô thủy này. Đang là một vị tướng trời uy nghi lẫm liệt như ai, chợt vô minh bất giác nổi lên, say rượu ghẹo Hằng Nga, phút chốc rớt xuống hạ giới, thấy mình nằm trong ổ heo nái. Muốn trở lại tánh linh thiên chơn, phải theo phò Đường Tăng thỉnh kinh. Thu phục y không dễ, Hành Giả đấu tranh với y đôi ba phen chưa xong, nhân hỏi thăm tông tích mới nhìn ra thầy trò huynh đệ. Chỉ cần nghe tên Sư phụ, Bát Giới đã thuận tai cho Hành Giả trói tay dắt về. Hành Giả trói chặt, kéo mạnh lỗ tai heo, bảo:

- Đi mau! Đi mau!

Bát Giới nói:

- Nới tay cho một chút, anh nắm tôi mạnh quá, đau chết được!

Hành Giả nói:

- Không thể thả lỏng được. Chẳng ai trông nom nhà ngươi cho xiết. Người ta thường nói “Lợn lành trói chặt”. Đợi về ra mắt Sư phụ, nếu quả nhà ngươi thật lòng sẽ thả ra ngay.

Vừa mới theo thầy, đã tính chuyện trở gót, Bát Giới dặn dò cha vợ:

- Thưa trượng nhân, bố hãy trông nom nhà con cho cẩn thận. Hễ lấy kinh không được, con sẽ trở về nhà ở rể, làm ăn như trước.

Và cứ hễ mỗi lần gặp khó khăn, Sư phụ bị yêu cầm, Bát Giới đều tính chuyện rã hùn. Thật là:

Đường lỡ đi, chân chỉ muốn quay veà.

Tham ăn mê ngủ, nhác việc, sai đi dò đường thì kiếm chỗ ngủ rồi về báo cáo láo, kiếm lời dèm siểm để Sư phụ khiển trách Hành Giả, nhận công vơ… đủ thói hư tật xấu trên đời. Nhưng nếu không có gương mặt heo của chàng ta, chuyện Tây Du cũng kém phần hấp dẫn. Trong mỗi con người, lý và tình giằng co. Mê chấp về tình gọi là Phiền não chướng, mê chấp về lý gọi là Sở tri chướng. Phiền não chướng dễ đoạn hơn Sở tri, chỉ cần một phen kiến đạo là rớt sạch. Hết sạch phiền não, lý trí mới hoạt động diệu dụng để tẩy sạch dần Sở tri. Bồ-tát phải vào tận hang ổ, nhìn tận mặt từng sở tri, đến Thập nhất địa vẫn còn một phần nhỏ nhiệm.

Khi đoàn thỉnh kinh đến gặp thiền sư Ô Sào, Thiền sư chỉ nhận ra và chúc mừng Bát Giới, còn đối với Hành Giả, thì hỏi:

- Vị này là ai?

Hành Giả cười nói:

- Lão thiền sư nhận ra được sư đệ, sao lại không nhận được tôi?

Thiền sư nói:

- Vì quen biết ít. 

Điều này chạm tự ái nhau lắm. Tôn Ngộ Không nổi danh thiên hạ, chỉ có Lão sư già ở ngọn cây này mới không biết. Chào từ giã, Ngộ Không vung gậy thọc vào ổ của Thiền sư, nhưng “Hành Giả dù có tài quậy sông quậy bể cũng không bám được một sợi mây của Ô Sào”. Chỉ vì Thiền sư ít giao tiếp với con khỉ già.

Trong mọi chiến đấu, Hành Giả lập công đầu. Khi đến núi Thất Tuyệt, đường qua núi bị lá thị rụng ngập, lớp lá chồng chất lâu năm bốc mùi hôi khó ngửi. Khe núi không ai qua lại, mỗi năm đến mùa, thị chín rụng đầy đường, rồi gió mưa sương tuyết un vào, gặp khí nóng bốc lên, vừa thối vừa lầy. Đến Hành Giả đứng trước nó cũng phải lắc đầu bịt mũi:

- Cái này khó lắm!

Tập khí lâu năm không giở trò thần thông được. Chỉ có Bát Giới tự thân biến thành heo lớn, chúi mõm ủi sạch con đường dọn lối đi, Sư phụ và huynh đệ qua thong thả. Thất thức đã trừ xong tập khí, thì mọi thức đều nhàn.

Nhà Thiền nghiêm nhặt ngồi, một bề nhìn sâu nội tâm, nhìn sâu và nhìn lâu để thấy rõ sự hoạt động của tầng lớp vô minh ngủ ngầm (ái tùy miên). Chỉ ngồi nhìn, trong sự tỉnh thức, mà không phán đoán - ở đây không có chỗ cho ý thức hoạt động. Phải vượt qua ý thức, buông bỏ ý thức tận cùng mới có cơ hội chiếu thấu nguồn gốc. Việc này phải làm trong bao lâu? Nếu hỏi đến thời gian, đó lại là khái niệm của ý thức, bạn sẽ chết với nó.

