Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Phật Giáo Việt Nam


...... ... .

 

 

Chùa Hương ngày nay

Thích Viên Thành
Nhà xuất bản khoa học xã hội

Lời phi lộ

Tháng 4 năm 1964, tôi từ chùa Phật Ấn quẩy đẫy Kim Cương, theo gót thảo hài của Tôn sư về chùa Hương Tích. Giữa núi rừng xanh thẫm bên cảnh chùa đổ nát hoang tàn do mấy cuộc tang thương binh hoả của giặc giã vừa qua, thầy trò tôi khêu đèn đọc sách, tụng tập lý mầu, tiếp tục cùng nhân dân sở tại và Ban quản trị thắng cảnh Hương Sơn dọn gạch vỡ, phát lau sậy, khuê tỏ ngọn đèn Thiền.

Đến tháng giêng năm 1972, tôi hạ sơn du phương Sam học, đến cuối năm 1985 mãn khoá trở về nương đức Tôn sư giữa mài tuệ nghiệp. Vì say cảnh nước non cẩm tú, sơn thuỷ kỳ quan nên ngày đêm tôi tự khép mình trong cảnh Thiền quy, Mật hạnh nơi động tuyết rừng mai, lắng nghe âm thanh của cát bụi tử sinh để một ngày nào đó thấy được khuôn trăng thực hữu của mình. Đến  khi Tôn sư tôi quẩy dép về Tây, xuống thuyền Bát Nhã sang thẳng bờ kia thì tôi được vâng mệnh trụ trì để phụng sự Tổ nghiệp.

Trong những tháng năm ấy tôi không ngừng tìm hiểu về thắng cảnh Hương Sơn, cầu thị những hành trạng oanh liệt của Tổ đức đời trước.

Đến hôm nay nhân buổi thanh nhàn, ngồi viết lại mấy dòng mộc mạc nhằm giới thiệu cảnh đẹp chùa Hương để cống hiến các bạn mến cảnh Hương Sơn và góp thêm một tư liệu vào tủ sách văn học của Tùng Lâm.

Vì trình độ hạn chế nên không giấu nổi vụng về thiếu sót, mong được các bậc cao minh phủ chính.

        Thích Viên Thành cẩn bút


 

 

Lời giới thiệu

 Bầu trời cảnh Bụt,
Thú Hương Sơn ao ước bấy lâu nay…

 

Hương Sơn mà dân gian cứ gọi nôm na là Chùa Hương từ lâu đã là và hiện vẫn còn đang là:

1. Một trung tâm Phật giáo Việt Nam, một “đại danh lam” sớm nhất là từ thế kỷ XV (Lê Thánh Tông (1460-1497), muộn nhất là từ thế kỷ XVIII (Lê Huy Tông Chính hoà thứ 7, 1686), Trịnh Sâm – Canh Dần (1770) Chùa Hương đã được gọi và được viết ra là: “Nam Thiên đệ nhất động” (Động Phật thứ nhất trời Nam).

2. Một trung tâm hành hương, lễ hội đầu xuân (khoảng giữa tháng Giêng đến giữa tháng Ba lịch trăng - tức khoảng tháng Hai đến tháng Tư dương lịch).

3.  Một trung tâm văn hoá – du lịch thời cận hiện đại, có một quá khứ vàng sơn, một hiện đại đã khá khang trang và chắc chắn sẽ có một tương lai rực rỡ, đáng để tổ chức UNESCO công nhận là di sản văn hoá của toàn thế giới.

Với cái nhìn địa lý – nhân văn hay môi trường cảnh quan sinh thái nhân văn, Giáo sư - Viện sĩ Nguyễn Văn Hiệu đã vạch ra rằng:

Đây là một bộ phận  hợp thành của cả một dải núi đá vôi chạy dài theo phương Tây Bắc – Đông Nam, từ Tây Bắc (Phong Thổ - Sơn La- Lai Châu kéo xuống Hoà Bình – Hà Tây, qua miền Non Tản của Sơn Thánh Tản Viên - Đệ nhất “tứ bất tử” của Việt Nam, qua rặng Vân Nam (núi Vua Bà) chạy dài qua dãy “99 ngọn” của Nam Hà, xuống mãi Ninh Bình rồi vào Thanh Hoá bắc trung bộ… Dãy núi này, trong đó có khu vực Hương Sơn, được hình thành từ kỷ Tri-át (Trias) trong lịch sử trái đất, tuổi 270- 220 triệu năm cách ngày nay. Với hiện tượng gọi là kác-xtíc, đã hình thành nhiều thung, quèn, hang động kỳ thú.

Người Việt Nam, từ cổ đại đến ngày nay, bao giờ cũng có một lối sống (way of life), một thế ứng xử “vừa hoà hợp vừa đấu tranh với tự nhiên” (en harmonie et en lutte avec la nature) [1]

Và bởi  vậy, trong lời giới thiệu cuốn sách ảnh về toàn cõi Việt Nam ngay sau khi nước nhà thống nhất (1975) chúng tôi đã nêu lên rằng: Phần lớn - nếu không phải là tất cả những nơi danh thắng (thiên nhiên) đều đồng thời là những nơi di tích (văn hoá – lịch sử) [2]

Khu Hương Sơn cũng là như vậy!

Trong con mắt nhìn tinh - mẫn của Giáo sư Từ Chi, cảnh quan thiên nhiên Hương Sơn ‘Sơn thuỷ hữu tình” có thể ví như một cảnh Non bộ vĩ đại, của cả tạo hoá lẫn con người.

Tạo hoá - tự nhiên là vĩnh hằng.

Con người – văn hoá cũng là vĩnh hằng

Một vĩnh hằng luôn biến động vô thường mà vào lịch sử và  văn hoá” (F. Ênghen) [3]

Giáo sư Trần Quốc Vượng (cùng các cộng sự Viện Khảo cổ) đã phát hiện và khai quật các di tích của văn hoá con người ở Hương Sơn (các hang Sũng Sàm, Sập Bon, động chùa Thanh Sơn, hạng Luộn chùa Hương Đài) có niên đại trên dưới  một vạn năm cách ngày nay, với nhiều đồ đá cuội ghè đẽo hay/ và mài lưỡi, công cụ xương, mảnh gốm thô và cả những di cốt người tiền sử, lấy hái lượm và đi săn làm nguồn sống chính song cũng đã bước vào khúc dạo đầu của một nền văn hoá nông nghiệp nương - vườn. Động Hương Tích ngày xưa có Trống Đồng, cùng thời với các trống đồng Đông Sơn và Miếu Môn, Thượng Lâm, Phú Duy… Ở sát nách Hương Sơn, cùng rìu đồng lưỡi xéo Đông Sơn trên mặt hang và lưỡi rìu đá mài “lưỡi xéo Đông Sơn trên mặt hang và lưỡi rìu đá mài “lưỡi tầm sét” ngoài ruộng lúa, có tên tuổi trên dưới hai ngàn năm [4].

 

Giáo sư Đinh Gia Khánh - bằng ngả đường tiếp cận Folklore - lịch sử, đã chứng minh truyền thống văn hoá con người trên mảnh đất Hương Sơn từ thời các vua Hùng dựng nước (Hùng Lang đánh thắng giặc Ân cùng Thánh Gióng - đệ nhị "từ bất tử" của Việt Nam, được thờ ở đền Trình Yến Vĩ) và cùng Giáo sư Phan Đại Doãn lần tìm các căn cứ của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng cùng nam - nữ tướng và toàn dân, từ cửa sông Hát (Đáy) qua Hoài An xưa, Mỹ Đức nay, xuống đến tận Kim Bảng (Nam Hà) vào đến tận xứ Thanh, trên dải đất ven dãy núi đá vôi và lưu vực sông Đáy cho đến cửa Thần Phù, Nga Sơn... (1) ở thời cổ đại, đến các cuộc xướng nghĩa Cần Vương chống Pháp xâm lược thời cận đại (thế kỷ XIX) với các di tích, di vật (kiếm sắt, đồ gốm sứ vv...) ở các hang Trú Quân (Yến Vĩ) hang ông Bảy (Long Vân vv...) [1]. Xã Hương Sơn đã được nhận Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Thiên nhiên Hương Sơn phong phú và đa dạng có núi rừng và sông suối, có thung quèn và đồng bằng với biết bao sản phẩm tự nhiên độc đáo: củ mài, rau sắng, vả, bứa, súng mỏ, dẻ, chay, búng báng, dớn, nệu, tầm bóp rền cơm, gỗ lát, sến, táu, rù rì, vàng tâm, lòng mực, cà lồ, heo mỡ, sằn lằn, trúc, vầu, mây, song, củ nâu, trám, sa nhân, huyết đằng, ổ rồng, ổ rắn, sâm nam, ngải cứu, bum ngâm, mé nái, bò, thủ ô... (thực vật); có cua núi, cua cu, ốc còi, ốc vặn, hến, trùng trục, các loại cá: rô, diếc, trắm, trôi, mè,.. các loại bò sát; tắc kè, kỳ đà, trăn, rắn,.. các loài chim gà rừng, đa đa, khiếu, vẹt, bìm bịp, vịt trời, le le, vực, cò cuốc, cốc, xít... có cả bồ nông, công trĩ... có các loài có vú: hổ, gấu (chỉ tính quanh đền Trình Yến Vĩ xưa: "Cọp Sao Sa, ma Đường Sáo" "nền đất Trụ lắm hùm tinh, nền Đình lắm chó sói", "ma giấu trâu, cọp rình người" ở Hốc Thơ, Đồng Bèo...) lợn rừng, sơn dương, hoẵng, cáo, chồn, tê tê, mèo rừng, don, khỉ, dộc vv...

Cái thiên nhiên ấy đã được "lịch sử hoá" và "văn hoá hoá" và được miêu tả dưới ngọn bút tài hoa của nhà văn - nhà thơ - nhà nghiên cứu Trần Lê Văn.

Dân gian ta quen gọi tắt khu di tích - tôn giáo - văn hoá này là Chùa Hương; kỳ thực như chúng tôi đã nhiều lần chứng minh và giờ đây các Giáo sư Đặng Nghiêm Vạn, Lê Trung Vũ cùng các nhà nghiên cứu địa phương đã nhấn mạnh:

Hương Sơn là cả một tổng thể - hay phức thể (complexe) tôn giáo - văn hoá Việt Nam cổ truyền: từ tín ngưỡng dân gian: thờ Sơn thần Hoàng Hổ ở đền Trình, tín ngưỡng phồn thực, cầu tự (cầu con - cô cậu) tín ngưỡng nông nghiệp đụn gạo, cối giã, chuồng lợn, ao bèo, nong tằm, né kén... trong động Hương Tích, tín ngưỡng Thờ Mẫu (hang Bà Hội Xá, núi Bà Lồ trước núi chùa Hương, mẫu Thượng Ngàn ở đền Trần Song - cửa Võng...) kể cả đền Mẫu ở chùa Trò cho đến sự tích bà chúa Ba... đến Nho, Đạo (Đình, Đền)... đều được tích hợp và hội nhập vào Phật giáo dân gian Việt Nam.

