Nấc Thang Cuộc Đời
Giữa Mê & Ngộ (1)
Nguyên tác: Đại Sư Tinh Vân
Việt dịch: Thích Nữ Huệ Phúc
Nhà Xuất Bản Văn Hóa Phật
Quang 2005
---o0o---
LỜI GIỚI THIỆU
^
Nấc thang cuộc đời là một tác phẩm của hòa thượng tinh
Vân. Ngài là một bậc danh tăng của thế kỷ 20. Ngài đã thành tựu
nhiều việc lớn lao và đã giáo hóa được nhiều người thuộc các
tầng lớp xã hội trải qua nhiều thế hệ.
Những kinh nghiệm quý báu của ngài trên bước đường truyền bá
chánh pháp được đúc kết và ghi lại trong tác phẩm
"Nấc
Thang Cuộc Đời".
Thật là hân hạnh cho Tăng Ni, Phật tử Việt Nam được tiếp nhận
suối nguồn pháp lạc của Hòa Thượng qua tác phẩm dịch thuật của
cô Huệ Phúc.
Cô Huệ Phúc hội đủ phước duyên, được Hòa thượng Tinh Vân giúp đỡ
du học tại Học viện Phật Quang Sơn Đài Loan. Và dưới sự dìu dắt
của Hòa thượng, cô đã phát nguyện dịch tác phẩm này để truyền bá
tinh ba của Phật giáo trong thời hiện đại, góp phần xây dựng
Phật giáo Việt Nam và phật giáo thế giới ngày càng vững mạnh và
làm lợi ích cho nhiều người.
Chúng tôi giới thiệu tác phẩm
"Nấc Thang Cuộc Đời"và
mong rằng Tăng Ni, Phật tử hữu duyên sẽ có được những bài học bổ
ích cho việc tu học khi đọc tác phẩm này.
"Mùa phật Thành Đạo, Phật lịch 2548 - 2005
Hòa Thượng THÍCH TRÍ QUẢNG
Phó Chủ tịch Hội đồng Trị sự trung ương
Kiêm Trưởng ban Hoằng pháp Trung ương
Giáo hội Phật giáo Việt Nam
Lược truyện Đại sư Tinh Vân^
Master. HSING YUN
Đại sư Tinh Vân sanh năm1927, người tỉnh Giang Đô, huyện Giang Tô.12 tuổi
xuất gia với Đại sư Chí Khai tại Nam Kinh, chùa Thê Hà; thuộc dòng Lâm
Tếtruyền thừa đời thứ 48. Đã từng tham học nghiên cứu Phật pháp tại các tòng
lâm Thiền tịnh luật học viện: Kim Sơn, Tiêu Sơn, Thê Hà.Sau đó đã từng nhậm
chức: hiệu trưởng trường Quốc Dân Bạch Tháp,chủ biên tập <nguyệt san Nộ
Thọ>,Trụ trì chùa Hoa Tạng ở Nam Kinh.
1949 đến Đài Loan, chủ biên tạp chí <Nhân Sanh>, nguyệt san <Phật giáo
ngày nay>, tuần báo<Giác Thế>.
1964 tại Nghi Lan, chùa Lôi Âm, thành lập hội niệm Phật, hội thanh niên,
hội thiếu niên nhi đồng, xây đắp nền móng đoàn hoằng pháp cho mai sau.
1967 xây dựng <Phật Quang Sơn>, lấy <Phật giáo nhân gian> làm tông
phong phát triển Phật giáo trên toàn thế giới. Cật lực phát động sự nghiệp
hoằng dương chánh pháp theo bốn tông chỉ: Lấy văn hoá hoằng dương chánh pháp,
lấy giáo dục đào tạo nhân tài; lấy từ thiện phúc lợi xã hội; Lấy thiện tịnh
hợp tu tịnh hoá nhân tâm>. Trước sau trên toàn thế giới năm châu đã xây dựng
được hơn 100 phân viện đạo tràng trên toàn thế giới, trong số đó có những
đạo tràng quy mô uy nghiêm, danh tiếng như: Tây Lai tự (Mỹ), Nam Thiên tự {Úùc},Nam
Hoa{Châu Phi} v.v…Đồng thời đã sáng lập được 9 viện triển lãm mỹ thuật; 26
thư viện, 12 nhà sách và xuất bản; bệnh viện lưu động,16 cơ sở Phật giáo
tòng lâm học viện từ các cấp sơ, trung cao cho đến đại học đào tạo nhân tài.
Ngoài ra, với tâm nguyện cống hiến phúc lợi xã hội giáo dục đã xây dựng các
trường <Phổ Môn Trung Học>, trường <Đại học Phật Quang, <Nam Hoa Quản lý học
viện>, cho đến trường <Đại học Tây Lai> ở Mỹ.
Các tác phẩm trước tác:Truyện Phật <Thích Ca Mâu Ni>, <Tinh Vân Thiền
ngữ>, <Tinh vân bách ngữ>, Tinh Vân Đại Sư diễn giảng tập>, <Phật giáo tùng
thư>V.V…
1985 thực hiện chế độ Phật Quang Sơn “Truyền thừa mạng mạch”, Đại sư thối vị
“Tông trưởng “. Từ đó trở đi không ngừng vân du trên khắp năm châu bốn bể
hoằng pháp lợi sanh.
1999 sáng lập<Quốc tế Phật Quang Hội thế giới>, và được vinh dự đề cử
làm Tổng Hội trưởng. Từ đó đến nay đã thành lập 173 quốc gia hiệp hội trên
khắp ngũ đại châu, và đã được xem là tập đoàn nam nữ phật tử người Trung
Quốc có tầm cỡ quốc tế, thực tiễn xúc tiến lý tưởng: “Phật Quang phổ chiếu
tam thiên giới, Pháp thủy trường lưu ngũ đại châu.”
Đối với sự nghiệp phát triển Phật giáo về chế độ hóa, hiện đại hóa, nhân
gian hóa, quốc tế hóa có thể nói ngài đã thành tựu rất nhiều kỳ công vĩ đại.
Lời ngõ của dịch giả^
Trong cuộc sống thời đại văn minh khoa học đa năng phát triển cao tốc,
khiến cho đời sống vật chất con người có phần thăng tiến tốt đẹp, nhưng bên
cạnh đó, thế giới muôn ngàn lạc thú danh lợi ấy không những khiến cho cuộc
sống con người càng thêm tất bật theo cấp độ phát triển của thời đại, đồng
thời không ngừng cám dỗ con người mạo hiểm truy tìm cái dục lạc thèm muốn.
Do đó chúng ta nếu không cẩn thận, tỉnh giác sẽ bị nó làm hoa mắt, dẫn đến ý
loạn tâm mê mà sa hầm cạm bẫy.
Cái gọi là giữa <mê và ngộ>, nó vốn hiện hữu ngay trong mọi sinh hoạt của
mỗi con người trong từng sát na thời khắc. Trong cùng một sự kiện có lúc
người trong cuộc thì mê, mà người ngoài cuộc lại phân minh thông suốt. Vì
vậy, trong cuộc sống nhân gian hỗ tương đối đãi, những lời sách giáo của các
bậc thánh hiền là tiếng chuông cảnh tỉnh khi chúng ta bị vô minh bao trùm,
mờ mịt lầm lũi đi trong đường đọa lạc; là ngọn đuốc thiêng soi sáng cho
chúng ta những khi tắt lửa tối đèn. Từ những lời sách giáo súc tích đó sẽ
tăng lực cho mình trong sự quyết trạch giữa< lấy và bỏ>. Đồng thời những lời
sách giáo súc tích đó còn là công án cho chúng ta trầm tư thể hội về những
kinh nghiệm quý giá trong cuộc sống nội lực và ngoại duyên trần cảnh. Thật
ra thì giữa mê và ngộ, thiên đường hạnh phúc hay địa ngục khổ đau đều chỉ
nằm trong khoảng cách giữa một niệm khởi sanh diệt. Một khi ý thức khởi sanh
một niệm mê mờ thì cảnh giới qua cái nhìn theo niệm đó mà hình thành cảnh
giới sống gió thảm mưa sầu; còn khi tâm thức khởi sanh một niệm sống thức
tỉnh giác ngộ thì tầm nhìn cảnh giới, qủa là nhật nguyệt treo cao không,
không những có năng lực rạng soi vàn muôn vật, mà còn là năng lượng sưởi ấm
cuộc sống đại địa. Do vậy, khế kinh có lời dạy rằng:” Phiền não tức bồ đề”,
vàtrong Đàn kinh Lục tổ Huệ Năng hằng khuyến giáo chúng đệ tử: “Tự tánh mê,
Phật là chúng sanh.
Tự tánh ngộ,chúng sanh là phật.
Tự tánh bình đẳng, chúng sanh là Phật,
Tự tánh tà ác, Phật là chúng sanh“
Điều khuyến giáo đó cho chúng ta thấy rõ giữa mê và ngộ của nấc thang cuộc
đời chỉ nằm trong khoảng cách giữa một niệm khởi sanh diệt mà thôi!
<Giữa mê và ngộ> là bộ sách nhiều tập do ngài Tinh Vân đại sư viết ra
từ chính sự thể chứng nội tâm. Thâu qua sự biểu đạt văn tự súc tích, trong
sáng, bình dị đã mở ra cho người đọc con đường ứng thế vô úy, thắp lên cho
người đọc ngọn hải đăng soi chiếu thấu triệt mọi chướng ngại vật cũng như
tất cả những tình huống tốt xấu của đại dương cuộc sống, để từ đó người đọc
có thể tự mình an định tâm trí nhận định và quyết trạch phương hướng mình
tiến thối thích nghi, đem lại cuộc sống an bình lợi lạc viên dung thật tại.
Đây là bộ sách được các nhà trí thức trên thế giới đánh giá là bộ sách <Học
làm người> rất có giá trị để chúng ta tỉnh tư hoặc thiền tu thường nhật và
đã được các nhà trí thức phiên dịch quốc tế dịch ra các văn ngữ như Anh ngữ,
Đức ngữ, Pháp ngữ, Nhật ngữ, Hàn ngữ, Tây ban nha ngữ v.v…
Sau khi tốt nghiệp chương trình Đại học Phật học, khóa3 tại học viện
Vạn Hạnh thành phố Hồ Chí Minh, với tâm nguyện tầm học nghiên cứu sâu về
<Đại thừa Phật giáo qua hán tạng, nguyện mong được học hỏi công hạnh đào
sâu mạch giếng nước trong bổ mát để giúp ích cho chính bản thân mình và
người của chư Phật bồ tát,Tổ đức thánh hiền. Hậu học con đã có thắng duyên
được Giáo Hội Phật giáo Việt Nam hỗ trợ sang du học tại Đài Loan Học Viện
Phật Quang Sơn. Sáu năm nơi đất khách quê người, bánh xe thời gian cứ quay
cuồng theo tốc độ sanh diệt của muôn pháp, mỗi giây phút trôi qua là một
biến hoại không ngừng, phải không ngừng đối mặt với biết bao khổ nạn thách
thức giữa cuộc sống sinh hoạt bất đồng ngôn ngữ, dị biệt văn hóa tập quán,
thi cử bề bộn, luận văn, luận án thúc bách….nói chung là đã đa duyên hội ngộ
trong kiếp nhân sinh này, dù rằng bản thân đang sống trong cảnh giới thiền
viện, nhưng làm sao tránh khỏi những phút giây khách trần xôn xao xáo trộn,
thất điên bát đảo. Có những lúc tôi bị ngã quỵ dường như không đủ sức lực để
đứng vững tiếp tục hoàn thành sứ mạng như đã cùng thầy tổ hứa nguyện. Một
ngày nọ thấy tôi thần sắc bơ phờ, khổ não, một người bạn đồng tu đã đem tặng
tôi quyển <Giữa mê và ngộ> và nói :‘’Hãy đọc đi nhé, quyển sách này sẽ giúp
em tìm ra được điều mà em đang cần ”. Tôi không tin tưởng lắm, nhưng vì tôn
trọng tấm lòng tốt của vị học trưởng ấy, nên tôi nỗ lực đọc. Qủa thật, sau
khi đọc Giữa<mê và ngộ> qua những đoản văn” Aùnh trăng khải thị, Nấc thang
cuộc đời, Đương nhiên thôi….” Tôi như người vừa thoát ra khỏi cơn mê sốt,
người nhẹ hẳn đi, tâm trí tỉnh táo, tĩnh lặng phản tỉnh nhìn ra được nguyên
nhân của cái thất điên bát đảo của chính mình mà quay đầu chuyển thân tức
liền lên đến bờ. Cuộc sống giá trị đáng quý của đời người chính là đây. Từ
đó, lòng tôi luôn luôn mong muốn đem những điều bổ ích thiết thực mà tôi đã
thọ dụng được từ bộ bộ sách quý <giữa mê và ngộ> này để chia sẻ niềm vui, và
truyền đạt những cái “bảo” ấy đến cùng tất cả đồng bào Việt Nam thân thương
đang sống trên khắp mọi miền đất nước, vì <Giữa mê và ngộ> là những bài viết
chính từ sự thể chứng nội tâm trên những bước hành trình “bi trí hạnh
nguyện” tu học và hoằng pháp độ sanh”Phật quang phổ chiêáu tam thiên giới,
Pháp thủy trường lưu ngũ đại châu” của Đại sư Tinh Vân(Master:Hsinh Yun) mà
bản thân tôi được phước báo ngày ngày tiếp cận thấy nghe đã tạo nên lực từ
trường thu hút, rung cảm, cổ vũ tôi phát huy tiềm năng, thành tựu ước nguyện; tôi đã mạnh dạn gạt bỏ đi cái mặc cảm <bất tài vô năng> và dõng mãnh phát
nguyện dịch bộ sách <Giữa mêvà ngộ> này với tựa đề “Nấc thang cuộc đời” từ
Trung văn ra Việt văn với niềm tin yêu và hy vọng được cùng tất cả bạn đọc
rộng kết thiện duyên pháp lữ, cùng nhau nối tiếp các bậc thầy tổ, các bậc
thiện hữu tri thức thắp sáng lên ngọn đuốc chánh pháp soi sáng cho chính
mình và soi sáng cho người trên mọi nẽo đường đời ở từng mỗi nấc thang,
hiệp lực đồng tâm xây dựng cho đời cuộc sống ấm no tươi đẹp trong hiện tại
và tương lai, ngõ hầu báo đáp tứ trọng thâm ân.
Đây là tập sách dịch đầu tay nên văn cú, nghĩa lý có phần yếu kém,
lỗi lầm, hoặc không được trôi chảy trong sáng lắm, hậu học con thành tâm đê
đầu kính xin chư Tôn thạc đức và tất cả bạn đọc thiện hữu tri thức xa gần từ
bi chỉ giáo. Những ý kiến chỉ giáo đó chính là nguồn cổ vũ động viên quý giá
cho con được tiếp tục phát huy năng lực trong công tác phiên dịch những tập
văn chánh pháp kế tiếp đóng góp vào sự nghiệp phụng sự đạo pháp và dân tộc.
Hậu học con chân thành cảm tạ Giáo Hội Phật giáo Việt Nam và Học Viện Phật
Quang Sơn đã dưỡng dục con giới thân huệ mạng, soi đường dẫn bước cho con
trên đường tu học và phụng sự. Đặc biệt xin dâng lời cảm tạ chân thành đến
Hòa Thượng trưởng Ban hoằng pháp thượng Thích Trí hạ Quảng và giáo sư Vũ
Hoành, vị giáo sư Tiến sĩ trường Đại học Hà Nội đã không ngại tuổi già sức
yếu, phật sự đa đoan đã nhiệt tâm tận tình giúp con nhuận bút và viết bài
tựa. Đồng thời cũng xin chân thành cảm tạ các cơ quan chính quyền nhà nước
Viết Nam và tất cả thiện hữu tri thức xa gần đã nhiệt tình tạo điều kiện
thuận lợi cho hậu học con được xuất ngoại du học và hỗ trợ cho tập sách này
được phép xuất bản lưu hành.
Nam Mô Hoan Hỷ Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát
Môn sanh: Huệ Phúc
Nấc Thang Cuộc Đời^
人生的階梯
- Trong xã hội hiện nay, y học phát đạt, sinh hoạt vật chất thăng
cao. Trong một quốc gia tiên tiến, người dân tuổi thọ bình quân sống đến
khoảng 80 tuổi. Nếu đem cuộc đời 80 tuổi ấy so dụ như một tầng lầu cao 80
tầng cấp thang, thì con người từ khi cất lên tiếng khóc chào đời, tức một
tuổi bắt đầu. Thế rồi mỗi năm, mỗi năm thêm một tuổi, một tuổi. Đời người cứ
thế từng bước, từng bước đi lên cho đến tận đích. Trong bước đi từng bước,
từng bước của đời người, bằng cách nào mới có thể lên đến được tầng cao
nhất thứ 80? Tức đạt đến đỉnh cao của tuổi thọ, đỉnh cao của cuộc đời.
- Câu chuyện thần thoại kể rằng: Xưa có hai anh em nhà nọ xuất
ngoại leo núi. Sau khi xuống núi trở về ngôi nhà 80 tầng lầu, họ định dùng
thang máy để lên lầu, không may thang máy bị
trục trặc không thể
kéo lên được. Hai anh em cảm thấy không có vấn đề gì trở ngại, khi phải chuyển
sang cách từng bước, từng bước leo lên từng nấc thang; bởi vì lúc thường
nhật họ đã từng kiên chí luyện tập leo núi, khiến cho họ có được sức lực dẻo
dai. Nhờ vậy, mặc dầu phải leo đến nấc thang cao nhất của tòa đại lầu rất
vất vả, nhưng họ vẫn duy trì được tinh thần phấn khởi, cố gắng hướng từng
bước leo lên.
- Khi họ đã hướng lên đến nấc thang của tầng lầu thứ 20, họ không
những không cảm thấy mệt nhọc, mà còn tự giác rằng, mình phải leo cho thật
nhanh, và thật vững chắc, không sợ bất cứ một nấc thang nao. Thế là họ hăng
hái đặt bước hướng lên. Đến khi leo lên đến tầng lầu thứ 40, bỗng nhiên họ
cảm thấy thân thể xuất hiện trạng thái mệt mỏi. Họ cảm thấy cái vali hành
lý của họ càng lúc càng trở nên nặng nề vô cùng. Thế là hai anh em thương
lượng, quyết định đem hành lý để lại nơi tầng lầu thứ 40, đợi khi có thang
máy sẽ trở lại lấy.
- Bằng tín tâm và dũng khí, họ tiếp tục hướng lên leo cho đến tầng
lầu thứ 60. Lúc này họ cảm thấy sức lực đã suy yếu hẳn đi. Khí đã suy, lực
đã mòn, dường như không còn đủ sức lực để tiếp tục leo lên đến tầng lầu thứ
80. Nhưng trong khoảng khắc suy nghĩ: mình đã lên được đến tầng lầu thứ 60
rồi; cự ly chỉ còn 20 nấc thang, còn có gì không thể vượt khó? Thế là họ
không quản ngại muôn vàn khó khăn, mệt nhọc trong khí lực suy yếu của tầng
tuổi 60; cho dù phải đổ mồ hôi, sôi nước mắt với chân mỏi gối chùn. Cuối
cùng họ đã lên được đến đích thang của tầng lầu thứ 80. Toại nguyện chí
hướng, họ nở nụ cười sung sướng. Nhưng khi người anh định mở cửa
bước vào nhà, đột nhiên la lớn: “Chết rồi! Chìa khóa mở cửa để trong vali
hành lý, chưa đem lên được.” Người em nghe thấy như vậy, tâm hồn tràn ngập
nỗi thất vọng, thân thể rã rời như bong bóng xì hơi, đầu óc mênh mang mờ
mịt.
- Câu chuyện trên chỉ cho chúng ta rõ rằng: Sinh mạng của con
người, trong 80 tuế nguyệt của đời người, tầng tuổi thứ 20 là lứa tuổi thanh
xuân cường tráng, tràn đầy sức sống hạnh phúc, tươi vui, tuyệt đẹp vô cùng.
Đến tầng tuổi 40, vì sinh kế gia đình, con cái..., hai vai gánh vác những
trách nhiệm nặng nề như gánh một vali hành lý nặng. Ở thời tuổi ấy, có người
đem gánh vali hàng lý nặng đó đặt để nơi tầng tuổi 40, rồi tiếp tục nỗ lực
leo lên cho đến nấc thang của tầng lầu 60. Vào tuổi 60 của đời người, đã cảm
nhận rõ mình thế lực không còn dẻo dai để tiếp tục gánh vác trọng trách,
nhưng vẫn không ngừng nỗ lực bước trọn lên đến chung đích; cho dù chỉ là đem
theo cái thân thể yếu mòn để tiếp tục bước lên những nấc thang còn lại của
cuộc đời. Và khi đã đặt chân đến nấc thang của tầng tuổi 80, ngoái đầu nhìn
lại quá trình mình đã vượt qua, một chùm chìa khóa để lại dưới tầng lầu thứ
40, tức sự nghiệp gánh vác trọng trách mình đã không còn đủ sức lực và dũng
khí để bước trở xuống lấy nó mở cửa vào nhà hạnh phúc.
- Bạn đọc thông minh thân mến, bạn cũng có một cuộc đời của 80
tầng cấp lầu, bạn đã có quy hoạch cho mình nên làm những gì chưa??
Lấy XẢ Làm ĐƯỢC^
以捨為得
"Xả.được",
"được,
xả", lấy buông xả làm thu hoạch,
đó là mối quan hệ thực tiễn nhân duyên qủa báo. Nếu chúng ta không hiểu rõ về
hệ thống sinh hoạt triết học đó thì không dễ gì hiểu được diệu dụng của việc
làm "lấy buông xả làm thu hoạch".
Trên mảnh đất ruộng, nếu không gieo trồng hạt lúa giống, làm sao
có được sự thu hoạch? Đối với bạn bè thân thích, nếu bạn không cùng họ quan
hệ qua lại giao cảm; bình thường không lấy lễ vật tặng biếu nhau tỏ lòng
tình thân giao kết, thì làm sao thu hoạch được nhân duyên vật nghĩa hồi tặng
hỗ tương?
Buông xả, xem ra dường như là bỏ ra cho người khác; nhưng trên thực
tế là thu về cho mình đó thôi. Tặng người một lời nói tốt đẹp,thiện cảm, tức
thời sẽ thu nhận được người hồi tặng mình lời tán dương tràn đầy thiện cảm
tốt đẹp. Tặng người một nụ cười, mình sẽ nhận được ánh mắt reo vui hồi đáp!
Mối quan hệ "xả"và
"được",
tương đồng với mối quan hệ giữa "nhân"
và "qủa"Đó
là hai mối quan hệ hỗ tương mật thiết đồng đẳng trong đời sống triết học.
Người có năng lực thực hiện buông xả, nhất định nội tâm của người
đóvốn đã có tài sản giàu có cao quý. Nếu như nội tâm của người đó không hàm
chứa lòng biết ơn, và nhân cách kết duyên làm sao người đó dám buông xả cho
người khác; và làm sao có thể khiến cho người đó có được vốn thu nhận? Nội
tâm có tràn đầy hoan hỷ thì mới có thể đem niềm hoan hỷ hiến tặng cho người.