Để sống chết với điêu tàn vờ vĩnh
Để mắt mù nhìn lại cuối không hư.  (T.S)

Trong sử Thiền có một vị tên Trư Đầu. Tại sao Sư lại có tên đó? Cũng chưa ai hiểu. Có chỗ nói Sư ở vào đời Tống. Có chỗ nói Sư là đệ tử của thiền sư Hiện Tử. Thiền sư Hiện Tử ấn tâm nơi thiền sư Động Sơn Lương Giới, hành tung quái dị, không ở chùa, không có vật tùy thân, đông hạ chỉ một áo nạp. Nếu Trư Đầu là đệ tử của vị này, ắt không phải thường. Có chỗ nói Trư Đầu chỉ cho Văn Thù Tư Nghiệp, trước làm nghề đồ tể. Một hôm nhân lúc sửa soạn giết một con heo, bỗng khai ngộ, bèn đọc kệ:

Tạc nhật Dạ-xoa tâm
Kim triêu Bồ-tát diện
Bồ-tát dữ Dạ-xoa
Bất cách nhất điều tuyến.

Hôm qua lòng Dạ-xoa
Ngày nay mặt Bồ-tát
Bồ-tát và Dạ-xoa
Không cách nhau gang tấc.

Bài kệ này cũng như bao bài kệ của các bậc ngộ đạo, khơi dậy trong chúng ta một niềm phấn khích. Và còn nữa, nó gợi nhớ chữ Trư (), một bên bộ Khuyển (), một bên chữ Giả (), nửa người nửa thú. Hình như chàng họ Tôn cũng có bộ Khuyển này. Xin lặp lại:

Bồ-tát và Dạ-xoa
Không cách nhau gang tấc.

( Như Đức
 

Kể Chuyện Năm Tý

Chuyện lên đường, không phải vì mình mà vì muôn loài. Có một tâm bi mẫn đối với nỗi khổ của chính mình và nỗi khổ của thiên hạ, xin gánh hết trên vai. Mỗi nhà tu hình như đều có chút từ tâm và nghệ sĩ, dù khi đang cô đơn chiến đấu trong thất hay đang giảng diễn giữa đám đông. Nhưng coi chừng từ bi đôi lúc cũng gây họa. 

CHUỘT VÀNG CHUỘT TRẮNG

Kinh Bách Dụ kể: “Thuở xưa có một người đi đường bắt được con chuột vàng, lòng mừng khấp khởi, liền ôm vào lòng rồi tiếp tục đi. Khi đến một bờ sông, người kia muốn cởi y phục để lội qua cho dễ, bỗng nhiên chuột vàng ôm trong lòng biến thành rắn độc. Ban đầu y sợ hãi vô cùng, nhưng sau rồi tự nghĩ: Ta thà để cho con rắn độc này cắn chết, chớ không chịu quăng đi. Bấy giờ y bèn ôm con rắn độc lội qua sông chẳng hề sợ hãi. Con rắn độc thoát nhiên hóa thành một khối vàng báu to lớn phi thường…”

Chuyện này tỷ dụ gặp được pháp môn chân chánh là bắt được chuột vàng, giữ chắc lòng tin nơi nó để vượt qua sanh tử. Nhưng không phải công phu nào cũng dễ dàng. Các Tổ sư đã điêu đứng bao phen để liều mình hạ thủ. Thiền sư Từ Minh khi tham học nơi Phần Dương, mỗi khi thưa hỏi đều bị mắng chửi thậm tệ, nếu có dạy bảo toàn dùng lời thế tục thô bỉ. Một hôm Sư than trách: Từ ngày đến pháp tịch này đã qua mất hai năm mà chẳng được dạy bảo, chỉ làm tăng trưởng niệm trần lao, năm tháng qua nhanh việc mình chẳng sáng, mất cái lợi của người xuất gia.

Sư nói chưa dứt, bị Phần Dương mắng:

- Đây là ác tri thức dám chê trách ta.

Phần Dương nổi nóng cầm gậy đuổi đánh, Sư toan la cầu cứu, Phần Dương liền bịt miệng Sư. Sư chợt đại ngộ.

Thiền sư Từ Minh đã chịu để cho rắn độc cắn, nếu buông nửa chừng đâu có ngày đại ngộ. Về sau Sư nối pháp Phần Dương, nổi danh là sư tử Tây Hà, con cháu Từ Minh phát triển thiền Lâm Tế thành hai phái Dương Kỳ và Hoàng Long, được gọi là Lâm Tế Chánh Mạch và Lâm Tế Gia Phổ. Tưởng cũng nên ghi lại sự khổ công của thiền sư Từ Minh:

“Từ Minh, Cốc Tuyền, Thủ Chi ba người kết bạn đến Phần Dương tham học. Bấy giờ ở Hà Đông lạnh tột độ, mọi người đều kinh sợ thối lui. Duy có Từ Minh quyết chí cam chịu lạnh ở lại, sớm chiều bền chí tinh tấn tu tập. Ban đêm tọa thiền ma ngủ đến, Minh lấy dùi chích vào mình khiến ma ngủ tan mất” (Thiền Quan Sách Tấn).

Thầy cũng thường khuyên chúng ta: “Học thiền phải có chí trường viễn”. Gìn giữ lòng mình, để niềm tin tăng trưởng theo thời gian, theo từng độ chín muồi của tâm thức mới mong ra khỏi hang sâu sanh tử. Nếu học thiền theo kiểu buồn vui chốc mòng, sợ không nên chuyện.