Các giáo sư uyên thâm Phật học như Hà Văn Tấn, Trần Lâm Biền... bằng những cách tiếp cận khác nhau qua thư tịch cổ, qua di tích xưa... đã phác hoạ con đường Phật giáo, từ ấn Độ qua đường biển, từ nam Trung Hoa qua đường ven biển, từ Trung á Tây Tạng - Vân Nam qua đường lưu vực sông Hồng... khi đến Việt Nam từ đầu công nguyên, hay khi đến Hương Sơn từ dăm ba trăm năm có lẻ... đều đã được "Việt Nam hoá" và "Dân gian hoá".

Để Hương Sơn trở thành một cõi Phật Việt Nam, cõi tâm linh của đức bà Quan Thế Âm Bồ Tát "cứu khổ cứu nạn", khuyến Thiện trừng ác.

Có Phật, có Pháp nhưng muốn đưa Phật Pháp thấm vào lòng dân chúng thì phải có Tăng.

Vẫn biết rằng, theo Thiền tông hay Tâm tông thì "Phật tức Tâm, Tâm tức Phật", hay nói như đại thi hào Nguyễn Du:

- Thiện căn ở tại lòng ta

Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ tài. 

Hoặc nói như dân gian Việt Nam:

- Dù xây chín đợt phù đồ

Không bằng làm Phúc cứu cho một người

- Thứ nhất là tu tại gia

Thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa

Song, sao chăng nữa, dân ta vẫn thích đi Chùa lễ Phật theo ứng xử của các vãi bà:

- Trẻ vui nhà, già vui chùa

Chùa vẫn là trung tâm văn hoá - lễ hội Phật giáo và Tăng là các vị có đạo đức cao cả để hoằng dương Phật Pháp: Đại Hùng - Đại Lực - Đại Từ - Đại Bi...

ở khu vực Hương Sơn này, ta có thể vạch lại lịch sử các vị Tăng trụ trì tiêu biểu ở Hương Sơn, từ Viên Quang Thiền sư thế kỷ XVII"trong thì sửa sang động Hương Tích, ngoài thì mở mang cõi Phật Thiên Trù" (theo Bia Chính Hoà thứ 7 (1686) của chùa Thiên Trù) đến các Hoà thượng Thanh Chân (Thiên Trù), Thanh Nhàn (Long Vân)... của thế kỷ XX này!

Các chuyên gia của Viện Hán Nôm đã và sẽ còn giúp nhà chùa nhiều hơn nữa trong việc sưu tầm, dịch thuật và nghiên cứu lịch sử khu di tích Hương Sơn, qua các nguồn thư tịch Hán Nôm.

- Vì Hương Sơn cõi Phật đồng thời là một cảnh đẹp vĩnh hằng nên, xưa cũng như nay, bao giờ nhà chùa cũng được hân hạnh đón tiếp nhiều bậc lãnh đạo quốc gia, từ vua Lê Thánh Tông (1460-1497) đến chùa Trịnh Sâm (1767-1782), từ Chủ tịch Hồ Chí Minh đến Thủ tướng Phạm Văn Đồng... cùng biết bao bậc "tao nhân mặc khách" như Cao Bá Quát, Tản Đà... Nét chữ "Nam Thiên đệ nhất động" của chúa Trịnh Sâm còn đó trong động Hương Tích tháng ba năm Canh Dần (1770) cùng bài thơ nôn trên chùa núi Tiên Sơn.

Hà Tây - Chùa Hương - Chùa Thầy... là cả một vùng quê in dấu Bác Hồ và "một vùng quê nhớ Bác”.

Có một quần thể Hương Sơn - thực tại. Mà cũng có một/nhiều Hương Sơn trong tâm thức, tâm trí, tâm tưởng của con người Việt Nam, từ Bắc đến Nam và cả nhiều người ngoài nước. Từ trước đến nay đã có biết bao nhiêu thơ văn - câu đối - bài hát nói và viết về thắng tích Hương Sơn mà, do những hạn chế ngặt nghèo khách - chủ quan, nhà thơ Vũ Quần Phương cũng mới điểm bình được một số bài tiêu biểu cổ - kim...

Bản chất của cõi Phật là một niềm tĩnh thổ[1], tịnh độ.

Song Phật giáo Việt Nam nói chung và cõi Phật Hương Sơn nói riêng vẫn luôn luôn "nhập thể", "hào quang đồng trần" (trộn lẫn thế tục, hoà cùng ánh sáng như Tuệ Trung Thượng sĩ, "ngọn đèn tâm cao sáng" của đức Điều ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông, Tổ thứ nhất của Thiền phái Trúc Lâm, người anh hùng của cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên - Mông(1), Hoà thượng Thanh Chân ở chùa Hương đã nhiều lần được gặp Bác Hồ, đã hơn một lần tiễn "tiểu" đi bộ đội chống giặc cứu nước.

Chúng tôi vẫn đinh ninh lời căn dặn ân cần của Bác Hồ:

"Chùa Hương là một nơi cảnh đẹp được thiên nhiên ưu đãi, cần được bảo vệ và mở mang quy hoạch lại, phải trồng cây cối cho đẹp để bà con trong nước và khách nước ngoài đến đây vãn cảnh".

Ngày nay Chùa Hương đã và đang được mở mang và quy hoạch lại. Rừng Hương Sơn cũng đang được tu bổ, theo lời dạy của Bác Hồ:

Để cho mãi mãi:

Chùa Hương trời điểm lại trời tô

Một bức tranh tình trải mấy thu

Xuân lại xuân đi không dấu vết

 Ai về, ai nhớ, vẫn thơm tho...

Tản Đà 

 

 

GS Trần Quốc Vượng 

Ngày xuân khai hội Chùa Hương 

Hàng năm, mỗi độ xuân về hoa mơ nở trắng núi rừng Hương Sơn, hàng triệu Phật tử cùng tao nhân mặc khách khắp bốn phương lại nô nức trẩy Hội Chùa Hương. Hành trình về một miền đất Phật, nơi Bồ Tát Quán Thế Âm ứng hiện tu hành, để dâng lên Người một lời nguyện cầu, một nén tâm hương, hoặc thả hồn bay bổng hoà quyện với thiên nhiên ở một vùng rừng núi thơm tho in dấu Phật.

Kể từ khi vua Lê Thánh Tông đi tuần thú Phương Nam lần thứ 2 và Chư vị liệt Tổ chống tích trượng khai sơn phát hiện đến nay, trải qua mấy trăm năm với chiều sâu lịch sử và bề dày truyền thống văn hoá đã tô bồi cho vùng thiên nhiên hùng vĩ này một bức tranh "kỳ sơn tú thuỷ" tuyệt vời mà bút thần khôn tả. Chả thế mà Thám hoa Vũ Phạm Hàm đã phải thốt lên:

Người tai mắt chốn nhân gian

Ai chẳng đến Hương Sơn thì cũng tục

Tìm hiểu về Hương Sơn chúng ta thấy đây là một dãy núi đá vôi nằm ở sườn đông vốn chạy dài từ Lai Châu đến Thanh Hoá. Dãy núi này đã bị sức xâm thực lâu đời của thiên nhiên nên mạch nước mới khoét núi đã thành nhiều hang động với nét đẹp tự nhiên.

Đến năm 1687 Hoà thượng Trần Đạo Viên Quang mới chống thuyền trượng hoằng truyền và xiển dương Đạo Phật khiến vùng này trở thành nơi Linh sơn phúc địa.

Đến đầu năm 1947, Chùa Hương đã trải qua 9 đời Tổ Sư nối tiếp xây dựng và luôn được sự ủng hộ của thiện tín muôn phương và nhân dân sở tại. Ngày 17 tháng 12 năm Đinh Hợi (1947) giặc đã tàn phá chùa Thiên Trù và Tiên Sơn nhưng sau hoà bình lập lại với sự chỉ đạo của ngành Văn hoá và chủ trương đúng đắn của Nhà nước, thắng cảnh Hương Sơn không những được khôi phục mà ngày càng được mở rộng và phát triển cho đến hôm nay đã "quyến cả phồn hoa lại".

Trước ngày vào xuân hội, nhân danh người trụ trì Chùa Hương, tôi xin gửi tới toàn thể chư quí Phật tử và du khách đi "Trẩy hội Chùa Hương" lời chào trân trọng và lời cầu chúc an khang.

Chúng ta sẽ gặp nhau ở cảnh động đẹp nhất trời Nam trong vòng tay của mẹ hiền Quán Thế Âm vào mùa xuân - mùa trẩy hội khiến "Ai về, ai nhớ vẫn thơm tho".

Sơ lược về khu di tích Hương - Thiên

Một dải núi đá mầu lam, khởi đầu từ núi Hoàng Côn (Hương Sơn thiền phả cũ chép là Hoàng Liên, Hoàng Long Cương) qua bao đồi, bao núi, vượt sang phía bên tả sông Đà, dẫn xuống các ngọn Ba Vì, vằn vèo lượn quanh qua huyện Chương Mỹ suốt tới huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình.

Dải núi này một phần cũng thuộc địa dư cổ Hà Nội, xa trông như dương hai bàn tay ôm lấy núi Thầy sông Nhuệ, núi Đọi, sông Châu, phía trước mặt là sông Hồng và Thủ đô Thăng Long.

Bên trong dải núi nước xói khoét thành nhiều hang động, có một ngọn nổi tiếng là thắng cảnh lâu đời - Động núi Hương Tích.

Hương Tích nghĩa là dấu thơm, tương truyền rằng: Đức Nam Hải Quán Thế Âm Bồ Tát trước ngày tu hành rồi thành đạo tại đây.

Động Hương Tích còn gọi là động Hương Sơn, ở vào địa phận huyện Mỹ Đức tỉnh Hà Tây, tiếp giáp với tỉnh Nam Hà. Có thể đến đây bằng hai lối, đường thuỷ đi từ cuối tỉnh Nam Hà ngược theo dòng sông Đáy qua thị xã Phủ Lý ước khoảng hơn một ngày thuyền thì tới bến Đục, hoặc từ Hà Nội bằng đường bộ, qua thị xã Hà Đông, vào thị trấn Vân Đình, tới dốc Thanh Bồ thì rẽ vào bến Đục, qua một con đường rất dài chừng vài dặm. Hoặc qua đầu đê rẽ phải đến cuối thị trấn Tế Tiêu rẽ trái theo đường trục bên mương Phù Đông qua cầu Hội Xá rồi tới làng Yến Vĩ, ở đây có con suối trong chảy từ rừng sâu qua núi Hương Tích đổ về:

... Đường vào Hương Tích lượn quanh,

Nước non gấm dệt, mầu xanh phủ màn.

Người niệm Phật, khách tham quan,

Suối thanh tịnh rửa nhẹ nhàng trần duyên...

Bến đò suối, tại đây có những chiếc thuyền ván, ngày thường nhân dân địa phương dùng để vào rừng kiếm củi. Nhưng hàng năm tới mùa xuân, khi khách thập phương trẩy hội Chùa Hương thì những chiếc thuyền đó lại là phương tiện để đưa đón khách.