Nội tâm có ẩn chứa vô hạn từ bi, thì mới có thể đem tâm từ bi làm bóng cây
che mát cho người. Tự mình trong túi có tiền mới dám đem tiền ra bố thí cho
người khác. Tự mình có đạo tâm mới có thể đem đạo để dẫn dắt người cùng đi
trên đường quang minh.lợi lạc. Nếu trong tâm chúng ta chỉ có tham sân si,
thì đương nhiên khi cho người khác cũng sẽ là tham sân si. Thế nên, chúng ta
khuyên người không nên đem phiền não, sầu muộn truyền nhiễm cho người khác;
bởi vì buông xả cái gì, tức thời sẽ thu được cái đó. Đó là quy luật tất
nhiên.
Nhân gian Trung Quốc có câu chuyện kể rằng: Có một gia đình nọ,
người cha vui thích làm việc thiện bố thí, thường hay đem vật bố thí cho
người khác. Thật lạ thay! Càng làm việc bố thí, gia sản của ông ta càng giàu
có sung túc. Song thật đáng tiếc, con của ông ta tánh tình tham lam, keo
kiệt, bủn xỉn. Sau khi người cha qua đời, người con ấy lên kế vị nắm quyền
quản lý tài sản; lập trăm phương ngàn kế đục khoét tài sản của người khác.
Cuối cùng, thiên tai nhân họa đến, gia đình người con đó không những không
có được một chút may mắn nào mà ngay cả một vật nhỏ cũng không còn. Qua câu
chuyện này cho chúng ta thấy rõ tánh cách, phẩm chất của hai con người: một
cho ra và một gom vào; kết qủa giá trị của sự được mất, thành hoại sai biệt
như thế nào là do chính mình tự tạo tác, mà tự thọ nhận. Thế nên
"lấy buông xả làm thu hoạch"là
việc chúng ta cần nên tin tưởng và thực hành là vậy.
"Buông xả"trong
Phật giáo có nghĩa là bố thí! Bố thí giống như gieo giống Ni câu đà thọ(Ni
câu đà thọ tiếng Pali dịch là Nigrodha, tên gọi theo khoa học là Ficus
indica. Đây là giống cây có xuất xứ từ Aán Độ. Giống cây này to lớn, tàng
rộng, nhiều cành; bôùn mùa đều sản sanh hoa qủa){tham khảo Phật Quang Đại tự
điển, quyển thứ 2, trang 1885}.Vì vậy trong Phật giáo thường lấy loại giống
cây này để dụ cho sự thu hoạchhưng thạnh; Trồng một, thu hoạch mười; trồng
mười thu hoạch một trăm, kết qủa có thể là hàng ngàn hàng vạn. Vì vậy trong
đời sống nhân gian mong muốn trường thọ, vinh hoa phú qúy, quyến thuộc hài
hòa, danh dự cao sang, thông minh tài trí; trước nên tự hỏi mình: Thời tiết
xuân có gieo hạt giống tốt? Bằng không thời tiết thu làm sao có sự thu hoạch
tốt đẹp; làm sao có được công thành danh toại!
"Buông xả"
cần nên lấy từ bi và trí tuệ làm năng lượng để đúc kết nên thiện pháp lợi
ích hiến tặng cho người.Trong kinh "Tứ
Thập Nhị Chương" đức Phật dạy
rằng "Ngửa mặt lên trời phun
nước miếng, thì nước miếng không đụng đến trời mà sẽ bay ngược lại làm dơ
thân mình; ngược gió quét bụi, bụi không những không đến bờ đất kia, mà
ngược lại làm dơ thân mình."Thí
xả là đem lễ vật biếu tặng người. Nếu chúng ta đem lễ vật biếu tặng cho
người không thích đáng, khiến đối phương không dám tiếp nhận, thì vật kia
sẽ tự mình thu hồi lại. Từ đó mà suy việc mà mình không muốn, vật mà mình
không ưa thích thì chớ đem biếu tặng cho người.
Ngày tiết đông, mọi người đều yêu thích mặt trời, bởi vì mặt trời
đem nắng ấm sưởi khắp thế gian. Chúng ta yêu thích cây đại thọ, bởi vì cây
đại thọ cho chúng ta bóng mát. Cha mẹ thương yêu con ái, là vì con cái cho
mình sự hiếu dưỡng. Chúng ta yêu mến bạn bè, vì bạn bè đem lại cho chúng ta
sự hỗ tương giúp đỡ. Nếu mặt trời, đại thọ, con cái, bạn bè…không đem lại sự
lợi ích cho mình, thử hỏi làm sao chúng ta yêu thích họ?
Nếu ái tình là mối dây trói buột, thì hãy buông xả ái tình, rất tự
nhiên thân tâm sẽ tự tại. Nếu ngã mạn là phiền não chướng ngại đạo nghiệp,
thì chúng ta không quản ngại buông xả nó, phải chăng chúng ta đã nhận được
sự mát mẻ thanh thản? Nếu vọng tưởng là hư vọng, chúng ta buông xả vọng
tưởng, thì chẳng phải là chúng ta đã tự thu được cuộc sống chân thực rồi
sao? Nếu sự quái ngại làthống khổ, bạn xả bỏ nó đi, chẳng phải là bạn đã thu
được khinh an rồi sao? Do vậy chúng ta có năng lực thực hiện buông xả bao
nhiêu, tất nhiên sẽ thành tựu kết qủa thu được bấy nhiêu. Đó là đạo lý tất
yếu.
Khi đi đường, nếu không buông bước đi phía sau, thì vô phương đặt
được bước đi phía trước. Khi viết văn, không xả bỏ đi những câu văn rườm rà,
dài dòng, thì cũng vô pháp đúc kết ra được những đoạn văn tinh giản, súc
tích. Cây cối hoa cỏ trong sân đình, những cành khô lá úa, nếu không cắt tỉa
đi, thì cây cỏ kia làm sao có không gian đâm chồi nảy nụ. Kiến trúc đô thị
nếu không buông bỏ đi những kiến trúc thô thiển trái qui định thì không thể
nào kiến thiết ra được hình thể một đô thị hiện đại, trật tự, ngăn nắp, mỹ
quan.
Hàng tăng lữ, với danh nghĩa xuất gia, nếu không cắt ái buông xả người thân
thích, làm sao xuất gia học đạo, làm sao có thể tự tại vân du bốn biển hoằng
pháp lợi sanh? Các bậc cổ thánh tiên hiền
"trước
ưu tư với nỗi ưu tư cuả thiên hạ, sau an vui với niềm an vui của thiên hạ";
Nếu không thể xả mình vì người, thử hỏi làm sao có thể lưu danh sử thiên
cổû.
Chư Phật "việc khó làm,
làm được; việc khó nhẫn, nhẫn được"là
vì ngài hiểu được tầm giá trị của sự buông xả mà đúc kết nên sức mạnh vô úy
thí, "cắt thịt mình mớm cho chim
ưng, xả thân mình cứu cọp đói "thành
tựu Phật đạo. Ngài Tuyết sơn Đồng Tử, chỉ do một câu kệ:
"Chư
hành vô thường, thị sanh diệt pháp,sanh diệt diệt dĩ, tịch diệt vi lạc"mà
dám bỏ thân vì đạo, và cuối cùng ông đã đạt được như nguyện đắùc thánh qủa
đạo.
Chúng ta nếu không buông xả đi những thói hư tật xấu, thì đời sống
làm sao có thể tiến bộ, cho dù có tiềm năng tốt cũng vô phương sanh trưởng.
Học phật chính là học tập "xả
mê nhập ngộ, xả tiểu hoạch đại, xả vọng quy chơn, xả hư hành thật."Thế
nên lời mà bậc cổ đức tuyên huấn:” phóng hạ đồ đao, lập địa thành Phật” là
vậy; phóng hạ, nghĩa là buông xả, không buông xả, làm sao thành phật được?
Tóm lại, "lấy xả làm
được"diệu dụng vô cùng; chúng ta
cần nên học tập tánh cách buông xả. Tiền tài vật chất, tri thức, kỹ năng,
chúng ta biết buông xả đem hiến tặng cho người làm lợi ích thì cái giá trị
tài sản đó mới thật sự là kết qủa thu được của chính mình vững chắc. Cũng
vậy, khi chúng ta biết buông xả tất cả những phiền não vô minh bi thương,
vọng tưởng v.v…thì rất tự nhiên sẽ đạt được cuộc sống mới với cảnh giới
trong sáng, tươi mát, hạnh phúc, tràn đầy niềm tin yêu hy vọng,
Nhận Biết Chính Mình^
認識自己
Thông thường chúng ta có hai con mắt, có thể nhìn thế gian, nhìn
vạn vật, nhìn người khác chính xác, rõ ràng. Nhưng lại không nhìn được chính
mình.
Nói rõ hơn, con người có tầm thức phân biệt, có thể nhận thức
người khác, nhận thức sự vật, nhận thức thế giới, nhưng không nhận thức được
chính mình. Lại nữa, con người chúng ta có thể nhìn thấy được lỗi lầm sai
trái của người khác rất rõ ràng, nhạy bén, nhưng lại không nhìn thấy được
khuyết điểm của chính mình. Nhìn thấy được sự tham muốn của người khác mà
không nhìn thấy được các tập khí, các tiểu khí của chính mình. Nhìn thấy
được tà kiến của người khác, nhưng không thấy được cái ngu si của chính
mình.
Chúng ta có thể nhận thức được sự hoạt động của thế giới; có thể
nhận thức được lịch sử, nhận thức được xã hội, nhận thức được thân thích
bằng hữu, nhưng rồi cũng không thể nhận thức được chính xác chính mình.
Làm người nếu chúng ta biết tự mình soi gương quán sát. Trong
gương có thể nhìn thấy được mắt, tai, mũi, lưỡi, ngũ quan của chính mình,
Nhìn thấy tường tận đường nét xinh đẹp hay diện mạo xấu xí của thân mình,
nhưng nào có thể soi thấy được nội tâm của chính mình. Nếu có được mặt gương
tinh vi mà có thể soi chiếu thấy được nội tâm của chính mình, thì tâm tham,
sân, si, tật đố, tình sầu oán khúc v.v... kia chắc haún sẽ rùng rợn khó coi
đến cực đieåm!
Người, có người hiền lành, từ bi; có người hung ác nham hieåm.
Người, có người luôn luôn sống với tâm bao dung, hỷ xả; nhưng lại có người
luôn sống với tâm tham thủ, ích kỷ chỉ biết đòi hỏi được người khác bao
dung, cung phụng. Bạn đã tự nhận ra bạn thuộc loại người nào chăng? Người,
có người biết vì người quên mình, nhưng cũng có người chỉ biết tổn người,
lợi mình. Bạn có thể tự xét ra được mình là thuộc chủng người nào chăng?
Làm người cần phải có lễ nghĩa, có tàm quí, có tín nghĩa hòa
bình, có trung hiếu, nhân ái, có từ bi hỷ xả. Bạn đã kiểm tra qua chính
mình? Bạn kiểm điểm chính mình xem có được những điều kiện làm người đó
chưa?
Làm người chúng ta cần phải biết tự bồi dưỡng năng lực đảm đang
gánh vác trách nhiệm. Đầu tiên, cần phải tự nhận thức được chính mình, nhất
là không sợ đối diện với những lời “trung ngôn nghịch nhĩ”, hoặc lẫn trốn
khuyết điểm xấu dở của chính mình, thì mới có thể tiến bộ nhanh, và mới có
thể tự mình trưởng thành.
Trong Phật môn thường nhắc nhở chúng ta câu: “Nhận thức bản lai
diện mục của chính mình.” Chúng ta đã nhận thức được bản lai diện mục của
chính mình?
Trong cuộc sống nhân gian, biết bao người ngày ngày chỉ có bận
rộn với những tính toán so đo về sự được mất, sự hơn thua của người khác,
rồi chỉ biết chê trách người khác là vô yù thöùc, vô giaùo duïc mà quên mất
quan tâm về sự khởi tâm động niệm của chính mình. Con người chuùng ta đối
với lý tưởng, trách nhiệm xứ mạng của chính mình là luôn luôn trái ngược với
sự thật, trái ngược với tương lai. Do nhân đó mà làm chướng ngại pháp thân
huệ mạng của chính mình. Chúng ta học Phật chính là để khai phát chơn tâm
của chính mình. Và lột bỏ đi cái mặt nạ của chính mình, thành khaån phân
giải chính mình, nhận thức được chính mình.
Nhận biết được chính mình, chính là một đề tài lớn của xứ mạng,
đâu thể xem thường, hoặc buông lung tùy tiện!
Ánh Trăng Khải Thị^
月亮啟示
Có một tên trộm định đột nhập vào một nhà giàu lấy trộm đồ. Anh
ta dắt theo đứa con trai nhỏ cho nó kiến tập. Tên trộm bảo đứa con:
Con đứng ngoài cửa giúp ba canh chừng, nếu nhìn thấy có người về
đến thì ra hiếu cho ba biết. Nói xong, anh ta liền tung thân nhảy vào nhà.
Vừa lúc anh ta chuẩn bị hạ thủ nghề trộm; bỗng nhiên ngoài cửa đứa con la
lên:
- Ba ba! Có người nhìn thấy mình rồi!
Tên trộm nghe báo hiếu, vội vàng nhảy ra khỏi cửa, kéo thằng bé
nấp vào đám lâu sậy chạy trốn.Chạy được một đoạn khá dài, dừng lại nghỉ mệt,
anh ta liền hỏi đứa con: Vừa rồi ai nhìn thấy mình? Đứa bé đáp:
- Thưa ba, ánh trăng đang nhìn thấy mình hành động!
Đoạn truyện cười trên đã chæ roõ cho chuùng ta thaáy rằng “khi
mình làm một việc gì xấu ác, bất thiện”; cho dù không ai biết, nhưng làm sao
dấu được trời đất, Chư Phật, Bồ Tát, Thánh Hiền, vaø nhaát laø laø sao daáu
ñöôïc löông taâm cuûa chính mình.
Điều mà bậc quân tử nói: “Thập mục sở chi, thập thủ sở chi”
nghĩa là khi chúng ta làm bất cứ một việc gì, tốt xấu, sáng tối như thế nào
chung quanh chúng ta đều có những đôi mắt vô hình nhìn thấy, biết rất rõ
ràng. Sự thành tín là như vậy.
Trăng sáng từ xưa đế nay chính là người bạn taâm ñaéc của tình
nhân; là tác phẩm cao quý yêu thích của thi nhân. Một vầng trăng treo giữa
trời cao đêm tịch, thu hút biết bao văn nhân nho nhã đối trăng ngâm vịnh.
Sách có câu: “Trăng sáng, sao thưa, đời người mấy thuở”. Trong sự cảm thán,
khổ đoạn của đời người, dường như cũng đang ẩn tàng nỗi sầu đau bi thương
chưa thực hiện được chí lớn. Ngoái đầu nhìn lại, từ xưa đến nay đã có biết
bao chúng dân lòng tràn oan khuất, không biết tỏ cùng ai, chỉ biết ngẩng đầu
hỏi trăng, thổ lộ, không hề dấu diếm bất cứ điều tối sáng nào!!!
Kỳ thật, trăng sáng là tượng trưng cho sự quang minh, viên mãn.
Trong bầu nhiệt luyến của tình bạn, hai người tâm đầu ý hợp đối trăng tuyên
thề: Mong rằng, dưới trăng ông trời chứng dám cho họ mối chung tình. Thế
nhưng, thế sự vô thường. Dưới trăng ông trời làm sao có thể làm chủ được?
Ngạn ngữ có câu: “Con trăng cong cong chiếu cửu châu, thử hỏi
bao nhà vui, bao nhà sầu?” Ánh trăng có khi mờ, khi tỏ; lại có lúc tròn, lúc
khuyết. Đời người tất nhiên cũng phải có lúc vui, lúc buồn, lúc tan, lúc
hợp. Từ hình tượng trăng tròn, trăng khuyết đã nói lên tận cùng ý nghĩa thế
sự bể dâu biến đổi, đời người vô pháp ngăn chặn.
Có câu thơ rằng: “Cố nhân bất kiến kim thời nguyệt, kim nguyệt
tằng kinh chiếu cố nhân” nghĩa là bậc cố nhân tuy không còn nhìn thấy bóng
trăng nay; nhưng trăng nay vẫn mãi mãi hằng chiếu sáng bậc cố nhân. Trăng
sáng vĩnh hằng từ cổ chí kim là như vậy, không một chút riêng tư phân biệt
người ở quá khứ hay người trong hiện tại. Chỗ sai khác chỉ là trăng xưa còn
đó mà người nay đã xa lìa. Ánh trăng mà chúng ta đang nhìn thấy đó, nhẫn đến
vị lai vẫn sẽ tiếp tục huy hoàng chiếu sáng. Nhưng ánh trăng của vị lai như
thế nào chiếu sáng chúng ta trước sự biến đổi trình tự thời gian; nhân sự vô
thường? Thảo nào bậc thi nhân phải ký gởi cùng trăng niềm hoài cảm!!!
Hoặc gọi: “Nguyệt đáo trung thu phân ngoại minh, nhân sanh năng
độ cơ chung thủy”. Trăng khuyết rồi trăng lại tròn, trăng mờ rồi trăng lại
tỏ. Thế nhưng đời người chúng ta tueá nguyệt qua đi làm sao trở lại được?
Cổ đức nói: “Trăng tròn, trăng khuyết vẫn là trăng, vốn không
chỗ tối, thử hỏi nơi nào sáng?” Xem ra vầng trăng sáng kia, tuy có tròn, có
khuyết, có mờ, có tỏ; thật ra đó chỉ là sự vận chuyển của tinh cầu, cho đến
hiện tượng vầng trăng bị mây che khuất đi, cũng vẫn là như vậy.
Đối với bản thể của trăng mà nói, thì trăng vốn không có tròn
khuyết; tối, sáng; mờ tỏ. Bản chất của trăng từ thủy tới chung vĩnh hằng
vẫn là trăng sáng.
Do vậy, nếu chúng ta hằng giữ được tâm sáng trong như nhật
nguyệt, thì bất kể trăng tròn, trăng khuyết, trăng mờ hay trăng tỏ, vẫn bảo
tồn được đức tính thường tại. Điều đó là sự thật, không cần phải nghi ngờ;
chỉ cần trong tâm chúng ta có trăng sáng, tất sẽ roõ nghĩa: “Thái dương treo
cao không, minh nguyệt chiếu tâm linh; tâm ta có nhật nguyệt, sợ gì không
trăng sáng?”Và thiết thực hơn nữa, chúng ta cùng nhau phát huy vầng trăng
sáng đó thành hiện hữu cao thượng:
Xin nguyện làm vầng trăng sáng
Cao treo giữa đêm không
Soi sáng khắp nhân gian
Xin nguyện làm vừng đông thái
Sưởi ấm khắp đại địa
Trưởng dưỡng vàn muôn vật.
Con Đường Xử Thế^
應世之道
Câu chuyện cười: “Mèo bắt chuột” kể rằng: Có một chuù mèo đi rình bắt chuột,
chuột con biết được, nhanh nhẹn trốn vào động kín. Chuù mèo đến nơi liền giả
giọng chó sủa. Chuột con nghe thấy tiếng chó sủa, quyết đoán: Chú mèo kia
chắc chắn là đã bị bác chó dọa nạt chạy mất dạng rồi. Thế là chuột con ung
dung bò ra khỏi hang. Không bỏ qua cơ hội, mèo ta lập tức túm ngay chuột
con. Chuột con không chịu thua liền hỏi: “rõ ràng là tôi vừa nghe thấy tiếng
chó sủa gầm vang, thế tại sao bác còn đứng ở đây?” Gã mèo đắc ý đáp: “năm
nay thèm muốn ăn hỗn món ăn, vì thế nếu không tìm cách học ngôn ngữ thứ hai,
làm sao tiến hành được!” – Con người muốn sanh tồn, tất nhiên cần phải dự bị
cho mình một số điều kiện sanh tồn. Đó chính là phương án ứng xử thế
Liên quan đến “phương án ứng xử thế” có 4 điểm sau để chúng ta cùng thảo
luận.
1. Nhẫn nại: Lực lượng nồng cốt để thành tựu nghệ thuật ứng thế.
- Trong cuộc sống nhân gian, nhẫn nại là sức mạnh tuyệt vời nhất. Nhẫn nại
không phải là thua thiệt, cũng chẳng phải là không có năng lực ứng đối;
ngược lại, khi đối diện với những sự kiện bị hủy báng, người có tính nhẫn
nại liền biết vận dụng tâm chất trực để lý giải vấn đề sao cho xứng tình hợp
lý. Và trong thế giới tâm, đức nhẫn nại hoàn toàn không tiềm ẩn một chút hận
thù, tật đố nào, mà chỉ có hòa bình và bao dung. Nhẫn nại là pháp ứng đối xử
thế cao thượng. Đại địa do sức nhẫn chịu sự giẫm đạp của tất cả mọi loài mà
huân đúc nên sức mạnh nhẫn nhục cao thượng vô hình. Chúng ta làm người cần
nên học tập đức nhẫn của đại địa, mới có thể thành tựu được đức hạnh nhẫn
nại, và mới chân thực có đủ sức mạnh ứng xöû thế.
2. Bao dung: Pháp tu dưỡng hạnh làm người cao cả.
- Hư không do có đức bao dung vạn hữu, mà trở thành cao rộng vô tận. Chúng
ta trong cuộc sống giao tiếp, cần nên học tập và tu dưỡng đức bao dung rộng
lượng như hư không, thì mới được người khác tôn kính và tin yêu. Hạnh bao
dung là một trong những pháp tu dưỡng thiết yếu hoàn thiện nhân cách làm
người. Làm người nếu đối với sự lợi lạc của người khác mà chỉ có từng phần
cân ly so đo tính toán, hoặc giả, người khác có một điểm nhỏ sai trái không
những không thể bỏ qua mà còn khuyếch đại (tầm thường biến thành trọng đại).
Hoặc ngược lại, đòi hỏi người khác phải bao dung mình, phải đối đãi mình
rộng lượng. Không cần thuyết minh, chúng ta đều biết người đó đã tự hiện lộ
ra tâm tánh nhỏ nhen, ích kỷ. - Một tách trà có thể dung nạp 500cc nước; một
căn phòng với diện tích 100m2 dung chứa được 300 người; căn phòng với diện
tích 500m2 tất nhiên sẽ dung chứa được 1000 người. Thế nên tâm người có
lượng khoan dung bao nhiêu, tức đã thành tựu đức bao dung quảng đại bấy
nhiêu.
3. Nhu hòa: Pháp đối đãi cư xử thành công trong nghệ thuật ứng thế.
- Trong pháp ứng xử, tính nhu hòa mềm dẻo sẽ khắc phục được tính thô cứng.