Một tiếng nói một nụ cười chợt tắt
Hết mấy phen buồn trở lại bên đời.

 (Bùi Giáng)

Xin đọc một đoạn của thiền sư Lai Quả, Sư dạy người học về tiểu ngộ và đại ngộ. Tiểu ngộ là do sức tinh tấn không ngừng như chuột khoét sừng trâu. Sừng trâu mới chui vào còn lớn, chuột cắn từng lớp, từng lớp, càng cắn càng thấy có mùi vị, càng vào sâu càng nhỏ, mặc dù càng chật hẹp mà lại rất có mùi vị, không bỏ đi được. Nơi cắn vào nhỏ lại càng muốn cắn, cắn cho đến lúc cùng, muốn xoay người cũng không xoay được. Sừng trâu vừa dày vừa cứng, đã chui vào tận cùng không cắn làm sao qua? Ra sức cắn cho đến lúc bỗng nhiên khoét được một lỗ. Thông rồi! Qua rồi!

Chúng ta có thể hỏi: “Tại sao con chuột không ở ngoài, chui vô sừng trâu làm chi để phải khổ công tìm lối ra?”. Vậy há quý vị không từng vào thất, tự giới hạn mình để tìm một lối ra mênh mông?

Cửa thất đóng và lòng người cũng đóng.

  (Th. Chánh)

Kể từ khi Thầy cho nhập thất, mỗi ba tháng Thầy vào thất để nghe trình kiến giải. Tôi được dự vào những lần ấy, từng chút một lòng thấy mênh mông. Có những nụ cười và nước mắt theo mỗi lần trình thưa, Thầy ân cần chỉ dạy. Khi Thầy ra về các con chuột lại nỗ lực rút để gặm thêm cho thủng. Những lần vui nhỏ như thế - tôi không dám nói là tiểu ngộ - làm phấn khích cho cả người trong thất và ngoài thất.

Trong truyện Tây Du, thầy trò Đường Tam Tạng đã có lần gặp nạn chuột tinh. Xét ra, chuyện đi thỉnh kinh của ngài Đường Huyền Trang mang một chút nào đó nghệ sĩ tính, dù trong truyện hay trên thực tế. Đường qua Tây Vực, thiên sơn vạn thủy, đèo cao núi sâu, ai lường được bao nhiêu gian nguy? Ai biết được chừng nào trở về?

Mây che trên đầu và nắng trên vai
Nơi ta đi qua, sông còn ở lại...

 (Nhạc Trịnh Công Sơn)

Chuyện lên đường, không phải vì mình mà vì muôn loài. Có một tâm bi mẫn đối với nỗi khổ của chính mình và nỗi khổ của thiên hạ, xin gánh hết trên vai. Mỗi nhà tu hình như đều có chút từ tâm và nghệ sĩ, dù khi đang cô đơn chiến đấu trong thất hay đang giảng diễn giữa đám đông. Nhưng coi chừng từ bi đôi lúc cũng gây họa:

Hồi thứ 80, đi qua rừng Hắc Tùng, trong lúc Hành Giả bận đi xin cơm, Tam Tạng nghe tiếng kêu cứu đã sai Bát Giới cởi trói cho một cô gái ở dưới gốc cây. Đại Thánh trở về, dùng mắt lửa tròng vàng biết đích thị là yêu quái mà ngăn cản Thầy không được. Cho cô ta cùng đi theo, đến trú đêm một tu viện. Ở đó Tam Tạng bị bệnh mất ba ngày, và trong ba đêm yêu quái ăn thịt mất sáu chú tiểu. Khi Hành Giả ra tay chộp được yêu, bị nó lừa hóa hình đối địch, còn yêu thật cướp luôn Tam Tạng về động. Vất vả đôi ba phen, gây gổ với huynh đệ mấy chặp, vác đơn kiện lên tới Thiên đình mới cứu được Thầy. Truy nguyên gốc của nữ quái ấy là Kim Ty Bạch Mao Lão Thử Tinh (Chuột già lông trắng mũi vàng).

Nhân nói về chuột này, cũng xin kể một chuyện vui: Có ông quan nọ rất thanh liêm, đến khi về hưu, gia cảnh nghèo túng. Phu nhân thỉnh thoảng bán chút ít tư trang để lo liệu việc nhà. Ông gặng hỏi đồ đạc ở đâu mà bán? Bà thưa rằng, có lần dân trong huyện cảm ơn đức của quan, muốn tặng quà nhưng không dám thưa thẳng với quan, bèn hỏi nhỏ phu nhân:

- Đại quan tuổi con gì?

- Tuổi Tý.

Họ bèn đúc một con chuột vàng, đem dâng kín cho bà, đến bây giờ mới có chỗ xoay trở. Nghe xong, ông thở ra:

- Sao bà không nói tôi tuổi con trâu?

Con chuột trong truyện Tây Du là một ẩn dụ. Nơi trú ngụ của nó là núi Hãm Không, động Vô Để. Những ngõ ngách hang chuột trùng trùng mà lại ở trong một cái động không đáy ai mà biết được? Ai khám phá ra? Ngay cả trí tinh khôn của Hành Giả (Hậu đắc trí) cũng phải bó tay, nếu không nắm được cội gốc (Căn bản trí). Nhưng xin chớ nản lòng, đã lên đường là sẽ tới đích, Thầy có dạy chúng ta “Có tu là có tiến”.