Đường suối hai bên núi non rác rác chạy dài, dòng suối trong xanh, thuyền lượn quanh co, đáy nước như một tấm gương pha lê rộng phẳng. Dọc theo suối còn biết bao cảnh đẹp, thoạt tiên ghé tới một ngôi đền, đền này xây dựng ở cạnh sườn một trái núi có năm ngọn, nên gọi là đền Ngũ Nhạc, cũng còn gọi là đền Trình. Từ xưa khách thập phương trẩy hội Chùa Hương, ai qua đây cũng vào để trình lễ với Sơn Thần.

Rời đền Trình, đò len qua giữa hai dãy núi để tới cửa hang có 4 chữ Hán "Sơn thuỷ hữu tình" là dấu tích bút đề của Tĩnh Vương Trịnh Sâm.

Trên một chiếc cầu ván chênh vênh, một vài bóng người kĩu kịt trên vai những gánh mơ vàng hoặc những làn rau sắng đặc sản của Chùa Hương và có những chiếc thuyền chở các thứ lâm sản khác từ rừng núi đưa về xóm làng lân cận.

Và xa kia, núi non còn vẽ ra những hình thù kỳ lạ, núi Con Voi, núi Con Gà, núi Mâm Xôi, núi Chiêng, núi Trống vv... mà người xưa đã đặt tên Cụ Thám hoa Vũ Phạm Hàm đã có câu:

Kìa nùi Gà, núi Tượng, núi Trống, núi Chiêng;

Chưa qua núi lại thấy đò bên cạnh núi.

Thuyền thuận dòng đủng đỉnh tiến về phía rừng sâu, chốc lát đã tới bến suối dẫn lên chùa.

Chùa Thiên Trù, còn gọi là chùa Trò, ngày trước là một khu rừng núi âm u tĩnh mịch. Tương truyền vua Lê Thánh Tông (1460-1496) đi tuần du phương Nam đã từng ghé thăm nơi đây. Đến đời Hậu Lê niên hiệu Chính Hoà năm thứ bảy (1686), Hoà thượng Vân Thuỷ Thiền Thiên Trần Đạo Viên Quang Chân nhân chống gậy tích qua đây, thấy sơn thuỷ thanh nhã, u tịch, mới dựng nên một thảo am để tu thiền.

Nhưng ngày nay "cao chót vót mấy toà cổ sái"... đâu còn nữa! Bởi vì trong thời gian kháng chiến chống Pháp (1947) quân giặc tràn qua đây đã tàn phá, đến năm 1950 chúng lại thả bom phá trụi cả ngôi chùa cổ kính và nhà cửa xung quanh.

Phía bên hữu chùa là một vườn tháp, nhiều toà được xây dựng từ lâu đời có cất giữ xá lỵ của các vị Tổ sư quy tịch tại đây.

Sau chùa bên sườn núi còn có một toà "Thiên thuỷ tháp" ở về phía bên tả có một chiếc hồ hình song bán nguyệt.

ở đây, từ sau ngày hoà bình lập lại (1954) được sự quan tâm của Chính phủ và lòng tín ngưỡng của thập phương nên đã xây dựng lại được ngôi chính điện và một số nhà để thờ cúng và nhà ở của chư tăng, là nơi Cố Hoà thượng Thích Thanh Chân đã trụ trì. Năm 1958, Chùa Hương đã vinh dự được Hồ Chủ tịch về thăm, đến năm 1961 và 1971, Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng về vãn cảnh.

Chiều tà vầng dương đã gác ngàn tây, khách thập phương trên đường đi nhọc mệt thường nghỉ lại chùa để tăng sức khoẻ cho ngày mai trèo núi leo rừng tiến vào chùa Trong.

Sáng hôm sau, từ chùa Ngoài rẽ phía tay phải có một con đường đá nhỏ men theo sườn núi, đó là lối đi vào chùa Trong.

Con đường dẫn ta qua nhiều chùa, hang, chùa Tiên Sơn dựng trên một ngọn núi cao. Chùa nhỏ, xinh, cổng tam quan vút như sắp bay lên...

Trong động có những nhũ đá rủ xuống, khi gõ vào thì nổi lên tiếng tiêu thiều nhã nhạc du dương, thơ Tĩnh Vương có ghi lại:

... Chở mây oanh quất lồng hương Phật,

Gõ đá vang lừng trỗi nhạc Tiên...

Vẫn lối vào chùa Trong rẽ tay trái là chùa Giải Oan. Động này do Tổ sư thứ hai động Hương Sơn, hiệu là Thông Dụng, tìm ra và mở mang Chùa Giải Oan ở bên cạnh giếng Long Tuyền. Gần đấy có am Phật Tích, có động Tuyết Quỳnh, lối đi vào còn qua đền Cửa Võng ở núi Chấn Song, và chỉ một đoạn đường ngắn nữa là vào tới chùa Trong, bên đường những hàng mơ quả chín óng ánh vàng, những cây đại trạng nghiêm cổ kính đang trổ hoa thơm ngát.

Cuộc hành trình "Trẩy hội" đã tới chùa Trong. Đây chính là động Hương Tích. Động này xưa kia không ai qua lại, đã phủ rêu xanh, mãi đến khi Hoà thượng Vân Thuỷ Thiền Thiên Trần Đạo Viên Quang Chân nhân trụ trì chùa Thiên Trù mới tìm ra.

Trước cửa hang có những phiến đá lát thành từng bậc từ từ dẫn xuống khoảng độ một trăm bậc thì nhìn thấy có một hàng chữ Hán "Nam thiên đệ nhất động". Đó chính là bút đề của Tĩnh Vương Trịnh Sâm (1737-1782).

Vào trong động, tự nhiên thấy người mát dịu, ánh sáng cửa động thoạt nhìn thì tăm tối âm u, nhưng nhìn lâu cứ thấy sáng dần. Ngắm lên toà Tam Bảo, chính giữa có pho tượng đức Quán Thế Am Bồ Tát là độc đáo nhất, xung quanh động có những nhũ đá óng ánh như phấn vàng, phấn bạc lần lượt nổi lên.

Phía bên hữu động có tấm bia nhỏ từ đời Lê Cảnh Hưng năm thứ 28 (1786), nội dung nói về nhân địa tu hành của đức Phật "Quán Thế Am Bồ Tát".

Động núi Hương Tích, truyện Nam Hải Quán Âm bản hạnh chép rằng: Phật Bà là con gái thứ ba của Trang Vương, ở nước Hưng Lâm, kiếp trước chị em là con trai của nhà họ Thi, vốn ăn ở hiền lành đức hậu vào bậc Bồ Tát, nhưng vì đã giúp đỡ nhầm cho quân trộm cướp đi cướp phá làng mạc, nên cả ba con trai phải đầu thai làm ba con gái của Trang Vương. Vì Trang Vương có ác tâm, nên cầu Hoàng tử không được. Nhưng bởi lòng thành, nên chỉ cho ba Công chúa giáng sinh, cứ mỗi lần sinh con gái nhà Vua lại muốn giết đi, sau nhờ có các quan và Hoàng hậu can ngăn mới thôi. Khi khôn lớn lên, hai chị lấy chồng, nhưng gặp hai Phò mã đều ham mê chơi bời, không lo toan việc nước, nên vua lại bắt bà Chúa Ba lấy chồng, để kén người tài giỏi nhường ngôi, nhưng Chúa Ba nhất định xin đi tu để sau này độ cho gia đình và chúng sinh thoát khỏi tội khổ. Trang Vương không nghe, sai đốt chùa, giết tăng ni và giết cả Chúa Ba. Nhưng Thiên đình đã sai Thần núi Hương Tích hiện ra con hổ nhảy xuống cứu Công chúa cõng về vùng núi Hương Sơn, lúc đầu để tu ở am Phật tích Giải Oan sau đức Phật Thích Ca lại hiện thân để thử thách, thấy Công chúa lòng son dạ sắt quyết chí tu hành mới chỉ cho vào động Hương Tích tu ở đấy. Khi thành đạo biến hoá thần thông ra nghìn mắt nghìn tay, ý nói ở đâu cũng nhìn thấy và với tay tế độ được, rồi đã lại hoá thân về cứu độ cho cha, trừ nghịch cho nước. Khi cha mẹ và hai chị em tìm lên tới nơi thì cũng lại đều quy y tu hành và sau đều thành đạo cả.

... Phong cảnh Hương Sơn xinh đẹp, con người Hương Sơn càng tự hào noi theo truyền thống phụng đạo yêu nước của tổ tiên để bảo vệ non sông gấm vóc.

Về phụng đạo: Kể từ Thiền tổ khai sơn chùa Thiên Trù và chùa Hương Tích - Vân Thuỷ Thiền Thiên Trần Đạo Viên Quang Chân nhân - kế thừa đến nay đã được mười đời, các vị đều tỏ ra xứng đáng là "Động chủ Hương Sơn" tính nghiêm cả về tu học, viên mãn cả về lục độ, tự mình sống một cuộc đời thanh đạm khổ hạnh, vui với đạo pháp.

Về hoằng pháp: Các vị Thiền tổ đã từng khai trường thuyết pháp, tiếp chúng độ người, lại cắt nghĩa các bộ kinh điển Đại thừa như: Hiển mật viên thông, Phụ giáo biên và Duy- ma-cật vv...

Về yêu nước: Cùng với hệ thống Hương Sơn còn có động Tuyết Sơn gọi là "Ngọc Long động", sư cụ Vương Quốc Chính trụ trì chùa này đã đứng ra vận động nhân dân hai tỉnh Sơn Tây và Hà Đông khởi nghĩa, quyết định đến tháng 12 năm 1898 đánh vào Hà Nội nhân dịp hội chợ đêm ngày 5. Tổ chức này gồm các hương sư và anh em công nhân nhà đèn tham gia (Giai cấp công nhân Việt Nam - Trần Văn Giầu, tr. 42), hồi đó thực dân Pháp gọi là "giặc Tuyết Sơn".

Cuộc khởi nghĩa bị thất bại, sư cụ Vương Quốc Chính và nhiều vị sư khác bị giết, sư cụ Thanh Hữu bị tay sai của thực dân Pháp là tên Tri phủ Hoài An (tên cũ của huyện Mỹ Đức) bắt, tra hỏi và đòi đút tiền. Cụ Thanh Hữu đĩnh đạc trả lời: "Xin quan lớn cho về, tôi bán mấy ông Phật lấy tiền biếu quan lớn", sau cùng bị chúng tra tấn rồi chết.

Truyện Nam Hải Quán Âm bản hạnh cũng do sư cụ Vương Quốc Chính và một số các cụ văn thân dựa trong kinh Pháp Hoa và kinh Hoa Nghiêm sáng tác ra. Kế thừa truyền thống tốt đẹp đó, đến tháng 2 năm 1943 có các vị sư như Sư ông Thanh Châu đã nhân dịp ngày hội đứng ra rải truyền đơn treo cờ đỏ búa liềm để tuyên truyền vận động nhân dân tham gia hoạt động cách mạng, sau cũng bị thực dân Pháp bắt tra hỏi rồi mất tích.