Nước do có bản chất nhu nhuyến mà thành tựu được năng lực xuyên thủng suốt
tảng đá to cứng. Thế nên, trong cuộc sống, nếu chúng ta biết ứng dụng tính
nhu hòa, an nhẫn để đối đãi thì tất cả mọi khó khăn trở ngại đều có thể hóa
giải dễ dàng. Hiện nay lưu hành quản lý học, pháp quản lý tuyệt vời vẫn là
trực diện quản lý bản chất tâm của chính mình. Bản chất tâm của chính mình
nếu quản lý được trọn vẹn chu đáo từ hạnh đức từ bi, nhu hòa, nhẫn nại, cho
đến thành tựu quản lý “nhân ngã nhất như” mình và người là một, thì đó chính
là pháp quản lý cao đỉnh nhất.
4. Nhớ ơn và báo ơn: Tích lũy tư lương phước điền.
- Người có đức hạnh nhớ ơn và báo ơn, người đó sẽ trân quý tất cả sự vốn có
của chính mình, và không ngừng nỗ lực đem tài năng phụng hiến đền đáp người
khác đã hy sinh biết bao sự nghiệp xương máu, tâm trí để đem lại cho mình
cuộc sống ấm no hạnh phúc; sao cho xứng đáng với lời cổ nhân truyền dạy
“uống nước nhớ nguồn, báo đáp thâm ân”. Vì vậy nhớ ơn và báo ơn chính là
cuộc sống phú quý nhất.
- Người biết quản lý lấy ba nghiệp thân, khẩu, ý của chính mình sẽ không bị
phiền não quấy nhiễu, và không có sự tranh chấp, chiến tranh trong bất luận
hoàn cảnh nào, trụ xứ nào.
Cuộc sống “Thường, lạc” an trú trong “từ, bi, hỷ, xả” chính là diệu pháp ứng
xöû thế theo bốn điểm như trên.
Lẽ Đương Nhiên^
(當然而)
-Nhöõng söï phaûi traùi toát xaáu trong ñôøi, có cái là đương
nhiên nhưng có cái không phải đương nhiên; Điều đương nhiên thì không cần
đem ra bàn luận. Bằng ngược lại, nếu không phải là điều đương nhiên, sẽ bị
bẻ gãy, hoặc oán trách, hờn giận, khiến cho tâm trí không được an nhiên, tự
tại. Thuận cảnh, đương nhiên là tốt đẹp; nhưng nếu là nghịch cảnh, thì đương
nhiên là không dễ dàng như ý muốn. Thế nhưng, nếu chúng ta thấu hiểu được
điều mà gọi là “nghịch đến, thuận nhận”. Đem điều không đương nhiên đó, xem
nó như là đương nhiên, thì mọi sự đều trở thành xuôi buồm thuận gió, vui
tươi, hạnh phúc vô hạn.
- Trong thế giới tự nhiên, mưa thuận, gió hòa, làm cho vạn vật
sanh trưởng; sương tuyết làm cho vạn vật tươi nhuận. Trong quá trình cuộc
sống của đời người, cha mẹ quản giáo con cái vạn nghiêm là điều đương nhiên
thôi, bởi vì cha mẹ muốn con cái mình trở nên người tốt lành, có tương lai
tươi sáng. Thầy cô giáo huấn, nghiêm khắc ép buộc học sinh dụng công học tập
là điều đương nhiên, bởi vì thầy cô giáo mong muốn giúp học sinh có được
thành tích tốt. Giữa các bạn đồng học có sự cạnh tranh cũng là điều đương
nhiên thôi, bởi vì có cạnh tranh mới có sự tiến bộ. Cuộc đời thế thái nhân
tình cũng là đương nhiên thôi, bởi vì thế nhân mong muốn bạn phát huy cuộc
sống đủ tình trọn nghĩa. Quân đội đòi hỏi người quân nhân phải nghiêm minh
tuân thủ kỷ luật, luyện tập muôn phần nghiêm khắc dụng công là đương nhiên,
bởi vì trên chiến trường không thể có một phân hào sai xuất. Ông chủ yêu cầu
bạn làm thêm công việc, đó cũng là điều đương nhiên, bởi vì có tăng năng
suất, mới có được thu hoạch lợi ích lớn.
- Con cái đòi hỏi cha mẹ sự giáo dưỡng, học hành, thì cũng là
điều đương nhiên, bởi vì giáo dưỡng là trách nhiệm của cha mẹ. Người bạn
nghèo thường đến vay mượn, cần cầu sự giúp đỡ của bạn thì cũng là điều đương
nhiên thôi, bởi vì anh ta nghèo khó mới mong cầu bạn hợp lực giúp đỡ phần
khốn khó đè nặng trên vai.
- Vì vậy, trong cuộc sống, nếu chúng ta biết khéo chuyển hóa cái nhìn
tầm thường nông cạn, thành cái nhìn quảng đại; nghĩa là đem những điều không
đương nhiên, hoán chuyển nhìn thành điều đương nhiên, thì rất tự nhiên, bạn
sẽ cảm nhận được tâm bình, khí hòa, không hề có sự oán trách, giận hờn. Từ
đó mới rõ tiết xuân ấm áp, khiến cây lá đâm chồi nảy nụ khai hoa. Tiết hạ
nóng nực; tiết thu mát mẻ; tiết đông tuyết rơi lạnh lẽo, cô tịch... tất cả
đều là lẽ đương nhiên.
- Người bạn kia giàu có bởi vì họ biết cần cù, kiệm ước cho nên
họ giàu có là đương nhiên. Người bạn nọ phát đạt nhanh chóng, đó là nhân
duyên phước đức của anh ta. Hơn nữa, trong cuộc sống anh ta biết quảng kết
thiện duyên, đương nhiên anh ta sẽ thành tựu được vinh quang hiển đạt. Người
nhà hàng xóm lân cận an lạc, hòa thuận, đó cũng là điều đương nhiên, bởi họ
có sự giáo dục, tu dưỡng tốt. Người bạn nọ được thăng quan tiến chức, nhận
lãnh bỗng lộc, thì đó cũng là điều đương nhiên, bởi vì họ có đủ điều kiện
tốt, kết hợp cùng thời vận.
- Trong cuộc sống thọ nhận sự khổ khó thì cũng là điều đương
nhiên, bởi vì cuộc sống nếu không trải qua sự ngaäm đắng nuốt cay, nằm gai
nếm mật, thì làm sao thành bậc thượng nhân? Gặp phải khó khăn thì cũng là
điều đương nhiên thôi, bởi vì cuộc đời nếu không từng đi qua đoạn đường giá
rét buốt xương, thì làm sao có được ngày hoa mai nở rộ, tỏ ngát hương thơm?
Thọ nhận sự đổi trắng thay đen, hoặc bị người khinh khi, chán ghét... thì
cũng là điều đương nhiên thôi. Suy cho cùng, nghĩ cho tận thì trong sự
“đương nhiên” ấy. Có biết bao là hương vị kỳ mỹ, thành tựu công đức. Trong
“Phật Quang bổ thần ngôn” có câu: “Trong biển người chìm nổi, thọ khổ, thọ
nạn là điều đương nhiên, chỉ cần tùy hỉ, tùy duyên là có thể tìm ra được
thông lộ. Trên cuộc sống thế gian, cho người sự an vui là điều cần đương
nhiên; chỉ cần thấu rõ việc cần làm, và nên làm tất sẽ thành tựu được khả
năng cống hiến.
- Cuộc sống ở đời, chỉ cần bạn hiểu được mình và người, đem
những điều không đương nhiên bieán thành điều đương nhiên, thì có vấn đề gì
là không thể giải quyết?
Tâm hồn trẻ thơ^
赤子之心
Tâm hồn trẻ thơ là gì nhỉ? Bạn có tâm hồn trẻ thơ không?
Thưa các bạn, ---Tâm hồn trẻ thơ còn được gọi là anh nhi hạnh; đó chính
là Phật tâm, là tâm hồn trắng ngây thơ chơn thuần đáng yêu đáng quý. Anh nhi
hạnh đó chính là tấm lòng bao la của mẹ, là tấm lòng cao cả của cha; là tấm
lòng cao thượng quảng đại của các bậc thánh hiền. Hoặc có thể nói, tâm từ
bi, lòng thành thật, tánh thiên chơn, hạnh ý thiện mỹ….đều là bản năng tự
nhiên, là thực chất của anh nhi hạnh.
Khi bạn nhìn thấy chúng sanh thọ khổ, tâm bạn khởi động lòng thương,
không kham nhẫn nhìn chúng sanh thọ khổ. Hoặc nhìn thấy người khác gặp phảiï
tai ương ách nạn, bạn sanh lòng trắc ẩn thương xót và tìm cách giúp đơ.õ Cho đến chủ động thâu nạp các em bé không gia đình, sống lang thang nơi gầm
cầu, góc chợ…thành lập nhà tình thương cô nhi nuôi dưỡng, bảo bọc, dạy dỗ
cho các em nên người. Quan tâm chăm sóc người già lão, neo đơn, quả phụ;
Chân tình tận tâm cứu tế các nhà thưong binh liệt sĩ..Tất cả những việc làm
đó chính là tấm lòng son sắc xuất phát từ bản năng của tâm hồn thuần khiết.
Tâm hạnh”Thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh” của các bậc đại bồ tát là
tâmthuần khiết; bởi vì”bi、trí、hạnh、nguyện”
của các ngài đều từ chơn tâm phát khởi và hiện hành. Do vậy, Đức Bồ tát Đại
Trí Văn Thù được gọi là "Văn Thù
đồng tử, "; Ngài Thiện Tài Đồng
Tử với thiên chơn đi tham học 53 địa điểm với 53 vị thầy để tầm cầu chơn lý,
cho nên cũng lấy “Đồng tử“ để gọi tên. Còn các vị mà được thế gian tôn xưng
với tên gọi thiện mỹ cung kính là bậc“Thiên nhân chi đạo sư “ như Lão Tử,
Khổng Tử, Trang Tử, Lộ Tử, Chu Tử …là vì các vị này trọn một đời sống với
tâm hồn thuần chơn cao thượng quảng đại tất cả vì sự nghiệp đạo đức trăm
năm trồng người của đàn hậu học.
Tâm hồn của những người con trọn lòng hiếu nghĩa vì đạo, vì nước như
người con gái mang tên Hoa Mộc Lan vượt phận nhi nữ, thay cha tòng quân nhập
ngũ; Thế Dung dõng mãnh đến tận cửa quan đánh trống kêu oan cứu cha; Đồng nữ
Diệu Huệ hồn nhiên giảng kinh hoằng pháp; Đồng nữ Từ Hạnh tận tuỵ cứu giúp
người già yếu…là những tâm hồn anh nhi chơn thiện mỹ lưu danh sử sách.
Trong thời Trung Quốc đế vương, Đường Thái Tông là người được thiên hạ
tôn nghi là bậc có tấùm lòng son sắc bậc nhất. Có một lần nọ, Thái Tông ở
trong cung đang vui đùa với chú chim nhỏ, bỗng nghe báo tin Quỳ Trưng đến;
Thái Tông cấp tốc đem chú chim nhỏ dấu vào trong tay áo rộng; sau đó tỏ ra
rất tự nhiên cùng Quỳ Trưng đàm đạo. Nhưng thật ra, trong lòng vô cùng ái
ngại lo lắng cho chú chim nhỏ bị chết ngộp trong tay áo. Ông lo đến nỗi
khuôn mặt toát đẫm mồ hôi. Qủa đúng tấm lòng từ bi son sắc của ông hiển lộ
khiến người dân không ai không cảm mộ.
Đời nhà Thanh, Càn Long hoàng đế cũng được coi là vị vua có bẩm chất
thuần chơn anh nhi. Một ngày nọ, người quần thần tên Kỷ Hiểu Lan đứng phía
sau lưng nhà vua, và gọi nhà vua bằng tên gọi”Lão đầu tử.” Không khéo bị vua
Càn Long nghe được. NhàVua cố ý lấy cơ hội này để làm khó Kỷ Hiểu Lan, bắt
ông phải giải thích ý nghĩa của lời gọi đó là ý gì? Bằng không giải thích
được sẽ bị xử phạt chém đầu. Kỷ Hiểu Lan vốn là người rất vui tính, độ
lượng, lại thông minh tài trí. Thế nên khi nghe vua hỏi, liền khiêm hỷ đáp:
"Hoàng
đế là bậc được chúng dân xưng hô”vạn tuế”,mà Vạn tuế có nghĩa là”già”, còn hoàng đế chính là bậc đàn đầu của vạn dân,
cho nên gọi là “đầu”; lại nũa, Hoàng đế là bậc Thiên tử, nên gọi tắt
là”tử”.--- Vua Càn Long và vị quan Kỷ Hiểu Lan, là người không những tài trí
căn cơ tương giao, tương ngộ mà còn là người cùng có bẩm chất anh nhi hạnh
đáng yêu đáng quý.
Trong truyện Nhị Thập Tứ Hiếu của Trung Quốc, Lão Lai Tử, tuy tuổi đã
ngoài 60; nhưng đối trước cha mẹ già80, ông vẫn tỏ ra mình là người con nhỏ
bé, tận lòng cơm dâng, nước rót, đông ấp lạnh, hạ quạt nồng và thường hay
làm những trò hề để làm vui cho cha me. Lại nữa, Thuý Kiều bán mình chuộc
cha, cứu gia đình ra khỏi đột biến tai ương khiến cho Kiều phải 15 năm sống
lưu lạc, trôi nổi trong thân phận làm gái lầu xanh. Song Kiều vẫn không một
lời oán than, mà lòng nàng luôn luôn vọng tưởng nhớ thương cha mẹ. Đem về
nghe tiếng chim ríu rít trong tổ ấm, Kiều chạnh lòng thương sót cha mẹ ma
øthốt lời than rằng:
“Chiều chiều ra đứng cửa sau,
Ngó về quê mẹ ruột đau chín chiều”…..
”Xót người tựa cửa hôm mai,
Quạt nồng ấm lạnh những ai đó giờ.”….
Những tấm gương hiếu nghĩa đó, từ cổ chí kim; từ đông sang tây không
hiếm. Ngoài “Nhị thập tứ hiếu có thầy Mẫn Tử, thầy Tử Lộ… mà thế hệ chúng ta
được học từ tiểu học, còn một số gương sáng ngời có thể ít người biết đến,
như trong truyện Kiều có hai câu thơ thuyết minh:
Dâng thơ đã hẹn nàng Oanh
Lại thua ả Lý bán mình hay sao?
Đời Hán có nàng Đề Oanh là con gái Thuần Vu Ý làm quan phạm tội cung
hình. Nàng dâng thư lên vua Hán Văn Đế xin chuộc tội cho cha. Vua cảm lòng
hiếu của nàng mà tha tội cho cha.
Trong thiền môn, với tâm chơn thuần trong sáng, qua nhân cách đối đãi
giữa tình thầy trò, vị trưởng lão đại lao cho vị trụ trì đi châm nước pha
trà, dọn trái cây đãi khách. Đệ tử dụng công tu học với chí nguyện tục diệm
truyền đăng báo đáp thâm ân.
Anh nhi hạnh, là danh từ nói nôm na để diễn tả về những lời nói, những
hành vi cử chỉ của trẻ con; còn người lớn mà vẫn bảo trì được tâm hồn sống
vô tư hồn nhiên của trẻ con, tức biểu hiện người đó hằng sống với tâm hồn
trong sáng chơn thuần. Sống với tâm hồn trong sáng thuần chân như vậy, nếu
là vị quan trưởng sẽ tận tuỵ làm tốt vai trò, chức năng của vị quan trưởng;
nếu là vị gia trưởng sẽ dốc lòng vì gia đình, vì sự nghiệp hiện tại và
tương lai của con em mà không ngừng trau dồi nhân cách và cống hiến. Từ
những sự kiện hiện thực thuyết minh trên để đưa ra kết luận, thì “Anh nhi
hạnh, tức tâm hồn trẻ con ” đó chính là “ bồ đề tâm” vốn có cần được phát
huy ở mỗi chúng ta!
觀自在的意義
Người người đều có “ đức Quán tự
tại”, cần gì phải nhọc công viễn cầu tha phương ? Đức quán tự tại đó là
ai?
「Quán
tự tại」là một trong những danh hiệu của đức Quán Thế Âm bồ tát. Danh hiệu
đó mang ý nghĩa rằng : chỉ cần bạn biết quán chiếu chính mình, nhận ra
được chính mình rõ ràng , thì ngay giờ phút đó chính bạn đã thành tựu được
tự tại rồi.
Điển
dụ như trong mối quan hệ tương giao, nếu bạn đủ năng lực quán chiếu đến
trình độ giữa mình và người 「nhân ngã không hai」 thì có điều gì là không
tự tại? Rồi khi quán chiếu cảnh giới mà tâm bạn không những không bị ngoại
cảnh lôi cuốn chỉ đạo, mà còn khéo biết làm chủ tâm mình, khiến chuyển hóa
được cảnh giới trở nên tốt đẹp hơn, thì thử hỏi có cảnh nào là cảnh khiến
cho bạn không tự tại? Đối diện bất luận sự việc nào, cho du ølà sự tình
phức tạp rối rắm đến đâu, nhưng nếu bạn biết nhìn nó với cái nhìn thư thái
đơn giản thì có việc gì là việc khiến cho bạn không tự tại? Chúng ta quán
chiếu tư duy và vận hành được đạo lý’’Bình thường tâm thị đạo” trên bất
luận tình huống đối đãi, thì đạo lý huyền diệu thậm thâm kia sẽ mở rộng
cửa đưa chúng ta vào thế giới nội tâm huyền diệu. Và rất tự nhiên chúng ta
sẽ hiểu rõ rằng :
Tự
tại, tự tại! Tự tại nơi nơi cầu; Chỉ cần tâm mình tự tại thì tất cả mọi
cảnh tình, mọi sự lý tự nhiên sẽ trở thành tự tại thôi
Cuộc
sống ở đời, nếu có tiền của mà đời sống không được tự tại thì cuộc sống đó
có gì đáng an vui ! Thế nhưng, cuộc sống con người trên thế gian, 「 cái có
kia」thông thường chỉ là「cái có chướng ngại」,「có buồn phiền.」Do vậy, có rất
nhiều người tiền của có đến vàng kho bạc bể, giàu có đến nỗi thân tâm bất
tự tại, luôn sống trong sự phập phồng lo sợ; cho đến có gia đình, có ái
tình, có danh vị chức tước, nhưng cuộc sống của những cái có đó vẫn luôn
luôn là cuộc sống nô lệ, không tự tại. Bởi vì con người đó chỉ biết tầm
cầu, chạy đuổi nắm bắt lấy cái「cóù của dục vọng , của vọng tưởng điên đảo.
Những
nhân vật có quyền lợi chính trị, khi đối đầu với những vấn đề gay cấn,
thường chỉ biết bứt đầu gãi tai, biểu hiện dáng vẻ bất an , thống khổ.
Người có cơ sở công ty đồ sộ, nhưng khi tiền tài lưu chuyển không linh
hoạt thì tâm trí xáo động đến ăn không ngon , ngủ không yên, thần sắc bơ
phờ, cho đến đứng ngồicùng không một dáng an nhiên tự tại.
Trong
cuộc sống thế gian, nếu Chúng ta vừa có được tài phú danh vị, lại vừa có
được cuộc sống tự tại thì đương nhiên đó là cuộc sống lý tưởng tuyệt vời!
Bằng ngược lại, nếu chỉ thành đạt được cái danh lợi vật chất thế gian , mà
tâm hồn không một phân tự tại, thì thử hỏi cuộc sống ấy có vững bền? Có an
lạc hạnh phúc? Và đời người ấy có ý nghĩa gì chăng?
Chúng
ta hồi đầu nhìn lại xem, khi còn ở độ tuổi ấu thơ, thường là có cha mẹ
quản giáo, chúng cho rằng không được tự tại. Đến lúc thành niên lập gia
đình, thọ nhận sự đòi hỏi của đôi bên nội ngoại, liền cảm thấy như bị trăm
ngàn sợi dây vô hình gò bó, trói buột, không tự tại. Rồi khi trưởng thành,
phục vụ xã hội với các loại hình chức nghiệp lại cảm thấy biết bao điều
phức tạp phiền toái, không xứng ý hợp tình, khiến thân tâm tràn đầy nỗi
bức xúc, không phút giây thanh thản.
Từ đó mà
suy, thành tựu cuộc sống ý nghĩa không ngoài bình nhâït sinh hoạt biết nắm
bắt kỹ năng hỷ xả, buông xả, tôi luyện mình phong thái thân tâm tự tại.
Đứng
trước nhân ngã, thị phi, bạn giữ đượcthân tâm tự tại? Đứng trước danh lợi
phú quý chúng ta vẫn bảo trì được tâm an tĩnh, tự tại? Hoặc đứng trước
sanh lão bệnh tử liệu chúng ta có đủ sức giữ vững tâm thái an nhiên tự
tại?
Trong
cuộc sống, nếu tâm trí chúng ta không thường tồn an tĩnh tự tại, thì cho
dù sự nghiệp có nhiều, tiền muôn của núi đi nữa, cũng chỉ la øgia tăng
thêm sự trói buột mà thôi! Lại nữa, nếu đứng trước tám ngọn gió : tán
dương ca tụng, hiềm khích, huỷ báng , danh dự, lợi dưỡng , suy tàn khổ đau
và khoái lạc kia quyến rũ, thổi lốc độc hại mà tâm chúng ta vẫn không bị
lay động thì rất tự nhiên mà nói, chúng ta đã thành tựu được đức hạnh tự
tại giải thoát rồi. Và ngay lúc đó chẳng phải chính mình là đức 『Quán tự
tại』đó sao!
12 câu hỏi về cuộc đời^
人生12問
Làm người, chúng ta cần phải thời khắc tự mình phản tỉnh lấy chính mình,
mới có đủ năng lực tu bồi đức hạnh, tiến tu đạo nghiệp. Dưới đây là 12 vấn
đề mà chúng ta cần nên tư duy phản tỉnh tự hỏi lấy chính mình.
1-Mình sanh ra trên thế gian này, mình đã từng thành tựu được những gì có
lợi ích cho nhân thế?
2-Đối với ân đức của các bậc thầy tổ, cha mẹ; mình đã tận tâm, tận lực báo
đáp?
3-Mình đã thọ nhận của thế gian biết bao nhiêu là thiện duyên hỗ
tương dưỡng dục; mình đã hồi đáp được bao nhiêu?
4-Đối với các bậc thầy tổ, quyến thuộc bạn bè, xã hộiv.v… mình có thiếu nợ
họ chăng?
5-Thế gian cung cấp cho mình vật thực, quần áo, nhà ở, dụng cụ,
thuốc thang, học hành….mình cần nên có bổn phận đền đáp như thế nào?
6-Tự mình có thấu suốt được nguồn gốc nhân duyên bản lai diện mục
của chính mình, khi sanh ra ta từ đâu đến, và khi hết duyên ở thế, từ giã
cõi đời ta sẽ đi về đâu? và ta ra đi với thú hướng, sự nghiệp như thế nào?
7-Mình có từng lắng tâm quán sát thế giới nội tâm của chính mình và
đếm chính xác mỗi ngày bao nhiêu lần mình trôi lăn, lặn hụp, bay nhảy trong
trong các cảnh giới tam đồ, lục đạo của thiên đường, địa ngục, ngạ quỷ, súc
sanh?