Về chuyện chuột trắng, lúc còn Sa-di, bộ sách căn bản mà chúng tôi phải học là Sa Di Luật Giải. Học theo kiểu xưa, nghĩa là một câu luật hay một câu cảnh sách được giảng rộng, ký chú, kể thí dụ rất nhiều. Câu của Tổ Quy Sơn: “Ngạn thọ tỉnh đằng, khởi năng trường cửu” (Cây trên bờ lở, dây leo bám giếng, làm sao lâu dài) được giải thích bằng một ví dụ: Xưa có một người sợ hai con voi say, nắm dây chuyền xuống dưới giếng để trốn. Dưới đáy giếng có ba con rồng phun lửa giơ móng chực vồ. Người kia liền đeo tòn ten giữa chừng, thì phía trên có hai con chuột, một đen một trắng, thay nhau cắn sợi dây gần đứt. Bốn bên còn có bốn con rắn độc thò đầu le lưỡi muốn mổ. Người kia ngó lên thì hai con voi đã đến bên miệng giếng. Còn đang lo rầu về sự không khỏi chết, bỗng có một bầy ong bay qua nhểu năm giọt mật vào miệng, người nuốt mật quên cả nguy hiểm gần kề.

Hai con voi say là dụ cho sanh tử, chúng ta khi Sanh cũng say mà khi Tử càng túy lúy. Sanh tử say như chưa hề tỉnh, sợi dây leo bên miệng giếng là dụ cho mạng căn, sinh mệnh đã mỏng manh mà còn bị hai con chuột ngày và đêm thay nhau gặm mòn, ba rồng độc là tham, sân, si luôn chực hờ, bốn rắn tứ đại nào để cho yên, thế mà vừa chạm ngũ dục…

Đến nay gần ba mươi năm, lời răn nhắc và câu chuyện cái người đeo tòn ten vào sợi dây trong giếng vẫn còn in hình rõ rệt trong tôi. Những câu kinh tụng có sức mạnh thúc hối:

Thị nhật dĩ quá
Mạng diệc tùy giảm
Như thiểu thủy ngư…

 

Ngày nay lại đã qua rồi
Mạng căn huyết mạch lần hồi khô khao
Dường như cá cạn ở ao...

 Bất cứ một Sa-di nào cũng quen thuộc với đoạn văn Cảnh Sách và câu kinh trên. Tôi không làm gì khác hơn là kết bạn tọa thiền với đại chúng, được làm người tọa thiền không còn gì hạnh phúc hơn. Càng về già tôi thấy thời gian đi nhanh. Tuy nhiên trong tôi có một sự ổn định, không nôn nóng mà chẳng trễ tràng. Chuyện cổ “Ống chỉ thần” kể rằng:

Có một ông hoàng nhỏ tuổi, muốn được mau lớn để hưởng những gì của người lớn. Hoàng tử gặp một ông thần, trao cho chàng ống chỉ và nói:

- Muốn thời gian đi nhanh thì tháo chỉ ra. Số vòng quay tương đương với số năm, kéo nhiều vòng năm đi càng nhanh.

Hoàng tử cầm ống chỉ kéo rút một cái. Chàng trở thành thanh niên, kết hôn với một công chúa; kéo thêm ít vòng, chàng nối nghiệp vua cha. Thích chí, chàng rút thêm vài tua, đầu điểm tóc bạc. Trên tay ống chỉ còn rất ít, già chết gần kề. Chỉ tháo ra không quấn lại được.

Em có định sẽ cùng ai kể lể
Một nỗi đời hư huyễn giữa chiêm bao.

(Bùi Giáng)

Trở về chuyện chuột. Chuột trong ngụ ngôn của Esop, nhà thông thái Cổ Hy Lạp.

Chuột, gà trống và mèo

Chuột con vừa ra khỏi nhà lần đầu. Sau cuộc dạo chơi, nó về khoe với mẹ:

- Con vừa gặp hai bác hàng xóm, một bác trông dữ tợn đến khiếp, một bác hiền khô thật có cảm tình.

Mẹ chuột hỏi:

- Hình dáng ra sao?

- Cái bác dữ tợn ấy, chân đen gân guốc có đeo dao nhọn, đầu đội mũ đỏ, mắt lồi, mỏ nhọn, hết vỗ cánh lại dậm chân đùng đùng. Con sợ quá chẳng dám đến gần.

- Con đừng sợ, đó là bác gà trống. Nhà mình có khi còn lấn hiếp.

- Còn bác kia đang nằm sưởi nắng, môi đỏ, tai hồng, lông trắng mượt mà, mắt lim dim. Bác ấy ngoe nguẩy đuôi rủ con đến chơi. Con định chạy đến thì nhà bác dữ tợn bỗng quát lên “Ó… o… o…”. Con ù té chạy.

Mẹ chuột hoàn hồn ôm con, nói:

- Phước đức ba đời nhà mình. Con vật hiền lành đó là mèo mướp đấy. Nó mà chộp được con thì chẳng còn mảnh xương.