Tiếp đến thời kỳ kháng chiến chống Pháp, có nhiều vị đã "gấp cà sa khoác chiến bào" như ông Thanh Dinh, Thanh Hoan, Thanh Thục... gia nhập bộ đội, có vị đã hy sinh vì Tổ quốc.

Còn nhiều vị khác là cơ sở cách mạng từ thời kỳ tiền khởi nghĩa và trong thời kỳ kháng chiến bảo vệ cán bộ, bộ đội được an toàn, nêu gương quý báu của Thiên gia.

Trong công cuộc chống Mỹ cứu nước, các Phật tử Hương Sơn nói riêng, cũng như Phật tử Hà Tây nói chung vẫn tỏ rõ ý nguyện thống nhất nước nhà.

Động Hương Tích với Chùa Hương là một trong những thắng cảnh nổi tiếng của đất nước Việt Nam đã được nhiều bạn bè trên thế giới liệt vào hạng có thiên nhiên giàu đẹp. Hàng năm tới dịp ngày xuân, những dòng người nườm nượp trẩy hội Chùa Hương, người đi rồi lại hẹn ngày trở lại, người chưa đi tự trách mình sao cứ chần chừ! Trước đây cụ Vũ Phạm Hàm đã có câu:

Dục đáo Hương Sơn bất khả ước.

Khen cho ai biết trước cùng là tiên.

Đạo Phật ở Hương Sơn

Trong tâm hồn dân tộc Việt Nam thật đã sẵn có mầm mống tinh thần Phật Giáo. Đạo Phật với dân tộc Việt Nam trong gần 2.000 năm nay, bao giờ cũng theo nhau như bóng với hình trong sinh hoạt toàn dân. Là yếu tố a Quán Thế Am Bồ Tát cấu thành nên văn hoá dân tộc, lẽ dĩ nhiên Phật Giáo Việt Nam là một yếu tố bất ly của cuộc sống toàn diện. Hiện nay, ảnh hưởng hào nhoáng của một nền văn minh vật chất ngoại lai đang ồ ạt xâm nhập, nhưng cơ bản của nền văn hoá dân tộc đang còn bền chặt, khiến cho người Việt Nam dù có bị lôi cuốn phần nào trong một thời gian, nay cũng đã trở lại với cội nguồn yêu dấu ngàn xưa.

Hôm nay đây, trong không khí của đất nước đang chuẩn bị bước vào một mùa xuân mới, chúng ta nhìn lại dấu ấn của tiền thân nơi Hương Sơn danh thắng, lấy chứng tích của quá khứ hào hùng để xây dựng cho hiện tại và tương lai huy hoàng tráng lệ.

Thắng cảnh Hương Sơn là một khu trội nổi các di tích Phật Giáo. Lễ hội Hương Sơn là lễ hội đậm nét của Đạo Phật. Lễ hội Hương Sơn là lễ hội đậm nét của Đạo Phật thuần tuý, có tới 85% số khách đi trẩy hội là những người tín ngưỡng Đạo Phật về lễ hành hương thường kỳ hàng năm.

Nơi đây Đạo Phật được truyền vào ngay từ khi phát hiện ra hang động. Theo một số tài liệu mới tìm được do chúng tôi khảo cứu thì vào thời Lê Thánh Tông thế kỷ thứ XV, có 3 vị Hoà thượng chống tích trượng tới đây tu hành. Hàng ngày vào động Hương Tích lễ tụng - toạ thiền, tối lại ra khu vực Thiên Trù ngủ nghỉ. Hồi đó, Thiên Trù còn là một thung lũng hoang vu. Ba vị Hoà thượng lần lượt dựng lên một thảo am để trú ngụ tránh mưa nắng. Sau thời kỳ ba vị Hoà thượng viên tịch thì nơi đây gián đoạn trụ trì. Tên tuổi các Ngài cũng không ai nhớ rõ. Di tích của các Ngài để lại đến nay chỉ còn 2 ngôi mộ cổ bằng đá xanh được đục đẽo thô sơ trong vườn tháp Thiên Trù. Ngay khoa cúng Tổ ở Hương Sơn cũng chỉ gọi là "Tỵ Tổ Bồ Tát" và các Ngài thuộc dòng phái nào cho đến nay cũng chưa được rõ.

Đến năm 1687 - Niên hiệu Chính Hoà mới có Hoà Thượng Trần Đạo Viên Quang ở Ty Tăng Lục (thời Lê lập ra Ty Tăng Lục để coi sóc và quản lý các vị tu hành) chống thiền trường tới đây tái lập cảnh Phật ở Hương Sơn.

Sau khi Ngài Viên Quang thị tịch, chùa lại bị gián đoạn khoảng 20 năm. Tới năm 1707 mới có Đại sư Thông Lâm thuộc dòng Thiền Lâm Tế trụ trì. Ngài có 3 vị pháp tử đắc pháp là: Hoà thượng Tâm Chúc, Thanh Hữu, và Thanh Quyết. Hoà thượng Thanh Hữu kế tiếp trụ trì được một thời gian thì giao cho Hoà thượng Thanh Quyết khêu tiếp đèn thuyền truyền trì mạng mạch của chốn Tổ Hương Tích. Hoà Thượng Thanh Quyết là một vị danh tăng đương thời, học thức yên bác, phẩm hạnh thanh cao. Các Nho sĩ bấy giờ đã tôn là "Tăng trung hào kiệt".

Người thay thế trụ trì Hương Tích là Đại sư Thích Thanh Tích. Đại Sư Thanh Tích tu tập Đại Bi và trì tụng Đại Bát Nhã, hoàng truyền Tịnh Mật, tuỳ cơ duyên tiếp chúng độ nhân. Hơn nữa lại được các quan lại và giới Nho sĩ trợi giúp về mặt hoằng truyền Phật Pháp nên Chùa Hương ngày càng sầm uất nguy nga. Ngài có hơn 100 dệ tử danh Tăng như các Hoà Thượng: Tố Liên, Thanh Chân, Thanh Uẩn, Thanh Khánh, Thanh Nga, Thanh Châu v.v...

Hoà thượng Thanh Chân kế đăng trị trì Hương Tích. Qua bao bước thăng trầm, binh hoả, tang thương, Ngài vẫn không dao động, kiên tâm bền chí duy trì mạng mạch của Phật Tổ, vững lá thuyền. Từ qua bao cơn gió dập sóng dồn. Có thể nói Ngài là người đã trọn đời sống cho Đạo Pháp Hoà thượng khêu tiếp ngọn đèn của Tôn Sư, hoàng truyền Thuyền tông và Mật giáo, mở trường đào tạo giáo dục Tăng tài, tiếp ngộ độ mê không phân biệt quý tiện, sang hèn. Đồng thời để thể hiện Đời - Đạp là một thể. Ngài còn tham dự dân quyền quốc chính, phát huy truyền thống yêu nước của Tăng sĩ và Phật tử Hương Sơn. Hơn nữa, đối với Giáo hội và Phật tử Hương Sơn. Hơn nữa, đối với Giáo hội Phật giáo, Ngài là một trong số những vị đầu tiên đắp móng xây nền cho ngôi nhà Phật giáo Việt Nam nói chung và Hà Tây nói riêng. Hoà thượng còn vận động tổ chức quy hoạch, vạch phương hướng cho công cuộc tái thiết thắng cảnh Hương Sơn. Khu vực chùa Hương được như bây giờ phần lớn là nhờ công lao đóng góp ban đầu cùng Hoà thượng.

Lịch sử đất nước cũng có bước thăng trầm nhưng không thể bị huỷ diệt và Phật giáo Việt Nam cho đến nay cũng đã hiện diện gần 2000 năm là một chứng tích. Qua dòng lịch sử truyền thừa ở Hương Sơn, chúng ta có thể thấy rõ điều đó. Hành trạng của các Thiền Sư ở Hương Sơn dẫu có dị biệt tuỳ duyên khi ứng cơ tiếp vật song không xa rời cái "bất biến" Tông chỉ của Phật Tổ. Nền Văn hoá Phật giáo ở Hương Sơn đã được bản địa hoá phù hợp với nhận thức của con người đương thời. Đức Quán Thế Am Bồ Tát (Avalokitesvaha Boddhisattva) đã thành Phật Bà Chùa Hương - Hình ảnh một người Mẹ với tình thương bao la trong lòng người dân Việt.

Khi các Thiền sư chống tích trượng, dựng thảo am ở Hương Sơn, là dựng cây nơi quy ngưỡng, để "Chiêm giả khởi kính" đối với ngôi Tam Bảo, tô bồi nơi danh làm của Đất nước cho thế nhân du ngoạn. Có như vậy là đã làm tròn trọng trách giữa Đạo Phật với dân tộc, giữa Đạo Phật và Cuộc đời.

Giờ phút này, khi nắng ấm đã hoà quyện đất trời, sự cảm thông hoà hợp đã xoá đi những hàng rào dị kiến. Mối giao cảm giữa con người và thiên nhiên, giữa Đời và Đạo khi Mùa Xuân đến. Đó là điều hy hữu trong lịch sử Đạo Phật ở Hương Sơn.

Chầm chậm Xuân về, lòng đất chuyển

Nhạc trời thanh thoát rộn muôn phương

Tâm linh một thoáng bừng giao cảm

Lặng hết bao nhiêu lớp sóng cồn.

Nắng ấm xua tan đông giá cũ

Chiêm bái ngày Xuân chật nẻo đường.

Cho đến hôm nay, thắng cảnh Hương Sơn đã và đang phát triển thịnh vượng. Phật giáo ở Hương Sơn cũng đang hưng long và đi vào quy củ. Cứ đà này chắc chắn thời gian không xa nữa, thắng cảnh Hương Sơn sẽ trở thành kỳ quan ở khu vực Đông Nam á và di sản Văn hoá của nhân loại.

Thanh Sơn - Hương Đài hôm nay

Từ bến Yến vào bến Trò đoạn giữa suối có một cây cầu bắc ngang qua. Đó là cầu Hội. Nhìn sang bên tay trái ta thấy một mái chùa nhỏ nhấp nhô bên sườn nùi xanh mầu cây rừng. Đấy là chùa Thanh Sơn.

Trong khu vực này còn có 2 động nhỏ là động Hương Đài và động Tiểu Nhi.

Động Hương Đài nằm bên sườn núi Phụng Dực, hay còn gọi là Hang Luộn. Động này do Sư cụ Đàm Tuyết cùng nhân dân thôn Hội Xá khai sơn vào năm 1936. Động không lớn lắm nhưng lại có nhiều thạch nhũ với nét đẹp hoang sơ.

Lùi ra phía bờ suối là hang Tiểu Nhi, hang này có rất nhiều nhũ đá hình trẻ thơ đang đùa nghịch, thêm đó lại có những cây đàn đá khi gõ vào tạo nên những bản nhạc thiên nhiên. Vào năm 1966 Sư cụ Đàm Trâm từ chùa Phúc Lăng xã Dũng Tiến, Thường Tín về Thiên Trù sơ tán. Cuối năm đó Sư cụ men theo đường suối ghé vào động Tiểu Nhi và dựng lên chùa Thanh Sơn. Lúc đó Hoà Thượng Thích Thanh Chân - Động chủ Hương Sơn đã đề 10 chữ "Bính ngọ niên tỷ khiêu ni Đàm Trâm sáng tạo".