8-Mình có thể kiểm soát rõ về chính mình trong sinh hoạt mỗi ngày
đối mặt với các bệnh dịch độc nhiễm tham sân, si, mạn, nghi, ác kiến…mình
làm thế nào để hóa giải trị liệu?
9-Mình ngày ngày có hằng sống với thức tâm tỉnh cảnh giác ba nghiêp
của chính mình? Mỗi lần cảnh tỉnh điều gì?
10- Vận chuyển giũa dòng sống thế nhân, chúng ta cần nên làm những gì
để có được cuộc sống vui tươi tự tại?
11- Mình cần phải ứng phó thế nào để tiêu trừ phiền não, phá tan vô
minh, tìm về chân tâm bản tánh?
12- Mình cần phải có chương trình kiến tạo tư lương và sắp đặt như thế
nào cho cuộc sống của chính mình trong hiện tại và trong mai hậu?
Trên là 12 vấn đề về cuộc sống con người, bao gồm các vấn đề giữa mình và
người, giữa mình và xã hội, giữa mình và quốc gia.
Thông thường chúng ta mỗi ngày chỉ suy nghĩ đến lợi ích cho riêng mình,
rất ít quan tâm đến phúc lợi của người khác. Do bởi chúng ta thường đem cái
tự ngã kiến lập trên quốc gia xã hội mà tạo nên nhiều tệ hại, rồi khi gặp
điểm khó khăn, trắc trở, trước không chịu kiểm điểm lấy chính mình, mà lại
oán trời trách đất và đổ lỗi cho người; thậm chí là oán trách vận mệnh đen
tối đưa đẩy, chứ không biết những trắc trở kia là do chính tư tưởng hành vi
bất chánh đang cư trú trong nội tâm của chính mình tạo nên, do vậy phải lặn
hụp trong cuộc sống phiền não, lo âu, buồn khổ.
Lục tổ Huệ Năng thường khuyến cáo các môn đồ: ”Vận tốt, tâm tốt sớm
phát đạt vinh hoa. Tâm tốt, vận không tốt, đời sớng vẫn ấm no hạnh phúc. Vận
tốt, tâm không tốt, e rằng không thể đảm bảo được tiền trình cuộc sống. Tâm,
vận đều không tốt thì cả một đời nhận chịu sự khổ cực, nghèo cùng “. Châu
Lợi Bàøn Đà Già sanh tánh ngu muội. Do biết thành tâm khẩn cầu sám hối nhũng
chướng nghiệp tội trong qúa khứ; đồng thời nỗ lực hành trì lời Phật giáo
huấn mà cuối cùng ông đã thành tựu được đạo qủa. Còn Đề Bà Đạt Đa vốn được
sanh ra trong dòng quý tộc vương tử, nhưng do tâm nổi tham dục lợi dưỡng,
phá tăng hại Phật mà cuối cùng phải nhận lấy ác qủa đọa vô gián địa ngục.
Do vậy, bậc thánh nhân nó rằng, quán nhìn việc xưa mà đoán biết được việc
hiện tại; bất luận là khoa học kỹ thuật tiến bộ đến đâu, chúng ta vẫn cần
phải tự mình đặt yêu cầu cho chính mình, kiện toàn cho chính mình mới bảo
đẳm được sự sanh tồn. Lại nữa “Phản quan tự kỷ”û, hằng sống với thức tâm
tỉnh giác, chăm bón thiện duyên, làviệc không thể thiếu để cất bước hướng
vào cảnh giới an lạc giải thoát!
Tầm quan trọng của sự hít thở^
(呼吸的重要)
Trong kinh "Tứ Thập Nhị
Chương"đức Phật hỏi đệ tử “sanh
mạng con người sống trong bao lâu? ---Có vị Tỳø kheo đáp:
"Sanh
mạng con người sống trong vài năm".Tiếp
đó có vị đáp: "Trong một ngày".
Cũng có vị trả lời: "Trong một
bữa ăn."Cuối cùng đức Phật đưa
ra đúc kết: "sanh mạng của con
người nằm trong hơi thở".
Sanh mạng con người rất là quý giá. Sự quý giá đó được kiến lập trong
hơi thở ngắn ngủi, tạm thời. Điều đó đã chứng minh được tầm quan trọng của
hơi thở là như thế nào!
Khi có ánh sáng mặt trời chiếu soi, chúng ta thường không chú trọng
đến tầm quan trọng của mặt trời. Khi có dòng nước chảy, chúng ta cũng không
biết được một giọt nước có giá trị quý báu như thế nào? Cũng vậy, khi chúng
ta còn có thể hít vào thở ra, thường không ai biết nghĩ đến sự hít thở có
tầm quan trọng quý giá như thế nào! Con người chúng ta một khi không thể hít
vào thở ra được nũa, thì tất cả mọi tiền tài của báu, danh lợi, địa vị, cho
đến thân bằng quyến thuộc đối với chúng ta có gì là quan trọng, có gì quý
giá?
Khi hơi thở còn hoạt động, thì các cảm quan của chúng tanhư mắt có thể
nhìn; tai có thể nghe, tay chân có thể cử động làm việc; miệng lưỡi có thể
nói chuyện, ăn uống v.v… Nhưng một khi hơi thở không còn tồn tại nữa, thì
tất cả tai, mắt, mũi, lưỡi, thân thể…sẽ không còn công dụng gì nữa! Thế nên
sanh mạng con người tồn tại khi hơi thở còn khả năng hoạt động!
Trên cơ thể chúng ta, các bộ phận cảm quan mắt, tai, mũi, lưỡi, thân đều
có công năng hoạt động riêng của chúng, nhưng hơi thở có thể thay thế các
cảm quan triệu tập tất cả công dụng.
Sự hít thở có công năng rất rông lớn và rất linh hoạt. Đôi mắt chỉ dùng
để nhìn ngắm mà thôi, nhưng sự hít thở có thể cảm nhận được thật sâu sắc
trước những hoàn cảnh khác nhau. Lỗ tai là chỉ dùng để nghe, còn sự hít thở
có thể cảm thính được sự khác lạ của nhân tình âm thanh lạnh nhạt hay nồng
nhiệt ấm áp. Ngoài ra sự hít thở có thểù thể nghiệm được sự biến hoá của
ngoại cảnh, cũng có thể cảm nhận được những nội quán tâm địa. Sự hít thở
giúp chúng ta cảm nhận được chính mình đang sống với tâm hồn tự tại, thanh
thản, sảng khoái cho nên hơi thở thênh thênh nhẹ nhẹ; Và sự hít thở cũng
có lúc cảm nhận được chính mình bị đả kích bởi sức ép vô hạn, cho nên hơi
thở hổn hển, ngắn gấp.
Sự hít thở biểu thị cho sanh mạng của chính mình là một cơ cấu hoạt
động tứ thông bát đạt. Đồng thời thông qua sự hít thở sâu chậm, ngắn dài mà
chúng ta có thể cảm nhận được sự trường đoản của sanh mạng. Ngoài ra, sự
hít thở còn có năng lực cảm sát được bầu không khí trong sạch hay ô nhiễm.
Do vậy bảo hộ môi trường hô hấp chính là bảo hộ sanh mạng của chính mình.
Hít thở là một trong những pháp môn tu tập thiền định, điều chỉnh sanh
mạng, tịnh hoá thân tâm. Từ hơi thở vào, thở ra chúng ta có thể biết được
trang thái hoạt động tâm thức của chính mình. Khí tthở thô nặng, thì nhất
định là tâm mình không được an tĩnh; Nếu khí thở thông nhuận, thì chắc chắn
là tâm mình đang trong trạng thái hài hòa, mềm diệu. Vì vậy trong các thiền
viện, không ngừng vận dụng pháp môn quán sổ tức để hướng dẫn các hành giả tu
tập.
Chúng ta sanh tồn trên thế gian, trân quý sanh mạng cần phải trân quý
hơi thở. Khi hơi thở còn tồn tại, chúng ta cần phải tận tâm tận lực làm tròn
trách nhiệm, làm tròn tâm nguyện của mình đối với nhân gian. Nhũng điều gì
cần nên phụng hiến cho quốc gia xã hội; phụng hiến cho cha mẹ, vợ con, thân
bằng quyến thuộc thì ngay khi hơi thở còn hoạt động, chúng ta hãy mau chóng
xử lý cho thỏa đáng. Và khi hơi thở còn khoẻ mạnh, chúng ta không quên mau
chóng rộng kết thiện duyên, bởi lẽ thế gian vô thường, tấn tốc không hẹn
cùng người.
Tương lai so với quá khứ tốt
đẹp hơn^
未來比過去美好
Phàm làm
người, chúng ta thường có tập tánh hoài nhớ chuyện ký ức quá khứ , liệt ví
như người cung nữ mặc dù hiện đang sống trong độ tuổi xế chiều, nhưng lòng
luôn hoài nhớ chuyện quá khứ khi mình được đức quân vương tuyển chọn vào
cung. Điều đó biểu thị quá khứ tốt đẹp hơn hiện tại;thế nhưng tuế nguyệt
không bao giờ dừng lại đợi người. Chuyện quá khứ chung cuộc đã trở thành là
chuyện đã qua, cảnh đã biến chuyển. Aùnh tịch dương cho dù vô hạn rực rỡ,
nhưng không thể vượt vòng quy luật chu kỳ thời gian, cho nên theo sự vận
chuyển, ánh thái dương rực rỡ kia sẽ tiếp cận với hoàng hôn. Vì vậy, chúng
ta không nên để cuộc sống cứ mãi trầm nịch trong hồi ức qúa khứ, mà chúng ta
cần nên để tầm mắt hướng nhìn về tương lai, thì mới có thể nhìn được cao,
nhìn được xa. Bởi vì có vọng hướng nhìn ra được tương lai thì cuộc sống mới
có niềm tin yêu hy vọng.
Có một con
chó nhỏ, cả ngày truy đuổi tầm bắt lấy cái đuôi be bé xinh xinh của chính
mình, nó cứ chạy xoay vòng với cái đuôi của nó. Con chó lớn nhìn thấy vậy,
không ngăn được hiếu kỳ, liền hỏi nguyên nhân. Chú chó nhỏ đáp:「Ồ! Chẳng lẽ
bác không nghe nói đến nguồn hạnh phúc của con chó nhỏ chúng mình là ở trên
cái đuôisao! Em chạy vòng vòng đuổi theo cái đuôi là để truy tầm hạnh phúc,
lẽ nào bác không mong cầu hạnh phúc?」
Bác chó
già đáp: 「Tôi chỉ biết và chỉ cần nỗ lực hường về phía trước mà tiến bước,
hạnh phúc chắc chắn sẽ ở ngay sau bước chân tôi.」
Cũng vậy,
chúng ta cần nên sống với niềm tin yêu hy vọng ở ngay trong đời sống hiện
tại và tương lai, không nên cứ mãi trầm đắm trong cái hồi ức của thời quá
khứ; bởi vì cuộc sống tương lai so với cuộc sống quá khứ sẽ tốt đẹp, trong
sáng hơn. Vả lại, có tương lai mới có nguồn hy vọng vô biên.
Chúng ta
sống trên cõi đời này, khó mà tránh được mọi thuận cảnh, nghịch cảnh. Lúc
thuận cảnh nên thanh đạm vững bước hướng tiến; khi nghịch cảnh cần nên nhẫn,
chỉ cần nhẫn được qua, thì tất cả mọi tình huống không thuận lợi sẽ tự nhiên
theo cùng thời gian trôi đi. Lại nữa, sự việc thất bại ở hiện tại, chính là
lực lượng kinh nghiệm tô bồi cho sự nghiệp tương lai trên mọi mặt được thành
công, trong sáng tốt đẹp hơn, như các bậc cổ đức thường nói:” Thất bại là mẹ
thành công “ Do vậy, chúng ta chỉ cần khắc cốt ghi tâm, nhớ lấy những điều
giáo huấn của các bậc hiền đức của quá khứ để cải tiến cuộc sống hiện tại.
Chỉ cần chúng ta chịu cùng người rộng kết thiện duyên thì sẽ có đời sống
tương lai tươi sáng vô hạn.
Căn cứ
trên giáo lý Phật giáo về nhân qủa ba đời mà nhìn, thì sanh mạng này không
phải chỉ có một đời. Do có quá khứ, mới có hiện tại; Do có hiện tại mới có
vị lai. Do có vị lai mới có ba đời, và do có ba đời mới có hy vọng. Chúng ta
sanh tồn trên thế gian, chỉ cần sống với niềm tin yêu hy vọng thì cuộc sống
của ngày mai sẽ càng tươi sáng hơn, như Tổ tiên ta thường nói:” Sau cơn mưa
trời lại sáng”.
Cuộc sống
thành bại, khó mà định luận được. Nhưng mà, Chúng ta trên công việc làm có
thể thất bại, nhưng không thể làm người thất bại; Quá khứ có thể thất bại,
song không thể thất bại trong tương lai; cho đến sự thành tựu trong quá khứ
bất kể là huy hoàng đến đâu, cũng không thể luận định vinh quang của quá
khứ, là thành tựu vĩnh cữu. Sự thành tựu cuộc sống hiện tại mới là quan
trọng ; bởi vì một sát na qua đi, hiện tại đã nhanh chóng trở thành quá khứ,
và tiếp đó lại có một hiện tại mới khác. Do vậy, cuộc sống của đời người,
chúng ta không nên dừng lại trong sự tự mãn ở bất cứ một góc sắc nào, mà nên
y trên nguyên tắc của thiện mỹ không ngừng cải tiến, không ngừng thông biến
thì tương lai so với quá khứ tất nhiên bội phần trong sáng tốt đẹp.
Nguyên
nhân của người không tiến bộ được là ở điểm, người đó luôn luôn tự mình cô
lập mình trong cái nhìn hạn hẹp; không dám tự mình đột phá những gút mắc
trói buột, hoặc những bế tắc của quá khứ, lại tự mình không chịu tự mình cầu
tiến, mà chỉ mải mê lịm đắm trong những sự kiện của hồi ức quá khứ nung đốt;
người khác tận lòng cứu giúp cũng vô phương. Do vậy, trên cuộc sống nhân
thế, cho dù có rất nhiều thành tựu; những thành tựu đó có phong quang lẫm
liệt đến đâu cũng sẽ không ngừng cùng thời gian vần vũ trôi vào quá khứ. Như
vậy, thử hỏi, nếu chỉ dừng lại nơi cái hồi ức quá khứ đó, cuộc sống có được
giá trị? Nếu chúng ta biết quán chiếu chăm sóc thân tâm mình sống đúng, sống
hợp với cuộc sống hiện tại, chính là đãõ chăm bón tư lương cho sự nghiệp
tương lai sáng lạng hơn qúa khứ. Điều đó là pháp lý chân thật tự nhiên,
không một tơ kẽ hoài nghi.
Nghèo cùng và giàu có
^
(貧窮與富有)
Nghèo cùng và giàu có là hai danh từ nói về hai thân phận đối đãi. Phần
lớn trong nhận thức của con người đều cho rằng: người nghèo cùng thì không
có cái giàu có hiện hữu, và ngược lại, giàu có thì không có cái nghèo cùng
hiện hữu. Kỳ thật không phải như vậy. Trên thế gian, sự ngèo giàu thật khó
phân định. Người giàu vẫn có chỗ nghèo thiếu, và người nghèo khó vẫn có cái
phú quý ẩn tàng.
Nhan Hồi ở nơi đường cùng góc hẻm, nhà nát vách thưa, cơm ngày một chén
chan với nước trong, nhưng trong lòng sung mãn an lạc. Như vậy ai dám kết
luận ông ta là người nghèo cùng? Ngài Đại Ca Diếp tôn giả ở chốn đồi trọc
suối cạn, ngoại trừ ba y, bình bát, cơm ngày một bữa ra, một vật lớn nhỏ nào
cũng không có. Thế nhưng, ngài vẫn sống một đời sống tự tại giải thoát.
Chúng ta ai dám cho rằng tôn giả là người nghèo cùng? Phản quan mà nhìn,
ngày nay người ở nhà cao tầng, có kẻ hầu người hạ, cơm dâng nước rót đến
tận miệng. Muốn đi đâu cũng có người đưa kẻ đón, nhưng ngày ngày bị đồng
tiền chế ngự tất bật, không một phút giây thanh thản. Hạng người đó đáng gọi
là người giàu có chăng? Người đó mặc dù nguồn vốn vật chất, họ luôn luôn có
đến bạc kho vàng núi; nhà cửa ruộng vườn bạt ngàn đến cò bay mỏi cánh, nhưng
tâm lượng nhỏ nhoi, keo kiệt; một đồng xu nhỏ cũng không dám buông xả. Lòng
tham không đáy, khiến cho tâm ý con người đó thời thời khắc khắc chỉ biết
nghĩ đến thâu góp, mà thâu góp bao nhiêu cũng vẫn cảm thấy không đủ. Bạn có
cho rằng hạng người này là giàu có chăng? Giữa hai hạng người trên, ai là
người chân thật giàu có, và ai là người chân thật nghèo cùng? Từ đó mà suy
cho cùng thì sự giàu nghèo không thể lấy kim tiền vật chất để đo lường.
Trên thế gian có hạng người mặc dù cuộc sống chật vật, nhưng luôn luôn lấy
việc công ích làm vui, lòng họ luôn luôn rộng mở vui vẻ giúp đỡ, bố thí cho
người khác. Hạng người này trên mặt sống tinh thần, so cho cùng chẳng phải
là hạng “đại phú ông” sao? Ngược lại, hạng người trọn ngày đêm chỉ biết
tham đồ lợi ích của người khác. Với lòng tham không đáy, không những không
ngừng cầu mong tài vật có thêm nhiều. Phàm có chỗ được nào thì luôn luôn
muốn chiếm làm của riêng mình, hạng người như vậy tâm linh nghèo cùng bút
mực nào tả xiết?
Kỳ thật, dựa trên quan điểm Phật giáo mà nhìn thì, trên thế gian vốn
không có người nào là tột cùng nghèo khó. Nếu chúng ta sống với tâm hồn vô
tư, biết vận dụng thời gian và không gian đi làm việc nhân nghĩa, giúp ích
người khác, quảng kết thiện duyên; tất nhiên thời gian đó là thời gian hữu
ích phú quý. Hoặc bạn biết khéo sử dụng ngôn từ chân thậït thiện mỹ tán thán
chỗ tốt của người, cổ vũ khích lệ người làm việc tốt; tất nhiên bạn sẽ là
người giàu có ngôn ngữ, phong phú âm thanh. Hoặc bạn biết lấy nụ cười chân
thiện khiêm cung hoan hỷ đối đãi tha nhân, thì nội tâm bạn vốn đã sanh
trưởng của báu vô giá. Hoặc giả bạn biết vận dụng sức lực mình đi giúp đỡ
người, phục vụ chúng dân. Đó chẳng phải là bạn đã có nguồn khí lực sung túc
chân thật sao? Thế nên luận về sự giàu nghèo thì, tâm tham không biết đủ,
vĩnh viễn là người nghèo cùng. Vui làm việc thiện nghĩa không một tơ hào so
đo tính toán thiệt hơn, vĩnh viễn là người giàu có.
Khi nói đến tài phú, không thể chỉ nhìn cái tài phú trong nhất thời, mà
phải nhìn cho ra cái tài phú trong suốt cả cuộc sống thực hữu. Cũng không
nên chỉ nhìn cái tài phú của một người, mà phải nhìn cái tài phú từ sự cộng
hữu. Và nhất là không nên nhìn cái tài phú do sự vơ vét của người khác, mà
cần phải nhìn xác thật sự hoạt dụng tài phú đó. Đồng thời cũng không nên
nhìn cái tài phú trên hình tướng, mà cần phải nhìn cái tài phú vô tướng của
nội tâm.
Người chân thật có trí tuệ, có từ bi tâm, có chánh tín, có tâm hoan hỷ,
biết sống thiểu dục tri túc với tâm tàm quý…Những đức tánh ấy, chính là
nguồn tài phú vô giá của mỗi chúng ta. Kinh Kim Cang đức Phật dạy rằng: “Nếu
chúng ta biết lấy bốn câu kệ :
“Chư hành vô thường
Chư pháp vô ngã
Sanh diệt diệc dĩ
Tịch diệt vi lạc “.
Tinh cần tư duy quán chiếu và thực dụng vào đời sống thường nhật, đồng thời
đem bốn lời kệ ấy cùng người rộng kết duyên pháp, giảng giải, hướng dẫn
người cùng tu tập chánh pháp, thành tựu giác ngộ, giải thoát thì công đức
pháp thí đó rộng lớn muôn vàn so với công đức bố thí tài vật mà thế gian cho
là qúy giá như vàng bạc, ngọc ngà, châu báu. Vì vậy, giàu có và nghèo cùng
chúng ta nên như vậy mà quán sát!
VÔ TÌNH NÓI PHÁP^
無情說法
Đại địa,
sơn hà sum la vạn tượng có thể phân làm hai loại: Hữu tình và vô tình.
Hữu tình
là chỉ chung cho tất cả các loài có sanh mạng được kết tinh từ tình dục và
có tình thức như con người và các loài động vật. Vô tình là nói về sơn hà
đại địa: núisông, thác gềnh, sỏi đá, gạch ngói, các loài thực vật, cây cỏ,
hoa lá .vv…
Thông
thường loài có tình thức dùng âm thanh của mình để diễn đạt sự tình, chúng
ta đều có thể nghe và hiểu được một cách dễ dàng, thông suốt. Còn loài vô
tình nói pháp, với âm điệu trong suốt uyển chuyển tự nhiên sống động và bằng
âm thanh vô ngôn mỹ diệu biểu lộ chân thật mọi tình tiết sự lý của nội tại
và ngoại cảnh hiên thực mà chỉ những ai biết tĩnh lặng lắng nghe mới thấu
triệt được âm thanh vi diệu đó.
“ Sanh
Công nói pháp, ngoan thạch điểm đầu” là một trong trong những pháp thoại
điển chứng để người đọc tư duy. Nghe qua lời pháp thoạïi này, chúng ta không
thể một chiều nhất định cho rằng chỉ có“ Ngài Sanh Công nói pháp”, màđứng
trên mặt hỗ tương để nhìn thì có thể nói rằng “ngoạn thạch(tức tảng đá)cũng
đang nói pháp, vì ngoạn thạch nếu không biết nói pháp thì làm sao biết <gật
đầu?>.
Trời xanh mây trắng nhẹ bay
Sóng nước vỗ bờ vẫy gọi tình nhân.
Đó chẳng
phải là mây trắng đang cùng chúng ta thuyết bài pháp:”tự tánh tiêu dao đến
đi , hợp tan tự tại”; biển hồ sông nước cuồn cuộn hay dạt dào trôi chảy tỏ
tình là đang cùng thế nhân thuyết bài pháp về:”bản thể nhậm vận tự tánh tuỳ
duyên khởi” của vạn pháp?
Bạn xem
kìa, xuân đến, thu đi năm tháng tựa thoi đưa; hoa kia sớm nở, tối tàn; rồi
lá từ xanh trở úa vàng rơi rụng…Đó chẳng phải là đại tự nhiên đang thâu qua
sự đổi thaycủa trình tự thời gian mà hướng về chúng ta thuyết bài pháp: “Thế
sự vô thường” .