Những người có bề ngoài dữ tợn không đáng sợ bằng người có bề ngoài ngọt ngào.

Chuột đồng và chuột nhà

(Chuyện này xin tặng riêng dân Viên Chiếu)

Chuột đồng đến viếng chuột nhà, chuột nhà dẫn nó đi xem cơ ngơi sang trọng, kho lẫm đầy ứ. Và dẫn luôn lên bàn ăn của chủ nhà vừa bước ra. Chuột đồng chưa bao giờ thấy những thức ăn ngon lành như thế. Đang thích chí chè chén, bỗng chủ nhà trở lại. Chuột nhà hoảng hồn kéo bạn xuống núp trong kẹt tủ, nín thở. Giây lát sau, nhà hết người, chuột đồng từ giã bạn:

- Thôi chào bác tôi về ruộng.

- Bác hãy ở lại chơi thêm… Còn nhiều thức ăn trong bếp.

- Không dám. Ở nhà bác tôi sợ… hở van tim!

Trong lúc tìm tài liệu để viết về chuột, tôi gặp một câu chuyện thiền, không có gì dính dáng đến chuột, nhưng tôi thích quá đỗi nên chép luôn vào đây.

Thượng tọa Huệ Viên ở huyện Khai Phong, con nhà họ Vu, làm nghề nông. Thuở bé nương ở chùa Kiến Phước, thờ ngài Đức Quang làm thầy. Căn tánh của Sư tuy ngu độn nhưng siêng năng tham thiền, ngồi mãi chẳng nằm. Ở chùa được vài năm, được thầy cho đi hành cước. Đến chùa Đông Lâm - Lô Sơn, Sư thường thưa hỏi việc của mình. Bạn bè thấy Sư mặt mày xấu xí, cử chỉ quê vụng đều trêu chọc khinh khi. Một hôm, Sư đang đi bỗng vấp gốc cây ngã té, chợt khai ngộ.

Sư làm kệ, mượn người viết trên vách:

Giá nhất giao, giá nhất giao
Vạn lạng hoàng kim dã hợp tiêu
Đầu thượng liệp, yêu hạ bao
Thanh phong minh nguyệt trượng đầu khiêu.

 

Một lần này, một lần này
Muôn lạng vàng ròng cũng tiêu ngay
Trên đầu nón, ngang lưng đãy
Gió mát trăng trong đầu gậy quảy.

Mỗi năm một lần đọc lại sách thiền để tìm tài liệu viết bài, tâm tôi vẫn xúc động như lần đọc đầu tiên. Tôi thấy hình như mình viết là để bộc bạch một nỗi niềm, một gởi gắm nào đó trong năm con chuột này

 

BÀI LUẬN CHĂN TRÂU

Ni cô về thăm nhà. Mấy bác lối xóm đến chơi, hỏi chuyện tu hành để tỏ sự quan tâm của bậc trưởng thượng đối với con cháu. Một bà thím vừa nhai trầu, vừa hỏi:

- Cháu ở trong chùa mỗi ngày làm gì?

Ni cô đáp gọn:

- Dạ, chăn trâu.

Bà nhổ miếng cổ trầu, ngạc nhiên:

- Cực vậy sao? Bây học hành chữ nghĩa đàng “quàng” mà vô chùa bắt chăn trâu?

- Dạ, trong chùa con ai cũng phải chăn trâu.

- Bộ nhiều trâu lắm hả?

- Dạ không nhiều, mỗi người chỉ chăn một con.

 “... Thế nhân ơi, một ngày anh là một ngày được mất. Một ngày anh là một ngày đói no. Một ngày anh là một ngày buồn vui sướng khổ, còn ngày tôi là một ngày chăn trâu...”

(Nhạc và lời: Từ Âm)

Khi vừa biết tu là vừa biết chăn trâu. Trước đó không hề tự hỏi ta là ai? Trâu là gì? Kinh luật gợi bao điều hoài nghi thắc mắc, dội trong trí não những câu tự vấn, và chợt thấy mình không giống ai. Không giống chư Phật, Bồ-tát vì các Ngài đã qua giai đoạn chăn trâu, cũng không giống chúng sanh vì người đời không nghĩ đến chuyện chăn trâu. Chỉ có người tu, ở khoảng giữa, là phải chăn trâu.

Tưởng chừng như có con trâu để chăn, có thằng mục đồng lăm le cây roi, vọng tưởng vừa lên là quất. Trâu đau, mục đồng cũng rát da. Trâu và mục đồng đâu phải hai thứ, tuy nói mất trâu, được trâu, chăn trâu... cũng chỉ trên một tâm. Thiền sư Cự Triệt tụng bài chăn trâu thứ nhất:

Ngưu thượng ngưu hề đồng thượng đồng

Ngưu đồng bối hướng các tây đông

Tiêm trần bất cách hà tiêu nhưỡng

Khoáng kiếp lai kim uổng tự mông.

Tuệ Sỹ dịch là:

Chú, trâu này chú nọ trâu
Chú, trâu hai ngả hai đầu đông tây
Bụi hồng cách một rèm mây
Thiên thu lơ láo những ngày lang thang.

Hai câu sau phải hiểu là hai bên (trâu và mục đồng) không cách nhau mảy may, dù chẳng thấy nhau, cho nên nhiều kiếp đến nay uổng công đi tìm.