Trong cảnh sơn thanh thuỷ tú, lần lượt qua ba đời kế tiếp trụ trì. Các vị Ni chúng ở đây - Nhất là Sư thầy Đàm Trịnh với sự ủng hộ của khách thập phương và nhân dân sở tại đã khai mở chùa Thanh Sơn với quy mô rộng rãi. Nâng nền chùa, dựng tượng đài, phỏng chế tự viện, khiến chùa trở nên khang trang sầm uất ngõ hầu đáp ứng lòng ngưỡng vọng của khách thập phương và bà con thiện tín quanh vùng.

Xây sửa đền Cửa Võng

Trên đường đi Hương Tích, khi bắt đầu bước lên đoạn đầu dốc cao nhất, ta gặp đền Cửa Võng. Đền này còn gọi là đền Trấn Song hay Vân Song. Đền thờ Bà Chúa Thượng ngàn huý là "Sơn tinh triều Mường Công chúa Lê Mại Đại Vương". Bà có 12 nàng hầu là các mỹ nữ Thổ, Mán. Nên Đền này còn là chỗ ở của các thị nữ đó để thường xuyên mang tin tức chùa Ngoài vào chùa Trong.

Tương truyền ở chỗ này, xưa kia dây rợ chằng chịt, tạo nên như giá mắc võng. Năm 1908, Đại sư Thanh Tích kế đăng trụ trì khu vực Hương - Thiên. Nhân đi qua đây, Đại sư thấy phong thuỷ vùng này thật là đắc địa, linh khí tràn đầy. Đằng sau hậu quỉ vững bền, phía trước dãy núi An Sơn tạo thành thế Rồng chầu mặt nguyệt. Hỏi ra mới biết xưa kia thường khi có cúng tế chúa rừng ở tại đây.

Đêm ấy, cảm mộng thấy Thanh y Công chúa đến thăm, nhân đó, Đại sư bèn xây dựng ngôi đền và đúc tượng đồng theo mẫu người trong mộng để cho hương dân thờ phụng và làm cửa ải trấn giữ động Trời Nam.

Năm 1993, ban xây dựng Chùa Hương đã tu sửa lại Đền, trạm khắc câu đối, sơn thếp lại tượng thành mầu xanh. Đến cuối năm 1995 lại mở rộng thêm sân Đền cho rộng rãi để cho khách thập phương lễ bái, nghỉ ngơi được thuận tiện.

Ngày 19-5-1958 khi đi thăm Chùa Hương, Hồ Chủ tịch cũng đã nằm nghỉ trưa tại Đền này.

Thám Hoa Vũ Phạm Hàm có biết:

Trèo qua một dịp Trấn Song

Đây mới thực quần phong chi đệ nhất

Xem đó, đủ biết giá trị của ngôi Đền này trong khu thắng cảnh.

Trích bia tạc tượng ở Hương Tích

Linh quang vô cực Linh nham bảo tượng ký. Động núi Hương Tích núi khe đều chứa khí thiêng, chim chóc đều dâng vẻ đẹp, một bầu trời do tạo hoá đặt bày quả là cảnh kỳ quan trong vũ trụ.

Tương truyền Phật tổ Quán Âm từ nước Mâu Trang sang nước Nam tu trì, nơi đó đến nay dấu thiêng vẫn còn như mới. Chuyện cũ mịt mờ khó bề khảo cứu song cảnh trời động kỳ tú, sông núi vẫn còn khiến khách du quan tâm thần cốt cách thảy đều xúc động, như tới Kỳ Viên, như lên Đâu Suất, lâng lâng có cảm giác như dứt được khỏi chốn bụi trần, như vậy thì lời đánh giá nơi đây là chốn bậc nhất của trời Nam quả cũng không ngoa vậy. Tổ tiên của Nhật này là Đại Vương Bồ Tát Thiền sư nối đời sùng tín đạo Phật, trước đây đã từng đúc một pho tượng đồng, rước vào đặt ở trong động, ánh thiêng lên xuống (chứng giám lòng thành) kể đã bao năm.

Năm Bính Ngọ gặp trận binh đao, đồ đồng trong nhà đều bị mất sạch. Những lúc thư nhàn, Nhật này thường thăm cảnh tịnh, nhớ tới bậc tu hành thời trước, thầm nguyện sẽ tạc lại pháp tướng để nối chí người xưa. Mười bốn năm trước tức là vào năm Quí Sửu, Nhật được may mắn về làm quan ở bốn thành vùng Thăng Long bèn quyên tiền mua đá, thuê thợ đục mài chạm trổ thành tượng báu của Đức Phật tổ rồi bước vào động đặt lên trên toà.

Tượng này có chất vững bền chẳng nát chẳng diệt, có sắc sáng bóng không chướng không ngại, thường trụ trên đài sen và sẽ cùng với núi này sừng sững còn mãi đến muôn đời.

Năm tháng trôi qua, chưa kịp ghi lại sự thực, nay nhân lúc việc công thư thả, xin lược thuật lại, khắc vào bia đá để truyền lại lâu dài, ngõ hầu khiến cho khách du quan tới đây còn có đủ bằng cứ để biết về sự kỳ tú của động, về gia thế thiện duyên (của Nhật) này.

Hoàng triều (chỉ triều Nguyễn) Gia Long năm thứ năm tức năm Bính Dần tháng hai ngày lành.

Nguyễn Thị Huề, hiệu Thiên Cơ, vợ Nhật Quang Hầu Chánh võ nhất vệ trưởng, hiệu Sơn Nam, thượng trấn thuộc trấn.

Nguyễn Huy Nhật, người xã Đại Võ, huyện Võ Giàng kính ghi.

Lược sử chùa Thiên Trù

Theo một số tài liệu mới tìm được thì Vua Lê Thánh Tông khi đi tuần tuần thú phương Nam lần thứ hai có qua nơi đây. Trong lúc đóng quân nghỉ lại Vua đặt tên cho khu vực này là Thiên Trù Tinh và thung lũng Phụ Mã.

Sau năm đó lần lượt có ba Hoà thượng (Tỵ Tổ Bồ Tát) chống Thuyền trượng tới đây dựng thảo am để toạ Thuyền nhập định và đặt tên là "Thiên Trù Tự". Tiếp đến năm 1687 thời Lê Trung Hưng thứ bảy niên hiệu Chính Hoà, Hoà thượng Trần Đạo Viên Quang Chân nhân đã trùng hưng lại ngôi Tam Bảo, Xiển lập tông môn Thiên Trù và tìm ra động Hương Tích.

Hai mươi năm sau, đời Đại sư Thông Lâm (1707) trụ trì tiếp tục dựng lập thảo am Thiên Trù thành 5 gian nhà lá và 6 gian tả - hữu vu trúc mộc để thờ Phật và toạ Thuyền.

Đến Đời Hoà Thượng Thanh Quyết kế đăng trụ trì. Được sự trợ duyên lớn của gia đình ông Hoàng Trọng Phu và sự ủng hộ của thiện tín muôn phương, chính điện Thiên Trù được khởi công xây dựng vào năm Mậu Thân niên hiệu Duy Tân thứ 2. Cuối năm đó, Đại sư Thanh Tích kế đăng trụ trì tiếp tục xây dựng tới 10 năm sau thì công quả mới viên mãn. Lúc đó Thiên Trù đã là một lâu đài tráng lệ với những kiến trúc nghệ thuật độc đáo "Biệt chiếm nhất Nam thiên".

Thế rồi ngày 11 tháng 2 năm Đinh Hợi (1947) nạn can qua đã đốt phá Thiên Trù, lửa cháy suốt 15 ngày đêm. Năm 1948 chúng lại đốt phá một lần nữa. Đến năm 1950 chúng lại cho máy bay thả bom xoá sạch những công trình kiến trúc của Thiên Trù. Năm Tân Mão (1951) Hoà thượng Thanh Chân đã dựng lên trên đống gạch vụn tro tàn 6 gian nhà tranh để khêu tiếp đèn Thuyền duy trì Tổ ấn.

Sau hoà bình lập lại (1958) Hoà thượng Thanh Chân cùng Ban tổ chức của bản thôn cùng với lòng hảo tâm công đức của Phật tử thiện tín bách gia đã xây dựng được 7 gian nhà khách phỏng cổ khang trang tạm thời làm nơi thờ Phật.

Năm Quý Hợi. Ty Văn hoá thông tin Hà Sơn Bình và nhà chùa đã tranh thủ sự ủng hộ của thập phượng dựng một toà gác chuông 8 mái theo kiểu chùa Ngăm (1984-1985) ở giữa sân Thiên Trù.

Ngày 4-3-1989 Ban xây dựng chùa Hương được thành lập, đứng đầu là Thượng toạ Thích Viên Thành, đã vận động Phật tử thập phương và nhân dân địa phương kết hợp với sự chỉ đạo của ngành Văn hoá đã làm lễ khởi công xây dựng Tam Bảo Thiên Trù vào ngày 11-2 năm Kỷ Tỵ (18-3-1989) (tức ngày giặc phá chùa cách đây 42 năm về trước). Ngày 11 tháng Giêng năm Tân Mùi (1991) Toà Tam Bảo Thiên Trù đã làm lễ khánh thành.

Ngày 11 tháng giêng năm Nhâm Thân (1992) khánh thành Điện Hương Thuỷ. Với pho tượng Mẫu liễu Hạnh của Điêu khắc gia Trần Tuy đã được xếp vào tượng nghệ thuật dân gian.

Đến ngày 11 tháng Giêng năm Quý Dậu (1993) Tổ đường và Bảo điện phía sau Tam Bảo cũng làm lễ hoàn thành.

Cũng năm đó động Vân Thuỷ Thuyền Thiên (phía trên Thiên Thuỷ Tháp) cũng được khai mở và khánh thành để thờ phụng "Thượng ngàn chúa tể".

Ngày 11 tháng Giêng năm Giáp Tuất (1994) cổng Nam Thiên Môn đã hồi sinh mọc lên sừng sững giữa đất trời Hương Sơn ngút ngàn mây nước.

Ngày 11 tháng Giêng năm ất Hợi (1995) Quan Âm Các đường bệ nổi bật lên giữa rừng cây rậm rạp âm u. Nơi đây ngày nay đã trở thành khu ngoạn cảnh phong quang tú lệ.

Với sự quan tâm của Nhà nước các cấp và sự ủng hộ to lớn của bà con Phật tử thiện tín chắc chắn không lâu nữa, khu chùa Thiên Trù được khôi phục lại hoàn toàn và mở mang với quy mô rộng lớn để đền đáp cũng như đáp ứng công lao khai sáng của Chư Tôn đức và nhu cầu tín ngưỡng thiết tha của nhân dân.

Động Vân Thuỷ

Dưới chân núi Ngự Sơn, phía sau Thiên Thuỷ Tháp có một toà động nhỏ, đó là động Vân Thuỷ. Động thờ Bà Chúa rừng chức Thượng ngàn chúa tể, cai quản rừng núi ở Nam Giao. Bà vốn họ Nguyễn, tên huý là La Bình. Con gái của Thánh Tản và Mỵ Nương.