Loài hữu
tình nói pháp, chúng ta có thể dùng tai để nghe, Nhưng loài vô tình nói pháp
thì cần phải dùng tâm để lĩnh hội. Thật ra trong cuộc sống của chúng ta, sum
la vạn tượng, sơn hà đại địa không một vật nào là không cùng chúng ta nói
pháp. Hoa xuân, thu nguyệt cố nhiên khiến lòng người khởi khúc hoan ca; chim
ca, trùng gáy rung cảm lòng người gợi nhớ cố hương.Trà “Triệu Châu”, bánh
“Vân Môn” đều làđang cùng thiền sư Triệu Châu và thiền sư Vân Môn thuyết
thiền thoại. Sớm tối nhị thời, tiếng chuông, tiếng mõ, tiếng khánh, tiếng
trống chẳng phải là đang cùng chúng ta khai thị”Tiếng huyền diệu củûa chơn
tâm?”
Cho đến
các hiện tượng đất động, núi lay cũng là đang cùng chúng ta nói bài
pháp”Quốc độ nguy thuý”(tức đất nước không vĩnh cữu kiên định, bình an.)Trăm
hoa đua nở thi sắc khoe hương, rồi héo úa tàn tạ. Đó là thế giới tự nhiên
đang cùng chúng ta nói bài pháp về “Chư hành vô thường; chư pháp vô ngã”Súng
đạn, đao kiếm cũng đều là biểu thị “Sanh mạng khổ không”. Và sanh, lão,
bệnh, tử đều là thuyết minh “Thân vốn là gội khổ”
Trong cuộc
sống sinh hoạt hàng ngày của chúng ta từ ăn mặc, nhà ở, học hành, làm việc,
đi đứng nằm ngồi, cho đến các hiện tượng thành、 trụ、 hoại、không; sanh、 trụ、
dị、 diệt…chẳng phải là thế giới vô tình đang hiện thân cùng thế nhân nói
pháp?
Câu
chuyện thiền học ly kỳ kể rằng, vị thiền sư dựng đứng cây phất trần lên hỏi:
-Bạn có hiểu không?” Nếu bạn hiểu được ý nghĩa của cây phất trần dựng đứng ,
tức là bạn đã khai ngộ rồi! Sau đó, thiền sư lại chỉ cây tùng bách trước sân
chùa hỏi:”Bạn có hiểu gì không?” Nếu bạn thấu hiểu được pháp âm vi diệu của
chúng thì đương thời bạn là vị thiền sư đạt ngộ. Nhưng đáng tiếc thay, sự
hồi thanh của không gian trong hang cốc, sự hồi âm của thế giới tự nhiên đó,
loài người chúng ta hiếm ai thấu hiểu được.
Đói ăn,
khát uống, mệt ngủ nghỉ…chính là bài thuyết pháp sinh động về cuộc sống; “Bố
thí vô tướng”, “Độ sanh vô ngã” là lời nói pháp của bậc thượng thừa. Nếu như
chúng ta ngoài cái hiểu được âm thanh nói pháp của loài hữu tình ra, nếu
biết đem tâm mình hòa nhập vào thế giới của loài vô tình để lắng nghe âm
thanh vi diệu của loài vô tình thì có việc đại sự nào là không giải quyết
được!
Các bạn
đọc thông minh thân mến, bạn có tâm nguyện chuyển mê thành ngộ chăng?
Hồi đầu thị ngạn^
回頭轉身
“‘’Hồi đầu thị ngạn”(quay
đầu lại là đến bờ) là câu danh
ngôn cảnh thế của bậc cổ đức. Sách có câu:”Lãng tử hồi đầu kim bất hoán”,
nghĩa là người lang bạt hư đốn đến tầm cỡ nào, nếu biết hồi tâm thức tỉnh,
ăn năn hối cải thì phẩm chất đạo đức của người đó vẫn trở lại nguyên thể
trong sáng, cao thượng. Làm người nếu không nhìn thấy rõ được lộ trình tiền
đồ của chính mình, thì chẳng khác nào như người mù đang hướng về phía trước
quờ quạng, dò dẫm đường đi. Tình trạng đó, kết qủa nếu không phải va đụng
vào tường vách khiến bể đầu chảy máu, thì cũng là rơi hầm lọt hố mà bị tán
thân mất mạng. Thế nên, hiểu được ý nghĩa “Hồi đầu thị ngạn” là điều rất
quan trọng.
Trên lộ trình du lịch của đời người, nơi nơi chốn chốn giăng mắc dãy
đầy những cám dỗ, những mê hoặc, những cạm bẫy tròng hại người. Trên đường
đi ấy, nếu chúng ta cứ lầm lũi dấn thân theo những cám dỗ của dục lạc, mà
không một phút dừng nghỉ, quay đầu nhìn lại với sự hồi tâm tỉnh giác của
chính mình, thì khó lòng tránh khỏi thảm cảnh bị sa vào cạm bẫy, vạn kiếp
không thoát ra được. Sắc vốn không mê hoặc người, mà người tự mê đắm sắc.
Và tửu nào có cám dỗ người, màdo người tự tham say tửu. Thế nên đứng trước
trước tửu sắc chúng ta cần phải phải biết “Hồi đầu thị ngạn”, tức phải biết
thức tâm cảnh giác, nhìn cho rõ sự nguy hại cuả tâm tham dục trước ái tình
sắc dục kia.
Đứng trước tiền tài, danh lợi, địa vị quan cao lộc hậu, tâm tham ngự trị,
chìm đắm trong sự hưởng thụ; nào biết được danh xiềng, lợi xích đã gông trói
biết bao anh hùng hảo hán khiến trọn phần cuộc đời bị mất tụ do, tự tại?
Cuộc sống thế gian, trước mặt chúng ta chỉ có một nửa thế giới. Nếu
hiểu biết “Hồi đầu thị ngạn” thì nhãn quang mới có đủ năng lượng kiến tri
thức để nhìn thấu suốt nửa thế giới còn lại kia. Nửa thế giới trước mặt chỉ
là một cửa chật hẹp mà đa phần con người chúng ta đều hướng về cái cửa chật
hẹp đó để truy vọng tầm danh, đương nhiên phải chen lấn đến bể đầu chảy máu.
Do đó, nếu biết quay đầu nhìn vào nửa thế giới phía sau kia không người
tranh chấp, tỵ hiềm, không người cướp bóc, tham ô. Thế giới đó thêng thang
biết bao, tự do, tự tại biết bao!!!
Thế gian này biển khổ vô biên, cuộc sống của đời người không những cần
phải biết “quay đầu để lên bờ”mà còn phải biết khéo “chuyển thân” nghĩa làø
khi đã lên được đến bờ rồi thì cần phải biết chuyển hóa bước chân theo con
đường chánh đạo. Đó là điều kiện cần yếu cuả cuộc đời! Con người chúng ta
thường hay bị thế sự bức ép đến chết ở một góc; thường là do từ chỗ hoài
niệm nhân tình mà bị mắc vào cạm bẫy hầm hố. Do vậy, nếu chúng ta hiểu và
hành được pháp “hồi đầu” và “chuyển thân”, tức là đã dự lưu cho chính mình
một điểm không gian cuộc sống quan trọng biết bao!
Cũng vậy, người lái xe hơi trước phải biết dự liệu tư thế lái như thế
nào để quẹo đường cong? Trên lộ trình hai chiều, giữa dòng người lên lên
xuống xuống, qua qua lại lại, người và người chạm nhau, cần nên biết tự mình
“chuyển thân” nhường bước thì đường lộ mới tránh khỏi tình trạng nghẽn tắc
giao thông, đồng thời lưu lại lòng người niềm hoan hỷ, tôn kính. Ngược lại,
nếu không biết tôn trọng nhường nhịn cho nhau, không những chính mình đã tự
hạ thấp giá trị đạo đức, mà còn gây tạo ra biết bao hậu quảbi thương?
Trên bước đường đời, rất nhiều sự tình lấy làm hổ thẹn, mà phải tự mình
tìm cách thối vị, nhường ngôi. Đó chính là cách “chuyển thân”tốt đẹp mà danh
từ Phật giáo gọi là”chuyển mê thành ngộ”.Giữa người và người khởi lên sự
tranh chấp nếu mình biết khởi tâm nhường nhịn nhau một chút là đã biết
chuyển thân rồi. Giữa tình bạn, khi có sự tính toán, nếu mình không biết
nhường cho bạn phần đất chuyển hoá, thì đương nhiên là sẽ dẫn đến kết quả
không tốt đẹp. Đứng trước tiền tài lợi ích, nếu bạn không biết khéo dành cho
người một phần không gian chuyển hoá thì chính mình làm sao có được chỗ để
chuyển hoá? Vì vậy khi gặp phải trở ngại, chúng ta cần nên hiểu và khéo vận
dụng pháp “chuyển hoá”.
Từ kinh nghiệm cuộc sống, người xưa thường nói”Khi đi đến chỗ sơn cùng
thủy tận, tự nhiên sẽ có phản xạ ứng biến chuyển hoá”; Người lái thuyền phải
biết quan sát chính xác địa bàn hải phận, nếu thuyền đang đi trên vùng hải
phận có chiều hướng nguy nan thì người lái thuyền phải biết quay đầu thuyền
lại để lên bờ. Cũng vậy, khi đã đặt chân bước xuống cuộc đời, chúng ta cần
nên hiểu rõ xuất phát điểm tiền đồ là ở đâu? Và từ điểm xuất phát đó mình
cần phải có điểm chuyển hoá nó như thế nào
để lộ trình được khai thông.
Nếu mỗi người chúng ta đều có đủ năng lực tư duy minh bạch ý nghĩa “hồi
đầu thị ngạn” và thực thi vào cuộc sống thực tế thì cuộc đời mình có còn sợ
gì không có đất trống để chuyển thân?
VĂN – TƯ - TU^
聞-思-修
Khi nghe
người khác khen bạn hay, bạn giỏi, tâm bạn khởi vui mừng hớn hở? Và khi nghe
những lời tán thán khen ngợi đó, bạn có bao giờ lắng tịnh tâm tư quán sát
lời khen đó là chân thật hay chỉ là lời khen trang sức? Hoặc nếu nghe người
khác phê bình chê bai, huỷ báng bạn, bạn khởi tâm tức giận, buồn phiền? Hay
vẫn tâm bình khí hoà định tĩnh quán xét lời chê bai đó là hợp lý cảnh tỉnh
bạn, hoạc giả nó chỉ là lời thị phi!
Nghe người
khác nói chuyện hoặc tự mình định làm công việc gì, bạn có thói quen suy
nghĩ chín chắn rồi mới thực hành? Dẫu rằng sự suy nghĩ của con người phản
ứng nhạy bén, nhanh chóng ; nhưng nếu không thông qua định tĩnh tư duy quán
xét sẽ không tránh khỏi sự sơ hở sai sót, nhầm lỗi.
Có người
cố chấp theo cái suy nghĩ của riêng mình, không chịu nghe theo lời hay ý
thiện của người khác, do vậy, khi nghe người khác thảo luận góp ý, anh ta
lấy làm lơ là, không chú tâm lắng nghe, cũng chẳng dụng tâm suy nghĩ . Do
vậy, công việc làm rất khó đạt được kết qủa hoàn mỹ.
Đức Phật
trực đối hạng người có tập tánh thưa thớt đó, từ bi khuyên nhắc:” Trong sinh
hoạt thường nhật, đối mặt với bất luận sự tình gì chúng ta đều cần nên vận
dụng ”VĂN- TƯ- TU” mới có thể tiến nhập giải quyết sự tình cực chí thông
suốt tốt đẹp, và có trải qua VĂN TƯ TU mới có thể đạt được mục tiêu chính
xác, an toàn. Bởi vì, Văn là từ chỗ nghe, chỗ thấy mà sanh trưởng trí huệ.
Tư là từ chỗ tư duy, khảo nghiệm suy xét mà tăng trưởng trí huệ. Tu là từ
chỗ dụng công tu tập thực hành những điều thấy nghe, thông qua tư duy khảo
nghiệm, quán sát mà thành tựu trí tuệ.
Các nhà
nho học thường nói:”Học mà không tư duy là học vẹt. Chỉ tư duy mà không
thông qua sự sàng lọc của sự học hiểu thực nghiệm thì sự tư duy đó rất dễ
rơi vào tà nguỵ vô cùng nguy hiểm. Điều đó đã thuyết minh rõ về tầm quan
trọng của tam huệ VĂN-TƯ-TU.
Văn là
lắng nghe người khác nói chuyện, thuyết giảng Bạn có chuyên tâm nhất ý lắng
nghe chăng? Giả như nghe có chỗ ngôn từ, ý nghĩa thiên lệch, bạn có biết
chuyển hướng cách nghe?
Bậc bồ tát
tu 25 pháp viên thông ; nhĩ căn viên thông là một trong những pháp tu quan
trọng. Do vậy, Phật pháp rất chú trọng về pháp môn huân tập “đa văn”. Tai
nghe so với mắt nhìn có phần quan trọng không kém. Vật ở quá xa tầm mắt hoặc
sát cận tầm mắt thì không thể nhìn thấy được minh bạch, nhưng âm thanh ở xa
hoặc ở sát cận tầm tai vẫn có thể nghe được rõ ràng . Những chuyện của qúa
khứ, mặc dù là không nhìn thấy được nguyên thể hình dạng của chúng như thế
nào, nhưng chúng ta vẫn có thể hiểu biết được thông qua nghe người khác nói
kể truyền đạt lại. Người ở cách vách tường nói chuyện, mặc dù không nhìn
thấy được người, nhưng vẫn có thể nghe được tiếng nói của đối phương.
Thật ra,
nghe là một nghệ thuật linh hoạt không thể thiếu được trong cuộc sống, và
đòi hỏi chúng ta không ngừng trau dồi học tập kỹ năng thiện xảo “lắng nghe”
chơn thực, chính xác. Cái mà gọi là lắng nghe tiếng vỗ tay của một bàn tay,
nếu bạn lắng nghe được âm thanh từ vô thanh kia thì ngay phút giây đó bạn đã
thành tựu được pháp “nghe sanh trưởng trí tuệ” (Văn sở thành tuệ)rồi!
Điều mà
gọi là “Tư sở thành tuệ”, nghĩa là từ chỗ tư duy quán sát những điều thấy
nghe mà tăng trưởng trí tuệ; nó đòi hỏi phải có chánh tư duy, thiện tư duy,
thanh tịnh tư duy và tư duy sâu sắc, kỹ lưỡng chín chắn; Ý nói rằng phàm làm
một sự việc gì đòi hỏi phải có sự suy đi nghĩ lại, khảo tới sát lui ba lượt,
sau đó mới thực hành. Trên thế gian người có tiền của được xem là người có
nhiều phước báo đáng quý; nhưng người có tư tưởng tư duy trong sáng, chánh
trực không những đáng quý mà còn được tôn kính.
Trên thế
gian các nhà triết học giải thích ra được nhiều vấn đề của vũ trụ đều là
nương vào tâm não tư duy quán sát khảo nghiệm mà khai sáng vấn đề. Tất cả
các nhà khoa học kỹ thuật trên thế giới phát minh ra bao nhiêu những khoa kỹ
văn minh cũng đều thông qua tư tưởng tư duy, thực nghiệm mà thành tựu. Và
biết bao nhà văn học, văn từ phong phú, ý tứ trong sáng, có đủ lực cảm hoá
lòng nhân cũng đều là kết quả từ sự tư duy mà thành. Cũng vậy, trong cuộc
sống bình nhật, nếu chúng ta thường hằng biết huân tập tư duy, phản tỉnh,
quán sát nội tâm nhận chân được thật tướng cuả các pháp thì sự tư duy đó rất
tự nhiên tăng trưởng nên trí tuệ.
”Tu sở
thành huệ” là gì? Tu, là thực tiễn hành trì theo giáo pháp cuả Đức Phật chỉ
dạy, hoặc hành trì những điều đãhọc hỏi thấy nghe được từ các bậc thánh
nhân, thầy tổ v.v… mà vận dụng tư duy, phản tỉnh sửa đổi ba nghiệp thân-
khẩu- ý mình từ những điểm hư xấu , bất thiện, bi quan bế tắc trở thành
trong sáng thiện mỹ, lạc quan. Tu có nhiều hình thức như khổ tu, lạc tu,
chơn tu, nội tu, cộng tu, tự tu…Sự tu tập được dụ như y phục rách rồi, cần
phải vá lại mới có thể mặc được. Phòng xá hư hoại cần phải tu sửa lại mới có
thể ở được. Cũng vậy, thân tâm con người một khi đã có vết dơ nhớp hoặc có
lỗ khuyết hỏng hư hại đương nhiên càng nên cần phải sửa đổi tu bổ mới đảm
bảo được phẩm chất hữu dụng của đời người, đồng thời từ chỗ lập nguyện tu
dưỡng sẽ tạo nên động lực vi diệu thăng hoa cuộc sống đến chỗ cực chí mục
tiêu.
Đường dài
vạn dặm, chỉ cần bạn dụng công khởi chân cất bước thì lo gì không đến đích?
Sự nghiệp ngàn muôn, chỉ cần bạn dũng cảm đảm nhận tiến hành thực tiễn thì
lo sì sự nghiệp không thành công? Tu hành sẽ thành tựu được nhân phẩm và
phong cách trang nghiêm; tu tâm sẽ thành tựu được đạo nghiệp thậm thâm vi
diệu; chỉ cần chúng ta kiên tâm quyết chí thực hành, tất nhiên sẽ có qủa
chứng. Đó là thành quảdiệu dụng cuả “Tu sở thành huệ”.
Từ cái
diệu dụng thật tiễn của “VĂN-TƯ-TU” đối với cuộc sống con người, Phật giáo
khuyến cáo chúng ta không thể thiếu và không thể xem nhẹ thực tiễn hành trì
“VĂN-TƯ-TU”, bởi vì có “VĂN-TƯ-TU mới có thể tiến sâu vào cực chí địa linh
chánh quả.
* Mỗi ngày tôi chọn một niềm
vui.
Chọn nhũng
bông hoa và những nụ cười *
Sanh Tử thái nhiên^
生死泰然
Sanh tử là vấn đề mà từ xưa đến nay chúng ta dường như kỵ bàn luận đến.
Nhưng với thời đại tiến bộ ngày nay “Sanh tử học”đã trở thành đề tài nghiên
cứu sống động. Thật ra vấn đề lớn nhất của nhân gian, một là vấn đề “sanh,
hai là vấn đề “tử”.
Sanh sống cần phải có chổ ở, chổ sanh hoạt; đến khi chết cũng cần phải
có chỗ đến, chỗ đi. Có người vì sự sanh sống mà khổ sở; lại có người vì sợ
chết mà lo ngại, sợ hãi. Phật học chính là sanh tử học. Ví dụ như đức “Quán
Thế Âm bồ tát “ cứu khổ cứu nạn” chính là giải quyết vấn đề “sanh” cho mọi
loài. Còn Đức Phật A Di Đà” tiếp dẫn vãng sanh” chính là giải quyết vấn đề
“tử” cho nhân thế.
Con người chúng ta chỉ vì do mê mờ giữa âm dương cách thế; nên khi
hoán đổi đi một thân thể khác thì không còn biết rõ về tiền sanh, hậu thế
của đời mình. Do vậy từ xưa đến nay vấn đề “ tử”đối với con người vẫn là vấn
đề mênh mang bàng hoàng, vô tri, và nó trở thành vấn đề khó giải quyết nhất
trong thiên hạ.
Thật ra, con người có sanh, tất phải có tử. Và con người sau khi chết
vẫn còn phải tái sanh. Sanh sanh, tử tử; tử tử sanh sanh cứ mãi luân chuyển
như chiếc kim đồng hồ xoay chuyển, như dụng cụ hình tròn không có bắt đầu,
cũng không có kết thúc. Sanh tử chỉ là một hệ thống tuần hoàn mà thôi. Ví
như trồng dưa thì gặt hái được dưa, trồng đậu thì sẽ gặt hái được đậu vậy.
Trồng chẳng phải là bắt đầu, mà thu hoạch cũng chẳng phải là kết thúc. Trong
sự bắt đầu kia đã có hàm chứa sự kết thúc. Và trong cái kết thúc nọ vốn đã
ẩn tàng mầm bắt đầu.
Trong Phật môn, đối trước vấn đề “ sanh ly tử biệt”, các vị cao tăng
thạc đức quan niệm rất lạc quan. Họ cho rằng đã có duyên sanh ra trên cảnh
giới ta bà này thì nên vui vẻ đón nhận cuộc sống mà vun bồi giáo dưỡng nó,
vàø đến khi chết cũng nên vui vẻ thong dong ra đi. Bởi vì sanh mạng này đến
đến đi đi, sanh sanh tử tử là một hành trình không có sự dừng nghỉ!
Căn cứ lịch sử để đưa chứng cứ cách nhìn lạc quan, tự tại về ” sanh ly
tử biệt” của một số vị thiền sư. Có vị nơi điền viên trồng sen mà thị tịch;
có vị tự mình tế bái tổ tiên rồi mỉm cười ra đi; có vị hoan lạc thổi ống
tiêu, ống sáo rồi chèo thuyền ra giữa dòng mà nhập diệt. Có vị cửa đông, cửa
tây hướng đến tất cả môn đồ pháp quyến truyền trao di huấn rồi an nhiên từ
biệt. Các vị thiền sư ấy đã nhìn thấu suốt được “sanh tử thái nhiên”;
"Đến
là vì chúng sanh mà đến, và đi cũng vì chúng sanh mà đi,"
cho nên đến đi, các vị đều không có chỗ vấn vương, luyến ái trở ngại; xem nó
giống như bộ y phục đã cũ rách, cần phải thay đổi bộ y phục mới. Phòng ốc đã
đến kỳ hư hoại cần phải thay đổi nguyên vật liệu để kiến tạo phòng ốc mới;
cho đến chiếc xe hơi đã đến thời già cũ đều cần nên đào thải đi,và lựa chọn
cái mới hợp thời tốt đẹp hơn, huống chi cái thân thể con người này khi đã
đến độ kỳsuy thoái?
Francois Rabelais, vị đại biểu cho “Văn nghệ phục hưng thời đại của
nước Pháp nói:”Màn kịch cười đã diễn xong thì phải đến lúc hạ màn thôi”. Ông
ta đã có cái nhìn về đời người và sự đổi thay của cuộc thế rất phóng khóang
và rất chơn thực. Nhà triết học Jean-Jacques Rousseau, lúc lâm chung an uỉ
người vợ:”Này người vợ yêu qúi của ta, đừng nên đau buồn, ngoài kia bầu trời
trong sáng chính là chỗ ta đi”. Thật đúng là lời trăn trối tràn đầy chánh
kiến của con người lạc quan, sống chết thái nhiên đáng làm mô phạm cho hậu
thế.
Chúng ta không nên qúa lo sợ về cái chết; nó chỉ là một hành trình
thay đổi kiếp sống mới, giống như một hành trình di dân đưa chúng ta đến một
quốc độ mới khác. Vấn đề quan trọng là trong cuộc sống hiện tại chúng ta có
tích luỹ tư lương sanh tồn chăng? Nếu có thì khi bạn đổi đến bất cứ một quốc
độ nào có gì đáng để sợ hãi, lo lắng không thể sanh hoạt?