Chăn trâu chỉ là biểu tượng, không hẳn phải có từng công đoạn rõ rệt như trong kỹ nghệ. Người tu đôi khi lúng túng không biết mình đang ở bức tranh số mấy. Nhiều lúc cảm thấy thong dong, tưởng như trâu mình ngoan ngoãn, có thể thõng tay vào chợ. Đôi phen bức ngặt muốn đứt dây. Có khi cảm như mình vừa mới bắt đầu chăn. Thầy giảng Thập Mục Ngưu Đồ xong, hỏi chúng:

- Mấy đứa con ở mục nào?

Cả chúng lặng trang, vài con trâu quay đầu ngó nhau. Dễ trả lời nhất là nói mình đang ở mục thứ nhất, nhưng như thế... mất mặt quá, nói đại mục thứ tư, thứ năm cho gần đến đích.  Làm như đang ở trong trường đua, sau khi chạy hết tốc lực... thấy mình đang ở mức khởi hành.

Có vị Tăng hỏi thiền sư Pháp Nhãn:

- Trước đền cổ Phật, người nào đến trước?

Sư đáp:

- Người không cất bước.

Muốn có manh mối rõ ràng, chúng ta đọc “Thập Mục Ngưu Đồ Tụng” của thiền sư Quảng Trí, một cao tăng Việt Nam dưới thời Lê Trịnh. Thiền sư gọi thức thứ sáu là người chăn, năm thức kia là con trâu. Năm thức ra vào trần cảnh, mục đồng không kéo lại kịp thì bị vạ lây, thông thường khổ đau hay hạnh phúc chỉ vì ý thức suy tư. Năm thức trước rất vô tư để phê phán, như con trâu không cần biết giới hạn giữa mạ non và cỏ xanh. Và cũng thông thường, chưa thấy ai đem trâu ra tòa, chỉ có níu áo phạt vạ mục đồng thôi.

Ta nhớ ngày nào chưa tỏ ngộ

Mỗi lần nghe sáo dạ buồn lây…

(Thái Nguyên Phu)

Nghe sáo là nhĩ căn và nhĩ thức, nhưng dạ buồn lây thì rõ ràng là có ý thức cộng vào. Hoặc như :

Sáng nay em có qua cầu

Thấy cành sen gãy có đau đớn lòng

Màu trinh nguyên cũ còn không

Đi về đâu những cánh hồng ban sơ.

(Tuệ Đăng)

Thấy cành sen gãy mà lòng đau đớn là tại vì ý thức còn liên tưởng đến hồi sen còn tươi, còn nguyên vẹn. Thi sĩ, văn sĩ là người phải chăn trâu nhiều nhất. Nhưng nếu họ thành Thánh hết, thế gian có buồn không? Vẫn còn đó, các vị Phật tương lai nguyện trang nghiêm cuộc đời bằng chính đạo hạnh của mình và đó mới là cái đẹp đích thực.

Chăn trâu kiểu nào có kết quả? Đóng các căn không cho tiếp xúc trần cảnh, như ba con khỉ bịt tai, bịt mắt, bịt miệng? Vào thất ngồi thiền châm bẩm là tránh các duyên?

Cửa thiền một đóng duyên trần  dứt

Quên hết người quen chốn bụi hồng ...

(J. Leiba)

Người quen xuất hiện liên tục bất kể ngày đêm, ngồi hay nằm, thất kín hay thất hở. Con trâu cứ lầm lì rong chạy trên cánh đồng tâm tưởng. Làm sao đây?

Kinh Lăng Nghiêm, Phật dạy A-nan: “Ông muốn biết Câu sanh vô minh là đầu mối khiến ông lưu chuyển sanh tử, thì nó chính là sáu căn của ông chứ không phải vật gì khác. Ông muốn biết tánh Vô thượng Bồ-đề khiến ông mau chứng an lạc giải thoát tịch tịnh diệu thường, thì cũng chính là sáu căn của ông chứ không vật gì khác.” Căn và trần không lỗi, chỉ có thức phân biệt là sanh sự. Thức này tạm khởi, cũng hư vọng như hoa đốm, như kính vạn hoa, vừa động lay một cái là bao nhiêu tình thức chuyển biến. Rõ ràng là không có gì để chăn vì căn và trần đồng một nguồn, triền phược hay giải thoát không hai, thức phân biệt ở khoảng giữa đó, rất hư huyễn. Có lẽ nên nói cho rõ hơn, chỗ chăn trâu là chỗ biết hư huyễn. Một chữ hư huyễn này, đi cho sông cạn đá mòn, mài dũa bao lần, đến lúc thấy mọi sự đều tức cười, mới hy vọng gọi là chăn trâu.

Căn và trần đều là hiện tượng, các lớp sóng thức như hiện tượng biển động. Ai cũng muốn biển tâm mình bình an, nhưng biển càng sâu, sóng càng cao, ở người tu không có sự bình an vì ngủ quên hay bình an vì không biết, không nhìn kỹ vạn vật. Càng nhìn càng chóng mặt. Bồ-tát Đại Huệ đem 108 thắc mắc để hỏi Phật về mọi thứ quanh mình. Đó là duyên khởi của bộ kinh Lăng Già. Đức Phật trả lời tuy nhiều nhưng chúng ta chỉ lưu ý ở phần Ngài dạy về căn, trần, thức, đó cũng là cái gút để chăn trâu.