Truyền thuyết kể rằng: "Thánh Tản Viên Sơn có hai con, một trai, một gái. Con trai tên là Mai, con gái tên là La Bình. Bà La Bình xinh đẹp, hiền thục. Từ nhỏ thường ham mê phong cảnh núi rừng, làm bạn với muôn loài muông thú, cỏ cây. Bà còn dạy bảo các loài cầm thú về tình thương và không làm điều ác, thuận theo đức hiếu sinh của trời đất. Các loài muông thú rất quí mến và quấn quít Bà. Vì có công lao to lớn đó nên Thượng đế đã sắc phong cho Bà là Nữ chúa rừng xanh tức "Thượng ngàn chúa tể", và giao cho cai quản 81 cửa rừng ở cõi Nam Giao. Không chỉ bảo vệ núi rừng, dạy dỗ muông thú thể đức hiếu sinh mà Bà còn cứu dân, giúp nước, bảo vệ cõi bờ như đã giúp còn cứu dân, giúp nước, bảo vệ cõi bờ như đã giúp các triều Lý, Trần đánh giặc. Đặc biệt là giúp Lê Lợi trong công cuộc chống giặc Minh giành lại giang sơn gấm vóc. Do đó, nhân dân nhớ ơn đã lập đền thờ ở nhiều nơi. Động này vốn có từ lâu, trong kháng chiến chống Mỹ, cố Hoà thượng Thích Thanh Chân thường lên đây tránh máy bay. Đầu tháng 9 năm 1991 trong lúc rỗi việc, tôi trèo lên khu vực này ngồi nghỉ ngơi, thư giãn. Nhìn kỹ xung quanh thấy cảnh sắc u trầm, linh khí phảng phất, lại có thế phong thuỷ đắc địa. Phía hậu quỉ bền dầy, minh đường thì thoáng đạt thêm vào tiền án trùng trùng có giá gác bút làm cận án. Rồi còn Thuỷ nghiêm, tháp bút trước mặt. Sau một hồi cân nhắc, dở La kinh căn góc độ mới bàn bạc các đệ tử rồi quyết định khai phá. Công việc tiến hành thật là vất vả. Bên ngoài thì hàn vá lại động, bên trong thì sửa sang bài trí nội thất. Sau hai năm công việc mới chu viên. Đến ngày 11 tháng giêng năm Quí Dậu (1993) làm lễ khánh thành.

Đến nay, tuy thờ phụng còn đơn sơ nhưng thập phương chiêm bái, đều toại ý.

Xây sửa hinh bồng

Hinh Bồng - có lẽ cái tên này được đặt vào trước thời Lê - Trịnh cho một toà động đẹp ở phía Nam Thiên Trù. Hinh là thơm tho, còn Bồng do chữ gốc là Bồng lai tiên cảnh. ý nói "nơi đây tiên nhân thường giáng tới". Sách Lịch triều hiến chương của Phan Huy Chú miêu tả động này rất sinh động. Tĩnh Đô vương Trịnh Sâm cũng có thơ đề. Nhưng toà động đó đã bị lấp mất chưa ai biết chính xác lý do.

Năm Canh Ngọ (1930) Hội từ thiện ở thôn Yến Vĩ bèn khai phá một toà động nhỏ trên một ngọn núi cao ở thung lũng Cây Gạo với sự tài trợ của bà Hải Khoát một Phật tử thuần thành ở Hải Phòng và lấy tên là Hinh Bồng.

Năm Giáp Tuất (1934) thỉnh Ni sư Đàm Tuyết trụ trì. Sau Ni sư Đàm Tuyết lại giao cho bà Hải Khoát (thường gọi là bà Chủ) trông nom.

Tượng Phật, Bồ Tát cũng được rước về thờ ngay từ năm khai phá. Năm Canh Thìn (1940) tổ chức đúc chuông lớn. Năm Quí Mùi (1943) đúc thêm 3 pho tượng Mẫu.

Năm Tân Sửu (1961) Hội thiện này đã cúng cho Hoà thượng Thích Thanh Chân để duy trì và xây dựng.

Hồi 22h20' ngày 2 tháng 9 năm Nhâm Thân (28/9/1992) một cuộc địa chấn nhỏ đã làm một số tảng đá lớn ở nóc động lở xuống với khối lượng 250m3 làm lấp cửa động này.

Ngày 9/10/1992 tôi dẫn một đoàn lên xem xét và quyết định cho dọn dẹp. Giao lại việc này cho ông Nguyễn Văn Bạo pháp danh Minh Bảo là Phật tử của thôn Yến Vĩ thực hiện. Nhưng sau đó lại lở thêm hai đợt nữa, phải đến tháng 11 năm 1994 mới dọn dẹp xong nhưng địa tầng vẫn chưa ổn định.

Ngày 18/7 Quí Dậu (14/9/1993) tôi và sư ông Minh Nghiêm cùng với 3 phật tử: Nguyễn Văn Bạo, Dương Quốc Trọng, Nguyễn Đức lên khảo sát nhận thấy thế động như vậy mới nảy ra ý xây thêm một ngôi chùa nhân tạo ở gần đấy. Sau khi tìm kiếm, chúng tôi phát hiện được một khoảng đất trống ăn sâu vào lòng núi cách động về phía dưới 45 mét, đằng sau có vách đá dựng đứng. Giở địa bàn ra đo, cân nhắc, tính toán bèn lấy cung hoan lạc và lập hướng cấn (Đông bắc) để xây dựng. Sau khi xem xét và bàn bạc cẩn thận, tôi bèn quyết định chọn ngày mồng 2 tháng 8 năm Quí Dậu (giờ Mão để khởi công và đặt tên là Quan Âm Đài. Công việc thực hiện trong hơn một năm. Khi sắp hoàn thành, lại rước cốt tượng đức Bồ Tát Quán Thế Âm bằng thạch cao ở Thiên Trù lên thờ phụng. Tháng 3 năm Giáp Tuất (1994) lại xây thêm điện thờ Thánh và miếu Thổ địa, nhà tiếp khách để hoàn chỉnh một khu tự viện.

Cho đến hôm nay, khu chùa Động này đã trở thành nơi khang trang, tú lệ khiến cho ai đến chiêm bái cũng hài lòng.

Khai sơn động đại binh

Từ cổng Nam Thiên Môn của Thiên Trù, đi về phía tay phải theo đường đá núi gập ghềnh khoảng 700 mét du khách sẽ tới một toà động mới tú lệ khang trang đó là động Đại Binh.

Động này vốn có từ lâu. Trong thời Pháp thuộc, một đạo quân người thiểu số cố thủ ở hang này đã kháng cự với quân Pháp, sau khi cuộc khởi nghĩa thất bại. Người chỉ huy đạo quân này là Tướng quân Đinh Công Tráng. Bị vây lâu ngày hết lương thực. Ông và đạo nghĩa binh đều tuẫn tiết ở đây. Chính Ông đã cho khách hai chữ "Đại binh" lên cửa động để ghi dấu.

Ngày 2 tháng 3 năm Tân Mùi (1991) ông Nguyễn Văn Bạo, ông Bùi Văn Xế được sự chỉ đạo của các cơ quan nhà nước tại khu vực, với sự giúp đỡ của nhà chùa đã (nổ mìn phá một khối đá lớn ở cửa động) đứng ra mở động.

Tượng Phật, tượng Thánh đã được chuyển từ Thiên Trù sang để phục sự. Tượng các Tướng quân Đinh Công Tráng, Đinh Công Vân cũng được ông Nguyễn Văn Bạo đắp để tôn thờ.

Có thơ vịnh tượng rằng:

Hào kiệt đi rồi tượng vẫn đây,

Đinh Công Tráng chí mấy người hay: Một thanh gươm vạch trời ngang dọc Mấy trận bão bùng đất chuyển xoay.

Thành bại xưa nay do phận định

Nợ thù non nước hận tuôn đầy

Anh hùng áo vải lưu truyền thống

Ngào ngạt hương thiền toả khói bay.

Đến ngày 6 tháng giêng năm Quí Dậu (28-1-1993) hai gia đình nói trên đã viết đơn cúng cho nhà chùa. Với sự xác nhận của các cơ quan nhà nước.

Ngay sau đó. Điện Thánh Mẫu, được xây dựng sân động được mở rộng, lòng động được lát đá xẻ, đài Địa Tạng được xây dựng. Cho đến hôm nay, động Đại Binh đã được liệt vào sổ vàng danh thắng và ngày càng được tu bổ tôn tạo mở mang cho hoàn chỉnh như các khu vực khác.

Xây lại bếp trời

Ai đã hành hương về chiêm bái và tham quan thắng cảnh Hương Sơn, tất không thể không đến Thiên Trù - một điểm quan trọng thứ hai sau động Hương Tích.

Thiên Trù có nghĩa là bếp trời, vì theo thuyết Phong thuỷ thì khu vực này lâm vào địa phận của sao Thiên Trù, một chòm sao chủ về việc ăn uống và biến động thăng trầm. Theo Thiền phả thì vào thời Lê Thánh Tông (1442-1497) có ba vị Hoà thượng lần lượt về đây tu hành và lấy hiệu đó đặt cho ngôi am cổ. Trải qua 9 đời Tổ sư tu bổ xây dựng, chùa Thiên Trù đã trở thành một lâu đài tráng lệ "Biệt chiếm nhất Nam thiên". Đến ngày 11 tháng 2 năm Đinh Hợi (1947) giặc đã đã vào đốt trụi cả trăm nóc ngôi cổ tự này.

Sau ngày hoà bình lập lại, Hoà thượng Thích Thanh Chân cùng nhân dân Yến Vĩ thu dọn vết tích chiến tranh và làm được một ngôi nhà khách 7 gian vào năm 1958, để tạm thờ Phật.

Kể từ đó ước mơ xây dựng lại Thiên Trù luôn ấp ủ trong lòng Hoà thượng cùng nhân dân Hương Sơn.

Ngày 19/5/1958 Hồ Chủ tịch đã về thăm chùa Hương người ân cần căn dặn phải trông nom bảo vệ và tu bổ cho bà con trong nước và nước ngoài về đây vãn cảnh.

Ngày 18 tháng 4 năm 1971 khi về thăm lại chùa Hương lần thứ hai Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã gợi ý cho xây dựng lại chùa Thiên Trù như xưa. Nhưng cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước của cả dân tộc kéo dài và ngày càng gay go, ác liệt nên chủ trương ấy phải tạm hoãn. Đến ngày 30/6/1987 công ty thắng cảnh Hương Sơn mới có điều kiện viết tờ trình số 09-TTDT xin tôn tạo nhà Tam Bảo và tiền đường chùa Thiên Trù.

Chủ tịch UBND huyện Mỹ Đức đã ký chuyển Giám đốc Sở Văn hoá thông tin Hà Sơn Bình cũng ký tiếp. UBND tỉnh ký đề nghị. Cuối cùng là Bộ trưởng Bộ Văn hoá Trần Văn Phác đã ký quyết định.

Khi đã hoàn tất thủ tục pháp lý rồi mới bắt đầu bước vào giai đoạn chuẩn bị.