Hiện nay xã hội đang sôi động đưa ra đề tài thảo luận:”chết an lạc”. Kỳ
thật, “chết an lạc”so vơi “sống đau khổ” vẫn có chỗ tốt đẹp hơn nhiều. Con
người sống với sự khoái lạc, đương nhiên sẽ lo sợ sau khi chết thống khổ,
nhưng nếu bạn hiểu rõ được “sanh và tử là một” thì có gì đáng để tham sống
sợ chết?”
Phật giáo, Tịnh độ tông gọi tử vong là “vãng sanh”, vì đã vãng sanh thì
giống như đi xuất ngoại du lịch, hoặc là dọn nhà cũ đến nhà mới. Như vậy,
chết chẳng phải sự kiện đáng vui mừng sao? Thế nên chết chỉ là một giai đoạn
hoán chuyển mà thôi; nó là sự ký thác cho sự bắt đầu của một thân thể. Do
vậy, chết không là vấn đề để chúng ta nặng tâm lo lắng, ghê sợ. Khi đối mặt
với tử thần, cần nên thuận theo cái tự nhiên của nó mà thái nhiên tự tại
theo chỗ của nó!
Cái dụ về cuộc đời^
人生之喻
Mỗi người chúng ta từ khi cất tiếng khóc chào đời, cho đến khi già
lão,từ giã cuộc đời trở về với cát bụi. Đó là quá trình cuộc sống của một
đời người.
Cuộc đời là gì nhỉ?
Có rất nhiều ví dụ để thuyết minh về cuộc đời. Dưới đây là một sốví du
thuyết chứng:
1. Cuộc đời như một vũ đài.
Trên vũ đài đó có muôn hình muôn dạng sắc thái tuồng vai: hề, trung hiếu,
yêu ma, thiện ác …đầy đủ các loại nhân vật hiệp lực diễn trọn hoạt cảnh vui
buồn, hợp tan của cuộc sống đời người. Nhưng một khi sân khấu đã hạ màn kết
thúc thì tất cả đều trở về với huyễn không.
2. Cuộc đời như một quán trọ.
Chúng ta tạm mượn cõi đời để trọ tấm thân qua vài mươi tuế nguyệt; đến khi
phải rời khỏi quán trọ, thì tất cả mọi sở hưũ đều phải trả về cho quán trọ,
cho đến một vật cũng không phải là của riêng mình.
3. Cuộc đời như huyễn mộng.
Mộng,có mộng tốt đẹp, có mộng xấu ác. Trong mộng thấy mình chu du liệt quốc;
bay núi lượn biển,…;nhưng khi tỉnh giấc, thì ôi thôi, tất cả đó chỉ là mộng
mị ảo huyễn.
4. Cuộc đời như tấm bèo trôi.
Tấm bèo phiêu bạt trên nước, trầm, tụ tán nổi không một điểm cố định chắc
chắn. Cuộc đời nhân thế nào có khác chi những tấm bèo trôi kia; chúng ta
không thể tự mình khống chế cuộc thế vô thường.
Các loại hình dụ tượng trưng trên là dụ cho cuộc sống
vô thường. Ngoài ra còn có các loại hình dụ khác mà con
người từ cổ chí kim thường lấy làm dụ như, đời người như hạt lộ châu sương
mai nắng sớm; cuộc đời như làn điện chớp, cuộc đời như vật đổi sao dời, cuộc
đời như đóa hoa tươi sớm nở tối tàn… Tất cả những ảnh dụ kia là thuyết minh
cho thực chất cuộc đời nhân thế là huyễn hóa, là hư không, là vô thường.
Những ảnh dụ trên nghe ra thì dường như cuộc sống nhân thế này là vô nghĩa,
là bi quan; nhưng sự thật thì không hẳn như vậy. Cuộc sống nhân thế vô
thường kia vẫn có những ảnh dụ tích cực đáng qúy như :
1. Cuộc đời như ánh thái dương, sớm mọc phương đông, tối tàn phương tây.
Aùnh thái dương một khi xuất hiện, dương rộng vòng hào quang sưởi ấm nhân
thế; rồi khi hoàng hôn buông màn, thái dương lòng tràn đầy niềm lưu luyến,
từ từ lặn tắt; nhưng ánh thái dương lặn tắt đi không có nghĩa là mất hết
niềm tin yêu hy vọng, bởi vì sáng sớm ngày mai, ánh thái dương sẽ lại từ
phương đông trỗi dậy chiếu sáng khắp đại địa, đem nắng ấm tiếp tục sưởi ấm
thế gian.
2. Cuộc đời như bãi chiến trừơng.
Trên bãi chiến trường có thắng, có bại. Thất bại cố nhiên khiến cho người ủ
ê, buồn tủi, nhưng khi lâm thời có niềm hy vọng chiến thắng xuất hiện, thì
cuộc sống lý tưởng hạnh phúc của con người liền lập tức trở thành hiện thực.
3. Cuộc đời như lòng bể đại dương.
Biển cả bao la sóng vỗ rì rào, bao dung vạn hữu. Trên biển cả, ngày đêm
thuyền bè qua lại không lưu dấu vết, chim cá bơi lặn không lưu tiếng. Biển
cả đem lại cho con người cuộc sống phương tiện với tấm lòng bao dung, nhiệt
tình hậu đãi. Cũng vậy đời người chúng ta là biển cả bao la, có thể nhậm vận
cuộc sống thanh nhàn tự tại tùy duyên với vòng tay tràn đầy yêu thương, có
đủ nghị lực và trí tuệ năng biến phương tiện quyền xảo.
4. Cuộc đời như dòng nước chảy.
Dòng nước trong mát lăn tăn dạt dào chảy xuyên núi vượt đồi, đem lại cho
nhân thế cuộc sống tươi nhuận. Dòng thác ào ạt đổ, không những vì nhân gian
vẽ ra bức tranh hùng tráng lưu danh muôn thủa. Màcòn vì cuộc sống lợi ích
thế nhân phụng hiến nguồn nhiệt lượng tiềm năng vốn có của mình
Lại nữa, ảnh dụ của cuộc đời trên mặt tích cực hướng thượng còn có:
Cuộc đời như bầu trời trong sáng, như bức tranh họa sơn thủy, như bản thơ
ca, như câu đối chữ, như ngọn núi thái, như dòng sông lam. Tất cả nhũng ảnh
dụ trên đều là những thiên văn chương giải thích rõ ý nghĩa cuộc đời.
Thật ra, cuộc đời giống như một chiếc bàn cờ. Cuộc sống của đời người,
chúng ta có thể không hạ cờ, nhưng không thể kông đi theo vị trí và chức
năng của bàn cờ. Khi con cờ chạy lạc vị trí thì cả ván cờ tất bị rơi vào
thất thế, thua bại. Khi con cờ chạy đúng phương hướng thì lộ trình sẽ thuận
lợi, dẫn đến thắng lợi vẻ vang. Đời người chúng ta muốn thiết lập cuộc sống
thắng lợi tốt đẹp như con cờ đại tướng kia, tất đòi hỏi phải có lý tưởng
cao, có tầm mắt nhìn xa thấy rộng, tâm ý rộng lượng, bước chân vững chắc,
không riêng tư, không tự ngã. Có được khí lực và nhiệt huyết như vậy mới có
thể nhìn thấy được vị trí nhu nhuyến kỳ tuyệt của toàn bàn cờ, và mới có
được năng lực vô úy, vô ngại đi suốt trọn ván cờ nhân thế.
Cuộc đời qua
BỨC HỌA SƠN THUỶ^
人生山水畫
Cuộc sống của đời người là gì nhỉ?
Chúng ta cùng thử chiêm nghiệm cuộc sống của đời người qua bức họa
tranh sơn thủy. Trên bức họa tranh sơn thủy đó, thâu qua nghệ thuật phát họa
hài hòa những đường nét chấm phá hình sắc đậm nhạt, sâu cạn, xa gần, cao
thấp, tối sáng trầm nổi mà hiện lộ ra được phong tình, ý cảnh của bức tranh
họa sơn thủy linh hoạt hiện thực.Đồng thời, trên bức họa tranh sơn thủy đó,
có lúc là cảnh ngàn sơn vạn thủy, núi sông trùng trùng điệp điệp một màu
xanh biếc; lạ có lúc là cảnh mưa rào, gió bấc khiến cho cành khô lá úa vàng,
rụng rơi tơi tả. Tất cả những bối cảnh phong tình trên bức họa đó chẳng phải
là do từ cuộc sống của đời người chúng ta trên cõi nhân thế phát họa điểm
tô, chiếu chụp?
Trên bức họa tranh sơn thủy đó bằng mỹ cảm của hiện thực cuộc sống với
sông núi hữu tình, xuân ấm hoa khai, trăm hồng nghìn tía tỏa ngát hương
thơm, hoàng oanh bay nhảy trên thảm cỏ xanh rộn rã hoan ca. Hoạt cảnh tươi
vui hiện ra sống động trên mặt giấy, khiến cho người xem liền sanh lòng hoan
hỷ, yêu thích, chiêm ngưỡng, cổ vũ khích lệ. Cuộc sống tràn đầy lạc quan
sống động với chánh niệm vì cuộc đời cống hiến tài năng và sức lực. Qủa là
một cuộc sống tuyệt mỹ, xứng hợp với danh sử là bức tranh sơn thủy vô gia.ù
Nhưng cũng có những bức họa tranh sơn thủy cảnh sắc nhạt nhẽo, hoang vu,
ngập tràn khói sương và cỏ dại, nhà dột, vách thưa, gà vịt vài con; hiển lộ
gia cảnh nghèo nàn, xơ xác, buồn bã. Phong tình cảnh sắc ấy chính là hiển lộ
ý vị cuộc sống của những con ngườinghèo khốn, quê mùa với vận mệnh của chùm
sao bắc đẩu thiếu may mắn.
Trên bức họa tranh sơn thủy, có lúc nhìn vào là cảnh vách đá dốc đứng,
ngàn núi cao, vạn vực sâu thẳm. Đỉnh núi sừng sững cao vút trời xanh, tương
đồng với đời sống của con người đang ở địa vị cao qúi, quyền uy tột đỉnh,
khiến cho con người tràn đầy hưng phấn. Nhưng bên cạnh đó vẫn không trách
khỏi tiếng lòng nức nở nghẹn ngào khi gặp phải đông hàn, gió bấc. Lại có lúc
trên bức tranh sơn thủy kia hiển lộ phong cảnh vách núi dốc đứng, đường đi
nhỏ hẹp, tiền đồ vô lộ, như đang thuyết minh về cuộc sống của con người
trong cảnh khốn cùng, tiền lộ bế tắc, tìm không ra hướng xuất tiến.
Có lúc là cảnh mây vờn ân ái núi, trời nước hòa hợp một màu thanh
thanh, gió thổi mây bay sóng biếc nhấp nhô dào dạt vỗ bờ, khiến cho con
người cảm nhận được cuộc sống nhân thế muôn phần ấm tình xa rộng, cổ vũ lòng
người hãy giữ vững niềm tin ra sức phấn đấu vững bước tiến lên. Nhưng cũng
có lúc, trên bức tranh họa đó vẽ ra phong cảnh nhà tranh vách nứa với một
thửa hoa vàng, núi thu lá đỏ, hiển lộ cuộc sống tiêu dao, mộc mạc, thanh
nhàn tiêu dao tự tại của người ẩn sỹ. Rồi cũng có lúc tranh họa ra cảnh biển
nước mêng mông, từng đợt sóng vỗ dào dạt ân ái núi, tung bọt trắng xóa bồng
bềnh trôi nổi, tựa hồ như đang thuyết minh cuộc sống của hàng hào tộc qúy
phái đang ở độ hào hùng tràn đầy khí phách.
Cuộc sống của con người, có người có được cuộc sống may mắn hạnh phúc,
sự nghiệp thuận lợi, làm việc gì cũng đều thuận buồm xuôi gió, vạn an kiết
tường như bức tranh họa sơn thủy hiển lộ sắc nét tươi sáng, hài hòa linh
động gợi cảm lòng nhân. Nhưng cũng có người không gặp được thời vận may mắn, cuộc sống phải trải qua biết bao trắc trở, đắng cay chướng ngại, bế tắc
tiền đồ như cảnh sắc của bức tranh họa cảnh núi cùng sông cạn kia. Lại có
người tuy không gặp được vận lành trong cuộc sống, phải vật vã đương đầu với
muôn vàn gian nan trở ngại; thế nhưng, càng bước trên những đoạn đường gồ
ghề sỏi đá, càng trải qua niếm mật nằm gai, họ càng dày dặn kinh nghiệm, và
càng tự mình khích lệ ý chí phấn đấu vươn lên, vì họ có ý chí nhận thức, có
niềm tin yêu về cuộc sống thế gian vô thường đáng qúy. Thế nên, càng đứng
trong cảnh tình nếm mật nằm gai, họ càng nghiệm ra được cái thú vị của cuộc
đời, và họ càng tự tin rằng “Sau cơn mưa trời lại sáng “.Đồng dạng với đạo
lý trên, trong bức tranh họa sơn thủy, tuy rằng núi cao, vực thẳm, đường đi
khúc khuỷu, gập gềnh khó qua, nhưng họ vẫn kiên chí, bình tâm khắc phục mọi
khó khăn, và không ngừng cổ vũ mình dũng mãnh tiến lên, vì “Đường đi khó,
không khó vì ngăn sông cách núi, mà khó vì lòng người ngại núi e sông.”
Đời người, giữa cuộc sống núi cao trập trùng, sông nước mêng mông, bập
bềnh, có lúc nhận được hậu tình đối đãi núi đón sông đưa, trời đất quyện
tình tha thiết; có lúc núi cao cách trở đường đi, sông nước mêng mang,
đường trước mờ mịt, không định được hướng đi phía trước, mà cũng chẳng tìm
được lối thoát phía sau. Qủa là tiến thối lưỡng nan, tiền đồ không biết từ
đâu định hướng?
Bức họa sơn thủy là kiệt tác của các nhà nghệ thuật, bố cục trong tranh qua
các nét chấm phá nghệ thuật họa nên cảnh sắc tối sáng? gần xa?, đậm nhạt?
Sông núi gập gềnh, quanh co khúc chiết,sóng dập gió dồi hay êm đềm phẳng
lặng; ngay cả một chiếc lá, một cành hoa rơi, một dòng nước chảy bên cạnh vị
thiền sư ngồi thiền; tất cả trong mỗi sự vật, mỗi hiện tượng đều xuất phát
từ nội tâm qua tâm hồn lĩnh cảm cuộc sống của chính mình ma diễn đạt qua tư
thái cầm cọ phát họa, tạo nên một lối đi riêng đầy sáng tạo và ý vị trong
thế giới nghệ thuật củamầu sắc và âm thanh.
Nghịch tăng thượng duyên^
增上緣
Tổ tiên ta thường nói:”mười năm trồng cây, trăm năm trồng người.” Điều đó đã
nói lên tôi luyện thành công sự nghiệp làm người, cần phải nương tựa vào rất
nhiều yếu tố nhân duyên hỗ trợ. Cây cối hoa cỏ cần phải có đầy đủ các yếu tố
nhân duyên hỗ tương như ánh sáng mặt trời, không khí, nước phân, nhân
côngv. v… mới có thể khai hoa kết trái.Cao lầu đại hạ cũng cần phải có
các vật tư đất, gỗ, đá, gạch… mới có thể thuận lợi thành tựu công trình xây
cất. Nhân duyên thuận lợi đương nhiên dễ thành tựu. Nhân duyên không thuận
lợi, thì cho dù là tôi luyện phong cách làm người hoặc làm bất cứ sự việc gì
cũng đều không trách khỏi trùng trùng trở ngại khó khăn.
Khó khăn, khổ nhọc có thể đánh ngã được người bình thường, nhu nhược thiếu
tự tin, nhưng không thể đánh ngã được người có niềm tin yêu vững chắc, trong
sáng. Bởi vì nhân duyên thuận lợi, cố nhiên sẽ trợ giúp chúng ta đạt được
thành công nhanh chóng. Nhưng nếu nhân duyên không thuận lợi sẽ khiêu gợi
dậy lực lượng tiềm năng phi thường trong mỗi con người. Bởi vì nhân duyên
không thuận lợi đó trở thành “nghịch tăng thượng duyên”khích lệ, cổ vũ chí
hướng thượng. Điển hình như, khi cơ thể bất an, phát bệnh thì con người mới
biết phát đạo tâm, chú ý đến sức khỏe và đi sâu vào nghiên cứu phương án
phòng bệnh và chữa bệnh. Cũng vậy, chúng ta có trải qua sự thọ nhận đau khổ
mới nghĩ đến phương cách cải thiện hoàn cảnh và dũng mãnh phấn đấu cải tiến
kế hoạch cuộc sống.
Trong thế giới tự nhiên, hoa mai sở dĩ được người ca tụng, là vì hoa mai có
bản chất nhẫn nại tiếp nhận tuyết sương giá lạnh; khí tiết càng lạnh, hương
thơm càng tỏa ngát. Tùng bách sở dĩ được người yêu thích, qúy trọng là vì
tùng bách không những không cách ngại sương hàn gió bấc đến mà càng gặp
sương hàn gió bấc, tùng bácch càng xanh tươi vươn thẳng mình đón tiếp. Banh
da càng đánh mạnh, độ nhảy càng cao. Đá vôi nếu không qua lò đốt rừng rực
lửa, làm sao có đủ năng lực trở thành vật liệu cần thiết lưu ở nhân gian?
Kìa! Chúng ta hãy nhìn xem, trong cơn cuồng phong bão táp mưa sa, cây liễu
trúc mặc dù đơn độc lẻ loi, nhưng nó vẫn hiên ngang ngẩng cao đầu, sừng sững
thẵng mình cất cao khúc nhạc khải hoàn. Ở vùng Nam Bắc cực, quanh năm băng
tuyết giá rét, các loài động vật sống trên vùng đất ấy vì sự sanh tồn mà
không ngừng phấn đấu đối mặt với nghịch cảnh trắc trở gian nan và lấy đó làm
tăng thượng duyên để nỗ lực vươn lên.
Nhìn thấy gió bão đánh ngã cây cối, không ai bảo ai, bản năng tự nhiên
sẽ thúc đẩy chúng ta tìm mọi phương cách chống đỡ để chúng trở lại tư thế
sanh tồn tự nhiên. Trải qua cuộc động đất, nhà cửa phòng ốc bị sập đổ hư
hoại; chỉ một sát na vô thường đến, toàn gia sản sự nghiệp bỗng chốc trở
thành hoang dã, trắng tay, nhưng với niềm tin người còn tất sự nghiệp còn.
Thế rồi do sự dũng mãnh đối mặt với hiện thực vô thường kia khiến cho con
người không ngừng phát minh ra những điều hay ý lạ, đồng thời không ngừng
khám phá ra ra những bí mật trong sáng quý giá của đời sống nội tâm cũng như
ngoại chất. Do vậy, người thanh niên có nghị lực cường tráng, thành tựu được
nhiều cống hiến, càng gặp cảnh đối nghịch, bị người đối xử tỵ hiếm càng ra
sức phấn đấu trau dồi kỹ năng, trau dồi tác phong đạo đức; và ccàng bị người
khinh dễ, anh ta càng nỗ lực phấn đấu vươn lên bắt kịp cùng người.
Bậc cổ nhân thường nói:”Hàn môn xuất hiếu tử”;Thật vậy ở trong cảnh cơ
hàn mới thấu suốt được lòng người con hiếu thảo. Xưa ngài Mẫn tử bị kế mẫu
quở trách, chưởi mắng, đối xử khắc nghiệt, nhưng ngài vẫn không một lời
than oán; ngược lại, lấy đó làm nghịch tăng thượng duyên tôi luyện chí
hiếu, tạo nên nhân vật lịch sử người con chí hiếu ưu tú để gương chiếu sáng
ngàn năm cho đời. Trong cửa thiền môn đề xướng lấy nghịch tăng thượng duyên
làm đề mục khích lệ và huấn tập hành giả nghị lực kiên cường dũng mãnh, bảo
trì hạnh đức” bình thường tâm thị đạo” ứng phó với bất luận cảnh tình đông
hàn gió bấc, hay cảnh tình nắng táp mưa sa. Do vậy, khi đông hàn giá lạnh
đến, người hành giả hướng vào chốn sương giăng tuyết phủ để huấn tập; rồi
khi tiết hạ nắng ï nóng cháy da, lại hướng về nơi mặt trời phát hỏa quang để
tôi luyện thiền tập. Do sinh hoạt trong nghịch cảnh duyên như vậy mà hun đúc
ra cho chính mình đời sống nội tâm phong phú với chí hướng thượng cao cả,
tràn đầy nghị lực. Đồng thời hun đúc cho chính mình một tài sản kinh nghiệm
vô giá.
Trên trang lịch sử Phật giáo Trung Quốc, nếu không có sự kện giáo nạn
"Tam
võ nhất tông"xảy ra thì làm sao
hiển hiện được lực lượng huy hoàng của Phật giáo. Nếu không có những uy
quyền chuyên chế trùng trùng điệp điệp bức hại, tất sẽ không có sản sinh ra
Đại sư Huệ Viễn cất lên tiếng gọi cao thiêng
"hàng xuất gia không quỳ bái các
bậc vương tước". Nếu không có Do
Thái phản Giêsu, thì Giêsu nào có được nhân duyên để hiển hiện thánh đức. Và
nếu không có Đề Bà Đạt Đa cầm đầu chỉ đạo nhóm ngoại đạo bức hại, thì đức
Phật Thích Ca cũng không có đủ yếu tố nhân duyên để hiển lộ thánh đức cao cả
của đấng Thế tôn. Trên lộ trình cuộc sống, gặp phải tảng đá lớn chặn đường,
chúng ta có thể bị vấp ngã bởi nó, hoặc giả chúng khe biết lợi dụng nó làm
điểm tựa an ổn chân đứng để có thể đứng nơi đỉnh cao vọng tầm nhìn xa. Cuộc
sống của con người thành công và thất bại đều do nơi chính mình khéo biết
cách vận chuyển nghịch cảnh hóa thành tăng thượng duyên. Bởi lẽ, không có
đêm tối làm sao cảm nhận được công năng lợi ích vĩ đại của ánh sáng quang
minh? Không có tội ác của đối phương, con người làm sao cảm thấu được đức
hạnh chân thiện mỹ của bậc hiền nhân? Cũng vậy không có ô nhiễm cấu uế làm
sao cảm nhận được niềm sảng khoái tươi mát cuả sự ngăn nắp, sạch sẽ? Không
có pháp so sánh sai khác làm sao tìm ra được pháp thống nhất? Do vậy cái kỳ
diệu của nghịch tăng thượng duyên là ở chỗ:
Người biết nghe, khéo nghe âm thanh vô thanh
Nghười biết nhìn, khéo nhìn tướng vô tướng
Người biết nói chuyện, khéo dụng ngôn vô ngôn
DIỆU PHÁP ĐỐI ĐÃI^
(寬厚對人)
Trong cuộc sống nhân gian, chúng ta làm sao đối đãi cùng người khiến
cho được trên thuận dưới hòa? Đó là môn học vấn rất cao mà đòi hỏi suốt cả
đời người chúng ta không ngừng học hỏi và cầu tiến thành tựu.