Ví như sóng biển cả

Đây do gió mạnh thổi

Sóng to vỗ biển rộng

Không có khi đoạn dứt

Biển tàng thức thường trụ

Gió cảnh giới nổi dậy

Lớp lớp các sóng thức

Ào ạt mà chuyển sanh.

Biển lúc nào cũng y nhiên thường trụ, căn trần đều từ nội thức hiện, gió cũng từ mình phát khởi, không có đợt sóng nào rời biển. Vậy thì trâu có đi đâu cũng không ra khỏi tâm, nghĩ được như vậy chúng ta thấy nhẹ nhàng. Đó chỉ là mới nghĩ tới thôi, còn khi chạm cảnh thì tùy mỗi người xoay sở.

Cùng một ý, thiền sư Thiệu Tu diễn tả như sau:

Dục thức giải thoát đạo

Chư pháp bất tương đáo

Nhãn nhĩ tuyệt kiến văn

Thinh sắc náo hạo hạo.

Sơ tâm vị nhập đạo

Bất đắc náo hạo hạo

Chung thinh lý tiến thủ

Cổ thinh lý điên đảo.

Vạn pháp thị tâm quang

Chư duyên duy tánh hiển

Bổn vô mê ngộ nhơn

Chỉ yếu kim nhật liễu.

Muốn biết đạo giải thoát
Đừng đuổi theo các pháp
Mắt tai dứt thấy nghe
Thinh sắc rộn ào ạt.

Sơ tâm chưa vào đạo
Chẳng được rộn ào ào
Trong tiếng chuông thẳng tiến
Trong tiếng trống điên đảo.

Muôn pháp ánh sáng tâm
Các duyên do tánh bày
Vốn không người mê ngộ
Chỉ cần hôm nay hiểu.

Ở giai đoạn một, Thiền sư dặn mình muốn được đạo giải thoát thì đừng cho các pháp gặp nhau, có nghĩa là đừng để trâu ăn lúa mạ, mắt tai đừng chạy dòm dỏ chuyện người, mặc cho âm thanh hình ảnh rộn ràng (thinh sắc náo hạo hạo).

Giai đoạn hai, với người mới học chưa vào đạo, không cho chạy theo thinh sắc rộn ràng, nhưng khi không chạy theo mà thinh sắc cứ dội vào mình thì làm sao?

Thầy vào thăm thất, một thất chủ trình bày: “Thất con ở kế bên cái radio nhà hàng xóm, khi mở nhỏ thì con cho qua được, có khi con đang ngồi thiền họ mở cải lương lớn quá con không nghe cũng không được, mà nghe cũng không được. Xin Sư ông chỉ dạy.” Cảnh khổ này ai cũng có trải qua, thời tin tức truyền thông, những cái loa phóng thanh, những hình ảnh quảng cáo nhan nhản, có chun vô rừng cũng không yên. Dường như Thiền sư đang cười mình: “Trong tiếng chuông tiến lấy.”  Có thể chúng ta chợt ngộ ra đối với một âm thanh. Nhưng “Trong tiếng trống điên đảo”. Có thể chúng ta đầu hàng đối với một loại âm thanh khác. Không hề gì, thắng và bại là chuyện phải có trong chiến đấu.

Giai đoạn ba, đưa ra một kết luận nhẹ nhàng: Muôn pháp đều là ánh sáng của tâm, các duyên bên ngoài xấu hay đẹp, thuận hay nghịch, chỉ cốt hiển lộ tánh Phật. Có duyên là có tánh, khi nghe biết mình đang nghe.

Vốn không người ngộ, mê

Chỉ cần ngày nay hiểu.

Trở lại vấn đề chăn trâu, trong các kinh A Hàm Phật dạy rõ ràng, đơn giản. Kinh Niệm - Trung A Hàm - Khi Đức Phật ở tại tịnh xá Kỳ Thọ Cấp-cô-độc, Ngài kể cho các Tỳ-kheo nghe lối tu của Ngài khi chưa giác ngộ. Nhìn vào tâm niệm, Phật thấy niệm có hai loại, niệm thiện và bất thiện, đối với niệm bất thiện như tham dục, sân hại... Ngài tinh tấn, nhiệt tâm dứt trừ. Phật thí dụ điều này như mục đồng chăn trâu vào mùa xuân, đồng ruộng có lúa, mục đồng cầm roi canh chừng không lơi lỏng. Đồng lúa ngon lành rủ rê các chú trâu, nhưng khi phạm lúa mạ thì tai họa sẽ vô cùng. Cũng vậy, các niệm nghiêng về dục, về tham, về sân sẽ làm tâm tư mờ tối, dao động, cách xa an lạc giải thoát...

Khi các niệm bất thiện được dứt trừ, còn lại niệm thiện, nhưng nếu tâm dính mắc vào niệm thiện cũng còn lăng xăng, khó đắc định. Phải bỏ luôn niệm thiện, dừng niệm. Thiền tông áp dụng chỗ này khi Lục Tổ hỏi Thượng tọa Minh:

- Chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác, cái gì là bản lai diện mục của ông?