Những công việc chuẩn bị đang ở thời gian khẩn trương nhất thì ngày 17/2/1989 tức ngày 11/01 Kỷ Hợi Hoà thượng Thích Thanh Chân, Động Chủ Hương Sơn thị tịch tại bệnh viện hữu nghị Việt-Xô.

Tôi cùng các huynh đệ và Giáo hội, và nhân dân Yến Vĩ lo đám tang cho Hoà thượng xong, ngày 22/2/1989 vội vã lên huyện Mỹ Đức gặp lãnh đạo huyện đề nghị giao lại việc xây dựng chùa Thiên Trù cho nhà chùa đảm nhiệm. Nhất trí, với đề nghị này, ngày 4/3/1989 tại nhà Pháp đường chùa Thiên Trù đã diễn ra một hội nghị quan trọng bàn giao việc phục chế Tam Bảo Thiên Trù cho nhà chùa. Hội nghị chỉ vẻn vẹn có 8 người. Hội nghị đã nhất trí chủ trương thành lập Ban xây dựng chùa Hương do nhà chùa làm trưởng ban, chủ tài khoản và thủ kho, thủ quỹ - đồng thời mời các Phật tử thuần thành và đại diện các cơ quan tham gia giúp đỡ, tiếp theo đó một tuần lễ sau UBND huyện Mỹ Đức đã có quyết định số 21 QĐ-Uỷ ban Thành lập ban xây dựng Chùa Hương gồm 13 người. Tôi được cử làm trưởng ban.

Khi nhận được quyết định tôi băn khoăn về con số 13 nên đã đề nghị bổ sung và cuối cùng bổ sung thêm 2 thành viên nữa là 15. Chúng tôi còn mời giáo sư Nguyễn Văn Hiệu, Viện trưởng Viện Khoa học Việt Nam và nhà văn Phượng Vũ, Giám đốc Sở Văn hoá làm cố vấn. Khi đã hoàn tất về nhân sự Ban xây dựng, tôi bền tổ chức một hội nghị tại chùa Văn Quán để thành lập Ban phổ khuyến gồm 89 người. Trong khi đợi ngày tốt để khởi công, tôi suy tính cân nhắc nhiều mới chọn được ngày sạch là 1½ âm lịch. Mãi sau này tôi mới biết ngày nay chính là ngày giặc Pháp phá chùa cách đây 42 năm về trước.

Thật là:

Nhớ ngày đen tối xưa

Cảnh Thiên Trù sụp đổ

Chùa mới giờ tay xây

Lòng ta làm vôi vữa

Chế Lan Viên

 

Công việc bộn bề, tiền trong tay không có một đồng. Người giúp việc chưa ai có mặt, thời gian lại quá gấp gáp, Không còn cách nào khác, tôi bền viết thư cho cụ Lê Ân bấy giờ đang ở Yên Phụ - Hà Nội, để vay tiền và vay nguyên vật liệu chỉ 30 tiếng sau khi viết thư, hai xe tải xi măng đã được khẩn trương chuyển về Thiên Trù. Tôi đi vận động các Phật tử tham gia ủng hộ. Nhưng đến mấy nơi đều bị từ chối, có người từ chối ở nhà, có người từ chối trong hội nghị, nhưng tôi vẫn quyết tâm. Thế rồi, như định trước, ngày 18/3/1989 tức là ngày 1½ (Kỷ Tỵ) là ngày thực dân Pháp tàn phá Thiên Trù xưa kia, trên nền đất đá gạch vụn, lau sậy hoang tàn, đã tiến hành lễ khởi công xây dựng Tam Bảo chùa Thiên Trù, lúc đó là 13h30'. Các đại biểu, chủ yếu là các cơ quan trách nhiệm cùng với hai bên A và B. Nhân dân và Phật tử cũng rất ít. Trước cửa ngồi nhà giấy dầu cót ép dựng tạm làm lán, một chiếc bàn gỗ cũ mọt chân được bày ra, trên trải một chiếc ni lông xanh. Sau lời giới thiệu, tôi quỳ niệm làm lễ cáo yết Sơn thần Thổ địa mà cứ nghẹn ngào chảy nước mắt. Lễ xong đến các đại biểu phát biểu, đại diện Sở Văn hoá (Nhà văn Phượng Vũ Giám đốc Sở), ông Chủ tịch UBND huyện Mỹ Đức.

Ông Chủ tịch UBND xã Hương Sơn, Giám đốc công ty Thắng cảnh và đại diện Mặt trận tổ quốc thôn Yến Vĩ, đại diện bên thi công. Sau đó tất cả đều bổ nhát cuốc động thổ, có đông đủ cán bộ, tăng ni, nhân dân và Phật tử. Đại diện bên B bấy giờ là ông Hà Văn Thọ, Giám đốc Xí nghiệp bảo quản tu bổ di tích Bộ Văn hoá. Ông Thọ cử anh Trung làm Giám đốc công trường với giá trị hợp đồng khoán gọn lúc đầu là: 125.000.000 đ. Sau lễ khởi công là lời dặn dò của ông Giám đốc Sở Văn hoá với hai bên A và B về mỹ thuật và chất lượng công trình.

Khi ký hợp đồng cũng ở trong một hoàn cảnh hết sức vội vàng nên sau đó hai bên A và B lại phải họp đến 3 phiên riêng với sự giám sát của các ngành chức năng để điều chỉnh giá cả.

Khi chọn mẫu thiết kế cũng ở trong hoàn cảnh đột ngột. Lúc xem 3 bản vẽ ở trung tâm tu bổ di tích mà ông Hoàng Đạo Kính đưa ra trưng bày. Tôi thấy kiểu trồng diêm ở tiền đường là giá vừa phải chăng về kinh phí, vừa có vẻ mỹ thuật nên đã quyết định chọn, còn 2 kiểu không chồng diêm làm bằng gỗ vừa thấp nhỏ vừa cao giá quá nên bỏ qua. ý kiến này được toàn thể hội nghị tán thành. Sau này có nhiều người cho là hậu trẩm hơi thấp nên đã phải phá ra điều chỉnh lại đến 2 lần, nhưng tôi vẫn rất lo lắng, băn khoăn. Sau, một kiến trúc sư nước ngoài về thăm có phát biểu. Chùa Thiên Trù xưa làm theo kiểu Nguyễn nên hậu cung cao. Nay phục chế theo kiểu hậu Lê (Vì chùa khởi dựng vào hậu Lê) nên thấp như vậy mới đúng với tính chất phỏng cổ, lúc đó tôi mới an tâm. Rồi tiếp đến nội thất cũng phải tổ chức một cuộc hội thảo và 3 phiên họp mà khi tiến hành vẫn còn rất vất vả. Ông Phượng Vũ luôn luôn có mặt trong tất cả những lúc khó khăn, trong các buổi ký hợp đồng và hứng chịu các lời phê phán, chỉ trích khi có những vấn đề trục trặc bằng tình cảm và lương tâm trách nhiệm của một Nhà văn hoá, người quản lý Nhà nước và một Phật tử nữa! Thật hết sức cảm động. Còn nhiều cán bộ các cấp và cơ sở, các cụ địa phương, các Phật tử cũng tận tuỵ cống hiến công sức, tiền của, không quản thời gian, sức khoẻ. Đây đúng là công sức của hàng vạn con người đủ các tầng lớp để cho công việc công đức thành tựu.

Cho đến ngày hôm nay, toà chính điện Thiên Trù đã sừng sững hiên ngang đội trời đạp đất giữa thung lũng bếp trời, xứng đáng là trung tâm thắng cảnh của Hương Sơn, cửa ngõ của di sản văn hoá thế giới tương lai.

Nhân đây xin cho tôi với tư cách người trụ trì tỏ lòng biết ơn đối với Đảng, Nhà nước, ngành văn hoá thông tin và nhân dân địa phương cùng các Phật tử muôn phương bằng trách nhiệm, bằng tình cảm bằng tấm lòng hảo tâm công đức để có được Thiên Trù như ngày nay.

Cầu nguyện đức Phật Bà Quan Âm chứng giám.

Phụ lục

 

Tiểu sử cố Hoà thượng Thích Tố Liên[1]

 

Hoà thượng thế danh là Nguyễn Thanh Lai, sinh năm Quý Mão 1903, tại làng Quỳnh Lôi, tổng Kim Liên, huyện Hàm Long, tỉnh Hà Đông xuất thân trong một gia đình Nho giáo, thân phụ là Nguyễn Văn Định và thân mẫu là Nguyễn Thị Đào.

Ngài xuất gia năm 13 tuổi tại chùa Hương Tích, là đệ tử của Đại Sư Thanh Tích. Ngài tính cương trực, chuộng hoạt động, mặc dù được chọn làm Trưởng pháp tử (kế tục trụ trì chùa Hương Tích), song quyết tâm ra đi du phương tham học nơi các Đạo tràng danh tướng như chốn tổ Tế Xuyên; Bằng Sở, Vĩnh Nghiêm... Ngài đã từng du học, trụ trì ở chùa Côn Sơn, Thanh Mai.

Năm 1935, sau phong trào Chấn hưng Phật giáo toàn quốc, sẵn có giới đức trang nghiêm và trí tuệ minh mẫn ngài được Hội Việt Nam Phật giáo Bắc Kỳ cung thỉnh ra chùa Quán Sứ Hà Nội để chung lo Phật sự.

Ngoài việc phụng sự chung cho đại cuộc Phật giáo, ngài đã đóng góp rất nhiều cho Phật học đường Quán Sứ như giảng dạy, chủ sám và giới sư các Đại giới đàn, cùng đóng góp tích cực cho những hoạt động về văn hoá và xã hội của Phật giáo miền Bắc.

Năm 1945, sau ngày Cách mạng thành công Hoà thượng lại trở về Quán Sứ sau thời gian dài dưỡng bệnh tại Côn Sơn, vận dụng khả năng tri thức và trí tuệ vốn có để ứng dụng Phật sự trong hoàn cảnh mới của đất nước. ý thức trách nhiệm trước sứ mệnh lịch sử dân tộc và đạo pháp, ngài khắc phục mọi trở ngại, đề cao chủ trương: Thống nhất Phật giáo, Đoàn kết Tăng-già. Và cuối cùng nguyện vọng ấy đã đạt được qua việc thành lập hội Tăng Ni Chỉnh lý bắc phần, tiền thân của Giáo hội Tăng-già Bắc Việt do ngài làm Chủ tịch, đồng thời giữ chức Phó Hội trưởng Hội Phật giáo Việt Nam. Lúc ấy Ngài mới 47 tuổi (năm 1950).

Tháng 5-1950, ngài đại diện cho Phật giáo Việt Nam đi dự Hội nghị thành lập Hội Phật giáo Thế giới Liên hữu tại Tích Lan, và đưa Phật giáo Việt Nam vào tư cách sáng lập hội viên của Hội này, đồng thời được Đại hội suy cử làm Đệ nhất Phó Hội trưởng, cùng đại diện Ban chấp hành Phật giáo thế giới Liên hữu, chi bộ tại Việt Nam.