Lý do tại sao? – Nguyên nhân chủ yếu là vì con người chúng ta có nhiều
loại hình, tánh cách củõa mỗi người khác nhau, nhu cầu khác nhau. Qủa là
làm người đứng trước một sự việc rất khó đạt được “tận như ý người”. Vì vậy,
người xưa thưởng nói:”Ở rộng người cười, ở hẹp người chê”, “thuận được ý bà
cô, thì lại nghịch ý bà dì” là vậy. Làm người đáp ứng được sự thỏa mãn tâm
lý của mọi người nào có dễdàng.
Trong cuộc sống tương giao đối đãi cùng người, tuy có rất nhiều phương
diện không đồng nhất, nhưng nếu chúng ta biết lấy tâm khoan hậu để đối đãi
thì tất cả mọi đường cong ngã quẹo đều không hề thay đổi định luật hòa hợp.
Lấy tâm tôn trọng, khiêm tốn, nhã nhặn cùng người đối đãi, là điều rất cần
yếu, vì tâm càng khoan dung, hậu hỷ thì càng thành tựu được mối kết duyên bồ
đề quyến thuộc. Bởi vì lấy đức khoan hậu đối đãi cùng người tức là biết biểu
lộ lòng tín nhiệm đối với người, cùng người gần gũi, thân thiện trao cho
nhau niềm cảm thông hiểu biết và yêu thưong. Thành tựu
"đắc
nhân tâm" chính là vậy. Ngược
lại, nếu chỉ lấy sự chua ngoa, cay đắng, chát chúa đề đối đãi thì thử hỏi
làm sao cùng người gieo kết được tình thiện duyên, thiện cảm của người
khác, há huống là thu phục lòng người. Quả là khó thay, khó thay!
Sự tương giao giữa người và người, không phải chỉ đòi hỏi người khác
đối đãi tốt đẹp với mình, hoẵc chỉ trích người đối đãi mình không tốt điều
này, không đẹp điều kia, mà cần phải nhìn lại mình cho thật sâu, thật kỹ và
tự hỏi: "mình đã đối đãi
người với tâm lượng như thế nào?"
Thông thường qua phong cách đối đãi, người ta có thể nhìn ra được mình
là người có nhân hậu đạo đức hay không, là nhìn từ phong cách khoan nhượng,
bao dung, biết khéo vận dụng nghệ thuật phương tiện quyền xảo trong giao
tiếp đối đãi, đem lai cho người và mình niềm hoan lạc, hòa hợp.
Như thế nào gọi là lấy khoan hậu đối đãi người? Và như thế nào là lấy
nghiêm đối đãi người. Dưới đây đưa ra ba điển dụ để chúng ta cùng nhau thảo
luận.
Anh Giáp đang đi trên đường, bỗng có người chỉ vào chân anh và nói: tại
sao anh mang dép của tôi? Phiền anh cởi ra trả lại cho tôi. – Anh Giáp lắc
đầu không thừa nhận. Thế là hai người tranh chấp, to tiếng cãi vã không
dứt.. Cũng thời điểm ấy, trên đoạn đường khác, anh Ất đang đi, cũng có người
chỉ vào đôi giày của anh và nói: Xin lỗi, anh đã mang nhầm đôi giày của tôi,
phiền anh cởi ra trả lại cho tôi! Anh Aát nghe xong, lặng lẽ nhìn, rồi cởi
giày ra đưa cho người nọ. Sau đó một lúc, người kia tìm ra được đôi giày của
mình, biết mình đã đòi nhầm, lập tức đem giày tìm anh Aát hoàn trả; nhưng
anh Aát lại cho rằng không thể làm như vậy được, và nói: - Vật đã trả về anh
rồi thì tôi không thể lấy trở lại. Duyên kỳ ngộ, lai trên đường gần đó, anh
Bính đang đi cũng có người chỉ vào đôi giày của anh và nói :”Xin lỗi, anh
mang nhầm đôi giày của tôi rồi, mong anh hoan hỷ cởi ra trả lại cho tôi!”Anh
Bính nghe xong mỉm cười, cởi giày ra đưa cho anh ta. Anh chàng ấy hớn hở
nhận giày và quay đầu đi về chỗ của mình. Đến nơi nhìn thấy đôi giày thật
của chính mình đang còn đó, biết mình đã ngộ nhận; khởi tâm hỗ thẹn, lập tức
đem đôi giày mà mình đã đòi nhầm trả lại cho anh Bính. Anh Bính vẫn giữ trọn
nét mặt bình thản hoan hỷ nhận lại.
Từ thái độ xử lý sự việc của ba người trên, chúng ta có thể nhìn ra được
nghệ thuật đối đãi nghiêm và khoan bất đồng ở điểm nào.
Đối đãi người với tâm khoan hậu, hòa hợp, tức là chính mình đang sống
với tâm bình khí hòa, hoan hỷ, nhẹ nhàng thanh thoát. Liệt dụ như thời Xuân
thu, do phong cách đối đãi khhoan hậu mà Bá Thúc Nha và Quản Trọng đã trở
thành đôi bạn tri kỷ danh sư. Lại nữa, đời Đường thầy Lỗ Đức khuyên răn
học trò mình: "ngậm máu phun
người thì tư miệng mình dơ trước. Ngược lại, người mà luôn luôn vì một điểm
nhỏ của sự việc, lại ôm giữ canh cánh trong lòng; thậm chí gay gắt chỉ
trách lỗi người. Với tâm thái đối đãi như vậy, không những khiến cho người
khác một khi thoáng thấy bóng mình liền sanh tâm sợ hãi, không dám thân
cận. Như thế sẽ tự mình không kết được nhân tình duyên lành đã chớ, mà còn
tự mình ôm lấy sầu muộn khổ não. Thật đúng là hại người lại chính là hại
người.
Có câu chuyện kể rằng: Người con trai của viên quan nọ khi xây cất nhà
tại một thôn xóm, chỉ vì mong muốn tranh đất một bức đường tường.Cậy có cha
mình là quan của triều đình, liền viết thư gởi lên triều cho cha, hy vọng
được cha ra mặt giúp đỡ lấy không con đường tường kia. Người cha sau khi
nhận thư, lập tức thảo thư hồi âm cho con :
"xa
xôi vạn dặm, sự nghiệp kinh sử lại chỉ vì tường gạch, nhường nhịn cho người
ba tấc đất thì có gì là trở ngại? Vạn lý trường thành nay vẫn còn đó mà nào
thấy được Tần Thủy Hoàng thuở ấy."
Thế nên "khoan hậu đối đãi
người" không những là diệu pháp
tương giao tương tế, mà còn là căn bản nhân cách làm người.
Màu Sắc Phồn Thạnh^
(顏色繽紛)
Trên thế gian, màu sắc nào là màu đẹp nhất? Đỏ, vàng, lam, trắng,
đen....; phàm là một màu sắc thì vốn là rất đơn điệu, chỉ có năm màu bố trí
dung hợp mới thấy được màc sắc phồn thạnh của nó.
Cuộc sống của con người luôn luôn không ngừng cùng thời đại phát triển.
Đài hình thuở xưa chỉ là màn ảnh trắng đen; thế rồi văn minh khoa học ngày
một tiến bộ, diện hoa màu sắc đã trở nên phong phú, sinh động. Ngày xưa dùng
bài bản khắc chữ, ngày nay đã phát triển đến ấn loát trắng đen, màu sắc.Thời
đại ngày nay con người mặc y phục, dáng cách không những “mốt moden” mà cả
đến loại vải và sắc vải cũng dồi dào phong phú. Và ẩm thực cũng vậy, nếu như
sắc tố không đủ tươi nhuận tốt đẹp, thì khoa học đã có rất nhiều phương cách
để pha chế các loại sắc tố, đạt đến tiêu chuẩn đầy đủ sắc hương mỹ vị.
Mây trắng trên nền trời xanh mặc dù so với mây đen có phần đẹp mắt hơn,
nhưng nhìn chung lại thì không đẹp bằng hình sắc cầu vồng và hình sắc ráng
chiều. Bầu trời biết đem vòm trời tô điểm thành màu sắc đại tự nhiên tuyệt
đẹp. Trong khu rừng rậm, chim muông biết lấy tiếng hót để tìm âm thanh của
đồng loại. Dưới biển cả mêng mông các loại cá cũng biết lấy màu sắc để dẫn
dắt bạn đồng loại.
Trên thế gian, có người khi phát ngôn, lời nói ra như tranh họa, như thơ
ca có sức thu hút, chuyển hóa lòng người. Người đó khi đối diện với bất cứ
đề mục nào đều có thể vận dụng ngôn ngữ diễn thuyết trình bày vấn đề một
cách rõ ràng, tươi sáng, sinh động và hoạt bát. Có người dùng ngòi bút
viết lách sáng tác,văn thơ khúc chiết, sinh thái uyển chuyển, tình tiết
dồi dào, khiến người đọc trực tiếp cảm thán; trong văn vừa có sắc tranh
họa, lại vừa có v ị thơ ca.
Trẻ sơ sinh, khi vừa lọt khỏi lòng mẹ, thích nhìn đồ vật có màu sắc.
Trong đời sống, chúng ta thông thường yêu thích nhất là mùa xuân. Vì mùa
xuân đến, khí hậu ấm áp,cây cỏ tươi nhuận đâm chồi nảy lộc, trăm hoa đua
nở rực rỡ, tươi tốt, khiến lòng người tràn đầy niềm tin yêu hy vọng, tin
tưởng cuộc sống sẽ thu hoạch được nhiều thắng lợi rực rỡ, tốt đẹp như hoa
xuân.
Cuộc sống con người, có người cảm khái rằng cuộc đời mình là màu sắc
xám tro; lại có người vì thân thể không được khỏe mạnh, không được xinh đẹp, lại không có lý tưởng, không có mục tiêu, không hạnh phúc; cuộc sống buồn
tẻ, vô kẻ tri âm, vô người tri kỷ, từ đó cho rằng cuộc đời mình là màu đen
tối. Thật ra, mỗi người chúng ta, luôn mong muốn đời sống của mình được phồn
thạnh muôn hình muôn sắc hạnh phúc.
Chúng ta làm thế nào để sáng tạo cuộc sống phồn thạnh, hạnh phúc ấy?
--- Thể hiện đời sống với tinh thần "vì
người quên mình",vì người phục
vụ, cùng người rộng kết thiện duyên, đem niềm hoan hỷ cho người. Từ chỗ thực
hiện việc thiện như nước nguồn chảy mãi không ngừng ma hội tụ được duyên
lành đi đến đâu đều nhận được người hoan nghênh, và đến bất cứ nơi đâuđều
sống được đời sống tùy duyên tự tại. Nếu chúng ta biết lấy sự mỉm cười hoan
hỷ khen ngợi người để sáng tạo nên màu sắc như ý thì đó chính là mình đã
thành tựu được đời sống phồn thạnh kiết tường như ý.
Chúng ta làm thế nào để tạo nên đời sống mầu sắc linh hoạt, phồn
thạnh? – Nước mầu,chì mầu,phấn
mầu,nhuộm mầu…;đơn lẻ một mầu thì
luôn luôn là đơn điệu; cũng vậy, đời sống chúng ta không thể đơn điệu một
mình một công việc, mà cần nên học tập đức Quán Thế Âm Bồ Tát hóa thông biến
thiên bá ức hóa thân. Ví dụ như, khi tan sở về nhà, sống đúng với chức năng
hiện tại của chính mình là người vợ, người chồng, người con, người cháu,
người cha, người mẹ, người ông, người bàv. v…Khi ra khỏi nhà, cần nhận định
rõ góc sắc của bản mình. Nếu là người chủ thì phải đam đang gánh vác trách
nhiệm, và phải biết yêu thương đùm bọc người dưới; nếu là người bộ thuộc thì
cần nên cần mẫn siêng năng với chức vụ mà người chủ giao phó, tín nhiệm, và
nhất là có lòng trung thành với người chủ của mình; nếu là người thầy cô
giáo, cần phải đem kiến thức truyền trao cho tất cả đàn hậu học, dạy người
không biết mỏi mệt như trận mưa trào tưới nhuận khắp mặt đất; nếu là người
phụ mẫu của dân thì phải hết lòng vì dân phụng sự.
Nếu chúng ta biết đem thiện tâm của mình trải khắp thế gian, đem cái sơ
ûhọc hiểu biết của mình với tinh thần tôn trọng, yêu thương bao dung truyền
bá cho xã hội; đem chơn tâm thanh tịnh cúng dường thập phương pháp giới
chúng sanh; đem tâm thiện mỹ cùng người kết duyên lành v.v…; đó chính là ý
nghĩa đem mầu sắc tươi sáng diệu mát phồn thạnh trải khắp thế gian, và đó
cũng chính là điều kiện tư nhiên đưa đến cho chính mình đời sống hạnh phúc,
kiết tường có đủ muôn hình muôn dạng sắc tố tươi sáng huy hoàng.
GIÁO DỤC CHÍNH MÌNH^
自我教育
Cuộc sống của con người, khi tuổi thơ dại có cha mẹ giáo dục dạy dỗ;
khi lớn lên đến tuổi đi học, tiếp nhận sự giáo dục dạy dỗ của các thầy cô
giáo. Đến khi trưởng thành lại tiếp nhận sự giáo dục của xã hội. Trong các
tầng cấp giáo dục đó, đều lấy sự giáo dục chính mình làm căn bản.
Giáo dục là sự uốn nắn, sự sửa đổi tập khí khơng thuần mỹ của con
người trở thành tốt đẹp, khiến cho đời sống nhân cách được nâng cao. Người
ngu độn sống với cuộc sống nhọc nhằn, đau khổ không kinh nghiệm; còn người
thông minh tài trí thì nhạy bén, biết rút tỉa kinh nghiệm của người khác để
tạo nên trí tuệ cho chính mình. Người tầm thường như chúng ta có trải qua
nếm mật nằm gai mới thấu hiểu được kinh nghiệm cuộc sống. Nếu chúng ta thời
thời, khắc khắ chỉ biết nương dựa vào sự giáo dục chỉ bảo của người khác, mà
không phát huy tiềm năng giáo dục chính mình, thì chẳng khác nào tương đồng
với một bộ y phục nhiễm sắc từ ngoài mà có, không có vốn liếng gì riêng cho
chính mình. Y phục nếu không có bản sắc gì riêng cho chính nó, thì màu sắc
nhiễm nhuộm kia sẽ nhanh chóng bị các yếu tố ngoại giới làm tan biến sắc
chất. Cũng vậy, nếu tự chính mình biết tư duy, phản quan tự kỷ, tự mình hoàn
thiện giáo dục, sửa đổi các tập khí không tốt đẹp của chính mình trở thành
trong sáng tốt đẹp, thì mới tương xứng với ý nghĩa giá trị bản chất chơn
thật thiệïn my. Con người chúng ta, mỗi người đều vốn có bả thể chân thiện
mỹ. Bản thể đó được hiển lộ khi chúng ta biết tự mình khéo vận dụng pháp
giáo dục chính mình.
Châu Xử trị đựơc ba cái hại trong cuộc sống là do ông ta khéo nắm bắt
được pháp tự mình giáo dục lấy chình mình, và không ngừng chân thành ăn năn
sửa đổi những những lỗi lầm xấu dở của chính mình mà trở thành vị anh hùng
danh thơm tiếng tốt trong lịch sử. Trong lịch sử Phật giáo, Châu Lợi Bàn Đà
Dà, tuy là người căn tánh ngu độn, nhưng do ông ta thành tâm khẩn ý vận hành
pháp giáo dục chính mình một cách thấu đáotheo lời chỉ dạy của đức Phật:
"Quét
bụi trừ dơ."Cuối cùng, ông đã
thành tựu được trình độ “minh tâm kiến tánh”, trở thành vị thánh đắc đạo a
la hán quả.
Trong nghi thức Phật giáo, giáo dục chính mình gồm có các pháp: sám
hối, thiền tập thiền quán, phản tỉnh tự nhận ra lỗi sai trái, tự mình đạt
yêu cầu cải thiện lấy chính mình. Ngoài ra, cần phải tiến hành ba pháp học:
Văn –tư- tu để giáo huấn; hoặc thông qua tham vấn thính giáo để giáo huấn;
lại có lúc phải sử dụng đến pháp tư duy sâu sắc để hiểu rõ bản chất chơn
thật của chính mình và sự vật để giáo huấn cải thiện. Trong pháp giáo dục
chính mính, thậm chí có lúc một mình học không thông, đọc cũng không suốt,
nhưng nếu phát tâm chỉ dạy giúp đỡ người khác thì tự nhiên sẽ cảm nhận được
kết quả diệu kỳ của sự dạy và học hỗ tương trưởng thành. Nếu có khả năng vận
hành pháp "dạy và học"
đạt đến trình độ thể hội, thì đó chính là đã thành tựu được điểm đích của sự
giáo dục chính mình.
Ở vùng Đức Châu nước Mỹ có một vị già lão tên Kiều Trị, 98 tuổi mới bắt
đầu cặp sách đến trường học để thoả mãn nguyện vọng mà bà ta đã ấp ủ từ lâu;
lậïp ra kỷ lục thế giớùi: "người
học sinh tiểu học cao tuổi nhất thế giới. Bốn năm sau bà ta viết ra bộ tiểu
thuyết dài. Thế là trên thế giới lại sản sanh được một nữ tác giả tiểu
thuyết cao tuổi nhất. Vị nữ tác giả ấy, sanh trưởng trong một gia đình nông
dân nghèo khó, khi bốn tuổi đã phải xuống ruộng trồng bông gòn, không có cơ
hội đi học; nhưng bà ta trong lúc xuống ruộng trồng bông gòn, nghe bà nội
kể các câu chuyện, tự mình đã biết biến thành một loại hình thức học tập.
Điều đó đã chứng minh rằng bà ta ngay từ nhỏ đã biết khéo vận dụng
"tự mình giáo dục".
Ngày nay sự giáo dục, phần lớn đều là truy cầu học tập tri thức, học
tập kỹ năng, học tập mưu lợi mà thiếu sót đi sự sanh hoạt giáo dục. Thế nên, có vị học đến hàng tiến sĩ mà vẫn không biết cách sống làm người. Tốt
nghiệp đại học cũng không biết cách pha trà mời khách. Đó là sự thất bại
trong ngành giáo dục. Phật giáo giảng dạy gánh nước bửa củi đều là Phật
pháp, chính là chú trọng sinh hoạt giáo dục.
Lời mà người xưa nói rằng: "Tình
người viên dung tức văn chương",
hàm ý nói rằng, một tác phẩm được xem là áng văn chương, điều kiện tự nhiên
đòi hỏi nội dung và hình thức của tác phẩm đó phải thể hiện được chân tướng
nhân tình, sự lý viên dung. Do vậy, "giáo
dục chính mình" là pháp học căn
bản để hoàn thiện điểm đích cuộc sống nhân cách, đạo đức chân thiện mỹ mà
đòi hỏi mỗi người chúng ta muốn thành tựu, thì không thể không vận hành.
KHIÊM CUNG^
(低頭)
Một ngày nọ trên chuyến du lịch đồng hành, có một người khách hỏi một nhà
triết học: “Từ mặt đất lên đến bầu trời xanh kia có chiều cao là bao nhiêu?”
Nhà triết học trả lời:--- ba thước cao.
- Thấp như vậy sao? Con người chúng ta chẳng phải vốn đã có chiều cao
ít nhất là ba tất, bốn tấc, năm tất, sáu tất rồi sao?
Nhà triết học đáp:”Đúng vậy, nếu bạn vượt qua ba tất thước cao của con
người thì bạn phải biết vận hành pháp đứng vững giữa trời đất, và nhất là
cần phải nên hiểu biết thực hành pháp khiêm cung”.---Đó là đoạn đối thoại
dồi dào sức sống về đời sống triết học.
Các nhà nho thời cổ đại, người học trò bắt đầu vào học, trước dạy họ
khấu đầu bái sư, thậm chí bạn bè tương giao cũng phải cúi đầu thi lễ. Tín đồ
Phật giáo, tin Phật trước phải lễ bái chư Phật, chư Tổ. Trong cuộc sống, nếu
không lấy pháp khiêm cung cùng người tiếp xúc, lại tùy ý mình muốn dài ngắn,
cao thấp thế nào, tùy mình dọc ngang tung hoành, thì làm sao có thể bảo toàn
được cuộc sống tốt đẹp. Thế nên, chúng ta muốn cùng người tạo mối giao tiếp
tốt đẹp, tất nhiên đòi hỏi chúng ta phải biết thực hành pháp khiêm cung.
Trong giao tiếp giữa người và người, khiêm cung là tượng trưng cho sự lễ
phép, lịch sự; là biểu thị nhân cách khiêm tốn, khiêm nhường cao qúi. Cuộc
sống của đờiù người có hiểu biết và thực hành được pháp khiêm cung chân
thiện mỹ đó thì mới có thể đột phá triệt tiêu đi cái ngã chấp khổng lồ, để
khai mở đời sống trong sáng tiến bộ, và mới không bị thất lợi trong giao tế. Trong Phật giáo, mỗi người Phật tử đều thực tập cúi đầu lễ bái là biểu
hiện mình cùng đức Phật tiếp tâm. Thế hệ con cháu, thế hệ đàn em khi đến
trước các bậc tiến bối, các bậc tôn túc thẳng mình cung thủ cúi đầu thi lễ
chào hỏi, là hành động biểu lộ rằng, lớp hậu học chúng concần đến sự quan
tsâm của quý ngài.
Khiêm cung là biểu hiện sự lễ phép, cung kính nhún nhường; nhưng trong
Phật giáo, pháp hành khiêm cung có lúc không phải hoàn toàn bắt buộc cúi đầu
thi lễ, mà có lúc cần phải ngẩng cao đầu chiêm ngưỡng. Khiêm cung còn được
biểu hiện bằng tâm ý thanh tịnh đi nhiễu Phật, nhiễu tháp biểu thị tâm lưu
luyến cung kính, cho đến thu nhiếp ba nghiệp, tịnh tâm quán tưởng. Do vậy,
pháp hành khiêm cung của Phật giáo rất sâu rộng, đáng thời cúi đầu nên cúi
đầu, đáng lúc ngẩng đầu nên ngẩng đầu; đáng thời đi nhiễu hành nên đi nhiễu
hành; tuy øthời hợp cảnh mà hành pháp. Lại nữa, khiêm cung chính là con
đường giao thông, là chiếc cầu thông thương được biểu đạt qua tâm ý truyền
đến đối phương niềm hoài cảm hỗ tương tôn trọng tiếp nhận.