Do phép quán tâm niệm, tiến lên dần dần cho đến kết quả được Tứ thiền, được tam Minh. Tất cả quả giải thoát đều bắt đầu từ lối tu này. Từ bao giờ niệm vẫn là vấn đề then chốt để cho hàng Phật tử lưu ý.

_Trong một bài kinh khác, kinh Phóng Ngưu - Tăng Nhất A Hàm - Phật dạy một vị Tỳ-kheo giỏi phải như người chăn trâu giỏi, có mười một điều cần làm:

1. Người chăn trâu giỏi dễ dàng nhận ra trâu của mình. Cũng vậy, Tỳ-kheo nhận ra trâu mình nghĩa là biết rõ những yếu tố tạo nên thân, khéo quán sát về tính cách kết hợp của sắc uẩn, của các yếu tố căn bản trong thân. Quán sát thân mình là đề tài Đức Phật thường nhắc nhở nhiều trong các bộ A Hàm. Quan sát với trí tuệ để thấy rõ bản chất vô thường, bất tịnh.

2. Người chăn trâu biết được hình tướng của mỗi con trâu trong đàn. Như thế, Tỳ-kheo biết được từng hành động của thân, miệng, ý, hành động nào đáng làm, hành động nào không nên làm. Thiền sinh hấp tấp bước vào phòng tham vấn, bị thầy chận lại hỏi:

 - Ông để đôi dép của ông bên tay mặt hay bên tay trái?

3. Người chăn trâu biết tắm rửa, cọ xát cho trâu, cũng như người xuất gia biết gột rửa tâm niệm của mình.

4. Người chăn trâu biết chăm sóc vết thương của trâu. Nơi sáu căn của chúng ta là mồi cho các vết thương tiêm nhiễm, phải biết chăm sóc, phòng hộ từ các căn, một căn chạy theo trần là tổn thương vô kể, là những giờ tọa thiền lao đao.

5. Người chăn trâu biết cách đốt khói un trâu để trâu khỏi bị muỗi đốt. Người xuất gia xông hương giải thoát cho mọi người chung quanh bằng cách dạy họ đạo lý, hướng dẫn tinh thần họ trong niềm an vui.

6. Người chăn trâu biết tìm đường đi an toàn cho trâu. Người xuất gia tìm đường đi cho cuộc đời của mình, con đường vắng bóng danh lợi, sắc dục...

7. Người chăn trâu biết thương yêu trâu. Một giờ tọa thiền không theo vọng, thân tâm nhẹ nhàng khinh an, người xuất gia quý điều này, tìm cách tăng trưởng thiền duyệt, đó là biết thương yêu trâu của mình.

8. Người chăn trâu biết tìm bến tốt cho trâu qua sông. Trong một đoạn kinh khác, Đức Phật còn dạy kỹ, người chăn biết khúc sông nào sâu, khúc sông nào cạn, đưa những con trâu mạnh qua khúc sông nguy hiểm, lùa những con trâu yếu qua khúc sông cạn, bờ bến tốt. Người xuất gia cũng phải biết bờ bến tốt để đưa tâm qua.

9. Người chăn trâu biết tìm chỗ có cỏ non và nước uống cho trâu. Trâu được cỏ tốt, nước sạch sẽ khỏe, mập, mạnh. Người xuất gia nuôi tâm ý của mình trong các đề mục Đức Phật đã dạy, như  bốn đề mục quán sát về thân, về tâm, về cảm thọ, về các pháp (Tứ niệm xứ). Luôn luôn dùng chánh pháp nuôi dưỡng thì trí tuệ sẽ tăng trưởng, không ốm yếu, còi cọc.

10. Người chăn trâu biết bảo trì vùng thả trâu. Người xuất gia dè dặt và cẩn thận trong khi giao tiếp và thu nhận của cúng dường. Nếu làm người mất tín tâm thì cũng như tàn phá khu vực chăn trâu.

11. Người chăn trâu dùng trâu lớn để cầm bầy, để làm gương cho trâu nhỏ. Người xuất gia phải biết nương theo đức hạnh và kinh nghiệm của người đi trước.

Đức Phật kết luận:  Nếu một vị Tỳ-kheo làm đúng theo mười một điều trên, có thể đạt được quả vị A-la-hán trong thời gian sáu năm. 

Tu tập để được giải thoát, đó là điều mong ước của tất cả người tu. Chăn dắt con trâu của mình, giữa vô vàn khó khăn thử thách. Chúng ta có nên than thở rằng thời mạt pháp khó tu? Càng khó thì càng nỗ lực. Chỉ cần biết rằng khi chăn trâu được thì cả thân tâm đều nhẹ nhàng. Không có gì hạnh phúc hơn khi đưa trâu vượt qua những bến sông cạm bẫy. Một điều cuối cùng xin nhớ, chỉ chăn trâu của mình, đừng chăn trâu dùm người ta.

( Như Đức)

 

--- o0o ---

Nguồn: chuyenphapluan.com

Trình bày: Nhị Tường

Cập nhật: 11-2006

 

Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về Thư Mục Văn Hóa Phật Giáo

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp đến ban biên tập qua địa chỉ: quangduc@tpg.com.au

Ghi rõ nguồn "Trang nhà Quảng Đức" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.