Năm 1951, ngài là một sáng lập viên Tổng hội Phật giáo Việt Nam, tổ chức thống nhất Phật giáo toàn quốc, gồm cả Tăng-già và Cư sĩ thuộc Bắc Trung, Nam để phù hợp với đà tiến chung của Phật giáo Thế giới.

Năm 1952, tháng 9, ngài lại đi tham dự Đại hội Phật giáo Thế giới tại Nhật, nhằm tăng cường Phật sự trên cơ sở Phật giáo thế giới, như phổ biến giáo lý đức Phật trong các tổ chức giáo dục thuộc mỗi quốc gia, từ tiểu học đến đại học, thực hiện các công tác nhân đạo, từ thiện, xã hội, thành lập Đoàn Thanh niên Phật tử Thế giới.

Tiếp sau khi hồi hương, ngài tích cực đi vận động khắp nơi ở Trung và Nam gặp gỡ, thảo luận đàm đạo với các vị lãnh đạo Phật giáo 3 miền thành lập Giáo hội Tăng-già toàn quốc và ngài được cử làm Tổng thư ký. Về xã hội: Suốt khoảng thời gian từ 1945-1954, ngài là vị trụ trì chùa Quán Sứ Hà Nội một trung tâm của toàn bộ Phật giáo miền Bắc. Ngài đã lập các tổ chức cứu trợ đồng bào nạn nhân chiến cuộc và các cô nhi viện Quán Sứ, Tế Sinh.

Về văn hoá: Ngài có công cho khắc in rất nhiều bản phổ biến trong toàn quốc bộ Việt Nam Phật Điển Tùng San mong tác phẩm này được lưu truyền hậu thế và không còn bị mai một. NgàI còn là chủ nhiệm và chủ bút tờ nguyện san Phương Tiện, hậu thân của báo Đuốc Tuệ. Ngài chuyên viết các bài giảng phổ thông về Phật học để báo “Đuốc Tuệ” ấn hành.

Về tác phẩm, Hòa thượng còn để lại những sáng tác:

-         Tấm gương quy y.

-         Sự lý lễ tụng.

-         Ký sự Phái đoàn Phật giáo Việt Nam đi ấn Độ và Tích Lan.

 Về giáo dục: NgàI có công thành lập trường tiểu học Khuông Việt tại chùa Quán Sứ; trường trung học Vạn Hạnh tại chùa Hàm Long Hà Nội. Và đặc biệt để tâm rất nhiều đến việc đào tạo Tăng tài bằng cách gửi các Tăng sĩ Việt Nam du học ở nước ngoài, nhằm phát triển kiến thức, trao đổi văn hoá, tăng cường hữu nghị và đào tạo Như Lai sứ giả giữa các quốc gia Phật giáo trên quy mô quốc tế.

Năm 1954, đất nước lại bị chiến tranh chia cắt. Hoà thượng tiếp tục bồi đắp và duy trì các cơ sở Phật giáo đã được xây dựng từ trước.

Đến năm 1958, Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam ra đời kế thừa sự nghiệp của Hoà thượng ở giai đoạn mới. Vì bệnh duyên và tuổi ngày một thêm cao, ngài phải nghỉ dưỡng bệnh và tỉnh tu ở chùa Quán Sứ, Quỳnh Trân và một số nơi tại miền Bắc.

Tháng 3 năm 1977, ngài chống Thiền trượng đi gặp và đàm đạo cùng chư Tăng tại chùa Quán Sứ để tạ thế. Thế rồi chiều ngày 13 tháng 2 năm Đinh Tỵ,  tức ngày ¼/1977 ngài đã viên tịch tại chùa Quán Sứ, trụ thế 75 năm và hoằng pháp độ sinh 45 năm. Bảo tháp của ngài được tôn xây tại chùa Sùng Phúc, thôn Huỳnh Cung, xã Tam Hiệp, huyện Thanh Trì, ngoại thành Hà Nội, bảo hiệu là  Chân Khuông Tháp.

Sự nghiệp và đạo hạnh của Hoà thượng đã đI vào lịch sử Phật giáo Việt Nam, với công lao cao cả trong cuộc chấn hưng Phật giáo nước nhà và đưa Đạo Phật Việt Nam góp mặt với Phật giáo Thế giới. Hoà thượng là tấm gương soi sáng cho các thế hệ Tăng Ni Phật tử cống hiến trọn đời cho Đạo pháp, dân tộc.

Tiểu sử cố Hoà thượng Thích Thanh Chân[1]

Hoà thượng thế danh là Nguyễn Thanh Chân, pháp danh là Thích Thanh Chân, hiệu Nhẫn Nhục Thiền sư, sinh ngày 4/10/1905 tại thôn Quỳnh Trân, xã Nam Cầu Hạ (nay là xã Nam Hạ) huyện Duy Tiên, tỉnh Nam Hà. Sinh ra trong một gia đình nho học có truyền thống nên ngài đã được giáo huấn nghiêm túc ngay từ khi còn nhỏ, nhất là được ông anh trưởng trực tiếp dìu dắt về nho học.

Năm 15 tuổi, ngài phát tâm và xuất gia tu hành, y vào Đại sư Thích Thanh Tích, giám tự Hương Sơn lúc đó. Năm 17 tuổi sau khi thụ giới Sa-di, ngàI bắt đầu đi du học, thời kỳ đầu học nho ở cụ tú Bát Tràng rồi cụ cử Đồng Bào… sau đó học Phật tại Thiền viện Phúc Khánh (Bằng Sở) dưới sự chỉ dạy của Đại sư Phan Trung Thứ (Thanh Cát). Sau khi thụ giới Tỷ Khiêu năm 21 tuổi, ngài tiếp tục học Phật và nhận chức đương gia tại chùa Quỳnh Trân nơi quên nhà.

Năm 30 tuổi, ngài trở về Hương Tích tiếp tục tinh nghiêm giáo lý. Sau lễ chọn cử người kế cận, ngài được cử làm Giám viện. Khi giặc Pháp phá chùa Thiên Trù(năm 1947, 1948, 1950) các sư tản cư, ngài một mình ở lại trông nom, tu sửa gắn bó với chùa cảnh, với nhân dân. Năm 1956, ngài được cử làm trụ trì thắng cảnh Hương Sơn cho đến khi viên tịch.

Ngoài  việc tu hành, Hoà thượng còn là một công dân yêu nước nồng nàn, một thành viên tích cực của Giáo hội. Hoà thượng tham gia Mặt trận Việt Minh các cấp liên tục từ sau cách mạng 1945, là uỷ viên thường trực Mặt trận Liên khu 3 suốt thời gian kháng chiến. Sau hoà bình lập lại, Hoà thượng liên tục giữ chức Phó Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh Hà Đông, Hà Tây, Hà Sơn Bình và tham gia Hội đồng Nhân dân tỉnh 6 khoá liên tục. Về hoạt động Giáo hội, ngay từ sau Cách mạng tháng Tám, Hoà thượng là một trong số những vị sáng lập hội Phật giáo cứu quốc với cương vị uỷ viên thường trực và chủ bút báo Diệu Âm, tiếng nói của Phật giáo yêu nước thời đó.

Sau ngày hoà bình, Hoà thượng đã tích cực vận động thành lập một tổ chức Phật giáo thống nhất và là một trong số những người sáng lập. Năm 1956, Hoà thượng cùng đoàn đại biểu Phật giáo đến gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh xin phép thành lập Hội Phật giáo thống nhất Việt Nam. Năm 1958, Hội ra đời, Hoà thượng tham gia Ban Trị sự Trung ương và Ban Chứng minh đạo sự, trực tiếp làm Chi hội trưởng tỉnh Hà Đông, Hà Tây, Hà Sơn Bình.

Năm 1975, hai miền Nam – Bắc thống nhất, trước sự đòi hỏi thống nhất các tổ chức hệ phái Phật giáo, Hoà thượng là một trong những người có nhiều đóng góp để Giáo hội Phật giáo Việt Nam ra đời. Tại Đại hội đầu tiên của Giáo hội Phật giáo Việt Nam năm 1981, Hoà thượng được bầu làm Phó Chủ tịch Hội đồng Trị sự Trung ương và giữ chức vị này cho đến khi viên tịch.

Năm 1988, khi bệnh cũ phát lại, Hoà thượng được đưa ra điều trị tại bệnh viện Hữu nghị Việt Xô với sự tận tình cứu chữa của các giáo sư, bác sĩ, với sự chăm sóc chu đáo của các đệ tử và Phật tử, nhưng vì tuổi cao sức yếu, bệnh quá nặng, Hoà thượng thị tịch ngày 17/2/1989, hưởng thọ 85 tuổi.

Trong suốt cuộc đời tu hành và tham gia các tổ chức Giáo hội cũng như xã hội, Hoà thượng luôn  luôn tỏ ra là một người mẫu mực, tiêu chuẩn, có ý thức trách nhiệm cao để hoàn thành mọi nhiệm vụ của Đạo  và Đời, do đó Hoà thượng đã có tín nhiệm rộng rãi đối với Đảng, Nhà nước, Chính quyền, với Giáo hội, với tăng ni, phật tử và nhân dân địa phương.

 


 

[1] Durands P.Huard: Connaissance du Viet Nam (tiếng Pháp: Hiểu biết về Việt Nam), Hà Nội, 1953.

 

[2] Durands P.Huard: Connaissance du Viet Nam (tiếng Pháp: Hiểu biết về Việt Nam), Hà Nội, 1953.

 

1.     [3] Trần Quốc Vượng: Việt Nam: di tích và cảnh đẹp. (Lời giới thiệu) NXB Văn hoá, Hà Nội, 1976.

2.     F. Enghen: Phép biện chứng của Tự nhiên (Phần: Tác dụng của lao động quá trình chuyển biến từ Vượn sang Người).

-         Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước (chương IX: “Dã man và Văn minh”).

 

[4] Trong Mác-Ăng-Ghen Tuyển tập, tập V, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1983, trang 463-510 tập VI, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1984, trang 21 – 273.

1.     Trần Quốc Vượng: Tìm thấy dấu vết người nguyên thuỷ trong khu vực Hương Sơn, Báo Lao động 15-1-1975.

-         Vui mùa gặt khảo cổ ở Hương Sơn, Báo Hà Tây 12-4-1975.

-         Đi chùa Hương khảo cổ. Thông báo ở Hội nghị Khảo cổ học toàn quốc 15-9-1975.

+ Phạm Đức Mạnh: Cụm di chỉ đồ đá Hương Sơn, Đại học Tổng hợp Hà Nội 1975.

+ Viện bảo tàng Lịch sử Việt Nam: Những trống đồng Đông Sơn đã phát hiện ở Việt Nam, Hà Nội, 1975.

 

---o0o---
 

Các Ngôi Chùa ở Hà Tây

 

---o0o---

Vi tính: Tuấn Hùng & Kim Oanh
Trình bày: Nhị Tường

Cập nhật 1-11-2005


Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về trang chùa Việt Nam

Đầu trang

 

Biên tập nội dung : Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp cho Trang Nhà qua địa chỉ : quangduc@quangduc.com
Địa chỉ gởi thỈ?: Tu Viện Quảng Đức, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic. 3060. Tel: 61. 03. 9357 3544