Trong pháp hành cúi đầu hành lễ của Phật giáo còn có cách giải thích
khác nữa là: Cái gọi là” chăm sóc bước chân’’, ý chỉ rằng, chúng ta làm
bất cứ việc gì, cần phải có tư duy quán sát sao cho hợp thời, hợp lý; làm
đâu ra đó và làm cho đến nơi đến chốn với lòng khiêm cung chân thật. Bởi vì
đối diện với bất ky øcông việc làm nào, nếu chúng ta với tâm khiêm cung cần
lao khẩn ý thì mới thành tựu được nền móng đời sống vững chắc. Trên lộ trình
giao thông, vì muốn an toàn, khi đi đường bộ, hoặc khi lái xe, chúng ta đều
phải nhìn xuống mặt đất và cẩn thận chăm sóc lấy từng bước chân của mình
trên đường đi, chứ không dám ngưỡng mặt nhìn trời mà đi. Trong cuộc sống,
nếu chỉ biết hướng lên phía trước để tìm tòi, để so đo tật đố, thì người đó
nhất định sẽ gặp thất bại.
Khiêm cung là một cử chỉ thành thục, đầy đủ đứùc chân thiện mỹ. Chúng ta
cùng quán xét xem cây cỏ khi kết trái đơm bông đều hướng xuống mặt đất trĩu
cành. Cây lúa khi trổ bông chín mùi thơm ngát cũng trĩu ngọn cúi đầu. Thế
nên khiêm cung là cử chỉ cao qúy khién cho người khác ngay khi tiếp cận liền
khởi tâm yêu mến, hoan nghinh. Làm người, nếu tự cho rằng mình có dáng cao
to trượng phu tướng, lại có địa vị, có uy quyền rồi sanh tâm cao ngạo, uỡn
ngực vênh vang, đầu ngưỡng thật cao mạnh bước hiên ngang. Hạng người đó
đáng liệt vào danh thứ nào? Trên lịch sử thế giới, các bậc hiền thánh được
mọi người tôn xưng là bậc tài cao đức trọng vì họ suốt cuộc đời họ biết sống
và phụng sự trong pháp hành khiêm cung. Cống cao ngã mạn sẽ làm tổn thất
nhân đức; khiêm cung nhã nhặn, sẽ tăng trưởng nhân cách đạo đức và là pháp
thu phục lòng người thành công. Chúng ta là hàng hậu học cần nên noi gương
hàng thánh nhân học tập pháp hạnh khiêm cung mới tạo được cùng người mối
rộng kết thiện nhân duyên.
Người biết sống khiêm cung nhất định sẽ có cuộc sống hạnh phúc, và sẽ
có ngày thành đạt vinh quang.
Thưa qúy đọc giả, qúi vị đã từng thể hội qua thành qủa tốt đẹp kỳ diệu
của pháp hạnh khiêm cung?
Đời Sống Mỹ Học^
生活的美學
Cuộc sống
của con người không thể tách rời nhu cầu sanh hoạt thực tế về ăn, mặc, chỗ ở
và làm việc; đồng thời không thể xa lià nhu cầu hoạt động tự nhiên: đi,
đứng, nằm, ngồi.
Bạn xem
kìa! Có người trên thân mặc gấm nhung, lụa là lại cảm thấy mắc cở vì thân
hình mình xấu xí, bởi vì người đó không có mỹ cảm nội tại. Lại có người tuy
mặc quần thô, áo vải, nhưng lại cảm thấy bằng lòng và an vui với những gì
mình hiện đang có; là vì người đó vốn có nguồn mỹ cảm nội tâm và nhân cách
cao thượng!
Người có
linh nhãn cảm nhận đượcï những nét đẹp huyền diệu của cuộc sống. thì tuy
sống trong hoàn cảnh bần hàn, nhà cửa chật hẹp nơi đường cùng góc hẽm, song
vẫn tự cảm thấy trời đất cao rộng thêng thang và cùng trời đất thể hội cuộc
sống an lạc, tiêu dao tự tại. Còn ngược lại, người không có tầm nhãn quang
cảm thọ được chơn, thiện, mỹ của cuộc sống thì dẫu rằng có ruộng vườn bạt
ngàn, cò bay thẳng cánh, nhưng luôn luôn cảm thấy trời đất nhỏ hẹp chật
chội.
Nhan Hồi
:<một chén cơm đạm bạc với một bầu nước trong , suốt cả đời người sống một
cuộc sống thanh bần lạc đạo, không một lời than thở, ưu phiền> . Bởi vì Nhan
Hồi thấu hiểu được nghệ thuật cuộc sống, cho nên đời sống của ông không bị
các loại dục lạc vật chất trói buột làm khổ não.
Từ xưa đến
nay đã có biết bao hàng thương nhân tỷ phú , hàng cao quan bá tước thối vị
quay về ở ẩn vui thú điền viên, chỉ vì họ muốn vọng tầm cái đẹp sâu sắc tiềm
ẩn trong sanh hoạt cuộc sống. Và cũng có người vì muốn thể hội cái đẹp trong
cuộc sống phụng hiến mà buông bỏ mọi riêng tư , trọn đời hiến dâng tâm lực
phụng sự quốc gia, dân tộc.
Tịnh Độ
tông, kinh A Di Đà có đoạn miêu tả về mỹ cảm cuộc sống của đức Phật A Di Đà
trên cảnh giới cực lạc ” Thất bảo hàng thọ, bát công đức thuỷ, đình đài lâu
các; “Còn cảnh giới địa ngục” rừng đao, kiếm nhọn, biển dầu sôi sục, cột
đồng rực đỏ, hầm gai tăm tối…” là trình hiện mặt trái hoạt cảnh mỹ học của
đức Địa Tạng Vương Bồ Tát
Thiền sư
Cao Phong lấy gốc cây làm nơi trú ngụ, không đắm trước vật thực,y phục của
người cúng dường. Người đời dèm pha ngài thân hình cấu uế. Thiền sư nói:”Tôi
tuy không cạo râu tóc , nhưng thân tâm đã tự thanh tịnh. Tôi tuy không có
quần là áo lụa, nhưng biết tự lấy nhân cách để trang nghiêm. Tôi mặc dù
không có sơn hào hải vị. Nhưng trọn cuộc sống đều có thiền pháp làm vị lạc
thực bổ dưỡng thể lực và tinh thần. Thậm chí từ sơn hà đại địa, cho đến chim
muông thú dữ đều là những người bạn thân yêu của tôi!”. Những nhân vật trên
chính là những người chân thật hiểu thấu suốt về cuộc sống mỹ học.
Ngài Triệu
Châu tám mươi tuổi còn đi hành khước hóa duyên, là vì ngài muốn suy tầm cái
đẹp của cảnh giới, suy tầm cái đẹp của đạo lý. Tổ Bồ Đề Đạt Ma quay mặt vào
vách chín năm cũng chỉ vì muốn tìm cái đẹp huyền diệu của nội tâm. Có vị
thiền sư nọ khi đã ngộ đạo, có chim khổng tước ngày ngày hiến dâng hoa qủa
cúng dường ; hổ báo, sư tử đều chầu bái. Những liệt tích đó đã thuyết minh
cho chúng ta rõ, các vị thiền sư do dụng công hướng sâu vào thế giới mỹ của
nôi tâm và ngoại cảnh mà thu hoạch được cái chân mỹ diệu kỳ của cuộc sống,
mà tác động linh cảm đến vạn vật cùng tương tụ cộng hưởng .
Mỹ là một
loại hình nghệ thuật, là sự cảm thọ của trái tim. Cái mỹ của tâm linh là tư
sản trân quý nhất của mỗi người chúng ta. Khi trái tim có sự rung động cảm
xúc về cái đẹp thì trong sanh hoạt tự nhiên không có nơi nào là không chơn;
không có nơi nào là không thiện; không có nơi nào là không mỹ!
Hiếu Thuận Cần Kịp Thời^
孝順要及時
Có một chú ếch con luôn luôn đối nghịch ý mẹ; khi ếch mẹ bảo nó hướng về
phía đông đi thì nó lạiï hướng về phía tây đi. Rồi khi ếch mẹ bảo nó hướng
về hướng tây đi thì nó lại khăng khăng hướng về phía đông đi. Thế rồi một
ngày nọ ếch mẹ lâm trọng bệnh, biết mình sắp phải từ giã cõi đời. Ếch mẹ
mong muốn sau khi chết thân xác mình được chôn trên đất núi, ếch mẹ không
muốn nằm nơi đất sình lầy ẩm ướt. Biết ếch con luôn luôn đối nghịch với ý
mình, nên ếch mẹ trước khi nhắm mắt lìa đời liền kêu ếch con lại trăn
trối:”Sau khi mẹ qua đời, mong con đem xác mẹ chôn bên ven ao hồ. Chú ếch
con này ngày thường luôn luôn làm trái nghịch ý mẹ; đột nhiên hôm nay nhìn
thấy mẹ qua đời, ếch con đau buồn, lòng ray rứt hối hận.Thương nhớ lời mẹ
trăn trối, lòng hiếu thuận sanh khởi, ếch con đem xác mẹ chôn bên ven bờ
sông cạnh đó. Ngày ngày khi hoàng hôn buông màn, ếch con lòng hồi hộp lo sợ
xác mẹ bị nước cuốn trôi mất, liền đến bên bờ sông than khóc gọi mẹ. ----
Khi cha mẹ còn sống ở đời, không vâng thuận theo lời người chỉ giáo, rồi khi
người đã nhắm mắt lìa đời, đi về thế giới khác thì lại ôm lòng ray rứt
thương tiếc nhớ thương, muốn làm việc hiếu thuận để báo đáp thâm ân thì ôi
thôi đã muộn rồi; cho dù có đau buồn ngày ngày đến bên mộ mẹ than khóc như
ếch con cũng không kịp nữa rồi!
Xã hội ngày nay, ngày càng không chú trọng đến luân lý hiếu đạo nữa,
nhất là vấn đề niên đại tuổi tác tư tưởng sai khác giữa các thế hệ dẫn đến
<mối quan hệ thân tử> của người hiện đại ngày càng đơn điệu, lạnh nhạt; thậm
chí xa rời luân thường đạo lý. Sự kiện này phơi bày rất rõ. Khi đến bệnh
viện bạn hãy để mắt quan sát xem, sự chênh lệch giữa hai đối tượng: phòng
bệnh người già và phòng bệnh trẻ em; <cha mẹ hiếu thuận con cái thì rất
nhiều, còn con cái hiếu thuận cha mẹ thì rất ít>. Do vậy, người dân gian
thường nói:”bệnh nằm lâu trên giường, mỏi mắt chờ trông, mới nhìn thấy được
lòng người con hiếu thảo>,có nghĩa rằng khi lâm trọng bệnh phải trú thân nơi
bệnh viện điều trị lâu dài, con cái bình thường lui tới viếng thăm đã là khó
khăn rồi, chứ đừng nói chi đến việc quan tâm chăm sóc.
Lại nữa, cha mẹ khi bình thời đưa con đón cháu đi học từ ngày này qua
ngày nọ; từ tháng này qua tháng kia, từ năm này sang năm khác, trọn cả cuộc
đời phụng sự bảo dưỡng từ con đến cháu không hề một lời than oán, kể công
hay ân hận. Thế mà hàng con cháu, khi cha mẹ thân thể không an thuận phải
đưa cha mẹ đi bệnh viện kiểm tra bệnh lý hoặc điều trị; đưa đi một lần, hai
lần, đến lần thứ ba thì đã lộ vẻ mặt không vui, không nhẫn nại làm tiếp tục.
Còn nếu vì cha mẹ làm một chút sự việc gì thì lại tính kể như cả một đại ân
huệ. Đài Loan có câu chuyện <cái chén ba đời> kể rằng:”Nhớ rằng,thuở ban đầu
tôi nuôi con, con tôi nay có gia đình, tôi lại tiếp tục chăm sóc cháu; Con
tôi bỏ đói tôi vì nó đói chớ đừng nói chi đến hàng cháu bỏ đói tôi”. Ôi!
Thật đáng thương thay, tấm lòng cao cả của cha mẹ!
Tại Nam Hải, núi Phổ Đà có một người buôn heo, đối đãi cha mẹ.không một chút
hiếu thuận, thường hay phản nghịch cha me; thâm chí mắng nhiếc cha mẹ không
tiếc lời, khiến cha mẹ anh ta ngày dài áo não, buồn lo. Một ngày nọ, anh ta
cùng với một số bạn bè đến núi Phổ Đà lễ bái cầu phước, vì anh ta nghe thiên
hạ đồn rằng núi Phổ Đà có Quan Âm sống. Khi đến nơi, anh ta không quản ngại
đường xa vạn dặm mỏi mệt, hỏi thăm từng người đường đến gặp Quan Âm. Trên
đường đi, lành thay! Có một vị hoà thượng mách bảo anh ta:”Đức Quan Âm sống
đó đã đi đến nhà anh rồi.” Anh ta nghe xong vội vã quay trở về nhà, mở cửa
bước vào gặp ngay người mẹ đang hối hả đi ra đón anh trong dáng cách như vị
hoà thượng mách tả. Anh ta vỡ lẽ, hiểu được lời giáo huấn của vị hoà thượng
trên đường nọ:” Phật, bồ tát tại đường không lễ bái; song thân tại nhà không
hiếu dưỡng, đường xa vạn dặm lễ bái Phật cầu phước báo, thành tựu được công
đức?”.
Hiếu thuận cha mẹ không phải đợi đến lúc cha mẹ trăm tuổi lâm vào trạng
thái sức mòn lực kiệt, thống khổ trên giường bệnh, hoặc đã quy tiên chầu
Phật thì mới xúc tiến bày mân cao cỗ đầy, kèn trống linh đình, khóc kêu thảm
thiết bày tỏ lòng hiếu thảo, thương tiếc. Ngay khi cha mẹ còn tại thế cần
nên lòng thành đối đãi hiếu thuận. Thời đại Nam Bắc, triều đại Quỳ Tấn, Tấn
Vũ Đế hạ lệnh triệu thỉnh vị giáo thọ của Thái tử Lý Mật Đáng, nhưng ông ta
nói:” Thần đẵ trọn tiết ngày dài bên vua phụng sự, còn báo dưỡng mẹ già Lê
Thị thì chỉ có ngắn ngày!” Lời nói đó cho thấy rằng: Hiếu dưỡng cha mẹ cần
phải kịp thời, vạn muôn không thể đợi đến lúc “Cây muốn lặng mà gió không
dừng, con muốn hiếu dưỡng mà cha mẹ không còn chờ đợi nữa.”thì nào có khác
gì như chú ếch con khờ dại kia trọn ngày đêm bên bờ sông khóc lóc thảm thiết
thương nhớ kêu gọi mẹ?
Ánh Sáng Tâm Linh^
心靈的曙光
Thế kỷ 20 mở đầu sự giao tiếp kỷ nguyên quang minh mà dân chúng trên
toàn địa cầu đã thâu suốt ngày đêm nhiệt tình kỳ đợi; Và ngày ấy đã đến, ánh
quang minh đã chiếu sáng đến tận khắp thôn cùng ngõ hẻm đột phá màn trời đen
tối, hướng xuống đại địa buông tỏa, khiến cho mỗi bông hoa, mỗi gốc cây, mỗi
ngọn cỏ, cho đến mỗi động vật, mỗi con người…sum la vạn tượng nói chung đều
được tắm mình trong niềm vui sướng ấm áp. Cuộc sống ấy ai là người không reo
vui hoan ca. Người người nhà nhà đều cảm nhận được nắng ấm tâm linh của ánh
bình minh chiếu soi. Sống trên thế gian, chơn tâm bị ngoại cảnh làm ô nhiễm,
chúng ta bị các loại phiền não và vật dục trói buột giam cầm, thậm chí trọn
ngày bàng hoàng lo sợ không yên, khó có được một khắc tâm linh thanh thản
nhẹ nhàng trong suốt.
Chung quanh chúng ta, bạn hãy nhìn xem, có người có thói quen tự đem
cái khốn khổ buồn phiềøn nhốt vào tâm hồn, rồi tự mình oán trách đay nghiến
sót xa; Lại có người vì cố chấp cái chủ quan của tự ngã, không những không
chịu tiếp nhận cái hiểu biết mới mà còn tự đem cái cố chấp bảo thủ đó kết
thành võng lưới bao chụp lấy mình. Lại nữa có người bị chìm đắm trong ngòi
lạch dã tâm mà trở thành tội nhân trọn phần đời phải mang gông cùm ở nhà lao
ngục. Có người vì nặng tham luyến dục vọng vật chất mà bị dẫn sâu vào lao
ngục dục vọng bức bách.v.vv..
Thế rồi sau mỗi cơn đêm mộng, thức dậy có một ánh sáng tâm linh huyền
diệu xua đuổi vô minh hắc ám, thù hận nghi ngờ, tật đố…vô lượng vô biên
phiền não thống khổ, đồng thời đưa tâm trí trở về bản nguyên thanh tịnh.
Trong {Tâm Vương Danh} ghi: “Tâm trí thanh tịnh, được ví đồng với thế
giới vạn kim. Bát nhã pháp tạng tức bản thể chơn tâm vốn có ở tại tâm của
mỗi người”. Đức thánh Khổng Tử tuy cuộc sống đạm bạc cơm dưa muối với nước
trong; khi ngủ lấy tay làm gối gối đầu, nhưng người vẫn sống với đời sống
tâm hồn thanh thản, tự tại tràn đầy an lạc. Trong Phật môn người đệ tử xuất
gia phản nghịch thầy tổ, do sớm biết hồi đầu nhận ra chỗ mình sai lầm mà cảm
nhận được: ”Sự giác tỉnh về sự vô tri của niệm trước mà sanh lòng hổ thẹn,
hồi đầu thị ngạn, đó đều là do có ánh sáng huyền diệu của tâm linh chiếu
sáng. Đường Thái Tông được tôn làm thiên tử là do ông hiểu biết cách khéo
trọng dụng hiền nhân, nhất là khéo biết điều phục thuận hợp và xúc tiến theo
những ý kiến đóng góp chơn chánh hợp pháp lợi sanh của các hàng quần thần.
Đó cũng là do có ánh sáng huyền diệu chơn tâm chiếu soi chỉ đạo ông. Khi
Phật còn tại thế, Đề Bà Đạt Đa do tâm tật đố ngự trị mà lập muôn ngàn ác tâm
hại phật, bị đọa vô gián địa ngục; rồi cũng từ một niệm ăn năn, từ bi tâm
sanh khởi mà không bị ác ma lực kéo chụp muôn kiếp vùi sâu nơi chốn địa ngục
vô gián. Nhờ vậy mới có cơ duyên thoát ly địa ngục vô gián tăm tối đọa đầy.
Nếu như không có ánh sáng tâm linh chiếu sáng, thử hỏi làm sao có được nhựa
sống thức tâm tỉnh giác, và làm sao có được ngày hoan ca tươi sáng ấy?
Cổ đức có câu: “Không sợ vọng niệm khởi, chỉ sợ giác chiếu chậm”. Giác
chiếu đó chính là ánh sáng huyền diệu tâm linh. Do vậy người xưa thường nói:
phước đến từ tâm linh, chỉ cần thành tâm khẩn ý sống với chánh niệm thức tâm
tỉnh giác, lấy đó làm năng lượng vén vạch làn mây vô minh, thì liền ngay giờ
phút đó sẽ cảm nhận được ánh sáng mặt trời rạng chiếu, cây cỏ hân hoan vươn
mình hít thở không khí trong lành, trỗi mình tỏa hương khoe sắc, đắp xây
cuộc sống nhân gian tràn ngập nắng xuân hạnh phúc. Do vậy mà nói, khi tâm ý
được khai thông giác ngộ, tâm minh ý giải thông suốt thì đó chính là sự hiển
hiện ánh quang minh huyền diệu vốn có của mỗi con người chúng ta.
Mặc cho cuộc sống hồng trần cuồn cuộn phong ba, dạt dào ái nhiễm, nhưng
một khi chúng ta biết thắp lên ánh đuốc quang minh từ nội tâm, thì đức tánh
linh giác tri vốn tự có đầy đủ thường hằng hiển hiện ở mỗi chúng ta. Do vậy,
một khi tâm sân hận si mê sanh khởi thì đức tánh linh giác tri đó liền hiển
lộ hạt giống từ bi tươi mát, hóa giải; rồi khi tâm tật đố sanh khởi, nhìn
người với đôi mắt ngàn tia thù hận thì đức tánh giác linh liền cất lên tiếng
gọi nhân ái khoan dung xoa dịu hòa giải. Khi tâm hoài nghi sanh khởi, thì
tín tâm sẽ là lực lượng bồi dưỡng hóa giải. Thế nên khi trong đêm tối hãy
thắp sáng lên ngọn đuốc bát nhã. Khi thất ý, hãy đề ra niềm tin yêu hy vọng
của ngày mai. Khi buồn thương sanh khởi hãy tự quay lại nhìn lấy ưu điểm tốt
dẹp của mình, của người, đem lại cho mình niềm an ủi cổ vũ lạc quan; không
nên vì chỗ nghi hoặc, đố kỵ nhiễm ô làm chướng ngại, bởi vì chân lý là từ
chỗ thanh tĩnh mà ra, thiện lương là từ dức hạnh từ bi mà có. Cái đẹp của
nhân tánh cũng là từ tâm linh quang minh mà ra.
Thiên Đường Ở Đâu?^
天堂在那裡?
Thông
thường nếu có người hỏi rằng :<Thiên đường ở nơi đâu?> Nếu chúng ta đối với
cuộc sống nhân gian mà có được niềm tin yêu an trụ và yêu thương , thì bạn
có thể trả lời:”Thiên đường tại nhân gian!” Nếu bạn cảm thấy trên thế gian
lòng người hiểm ác, thị phi hỗn tạp, bạn chỉ cảm nhận được nguồn vui ấm áp,
trìu mến của gia đình, thì bạn có thể trả lời rằng:”thiên đường tại gia
đình”. Nếu bạn cảm thấy các phần tử trong gia đình lắm lời nhiều ý vô cùng
phức tạp, rối rắm, ồn náo; chỉ khi nào có được không gian ngồi một mình mới
có thể tìm thấy được sự yên tĩnh, tâm hồn thanh thản, thì bạn có thể trả
lời: “ Thiên đường ở tại tâm hồn của chính mình!” Ngược lại nếu trong tâm
hồn bạn tràn đầy nỗi căm hờn oán hận, giận đời, không một chút nào vừa ý hài
lòng, thì qủa là thật đáng tiếc cho bạn; cuộc sống của bạn không có thiên
đường, làm sao bạn có thể ngày qua ngày sống an trụ, sống ý nghĩa lợi ích?
Thiên
đường ở nơi đâu?--- Thiên đường chỉ cách địa ngục một vách tường mà thôi!
Có một mẫu
truyện thú vị kể rằng:” Thiên đường và địa ngục tương cách nhau một bức
tường đã bị gió bão thổi ngã. Thiên đế và diêm la tương ước các phái kỹ sư ,
luật sư, và các nhà ngân hàng cùng nhau thành lập “hồi phục ủy viên hội”.
Diêm la vương chờ đợi thiên đế biệt phái người, nhưng đã rất lâu vẫn không
thấy người được biệt phái đến, cuối cùng nhẫn nại không nổi, bèn hướng thiên
đế đề đạt lời cảnh cáo cuối cùng. Diêm vương muốn thiên đế chịu trách nhiệm
hậu qủa, bởi vì thiên đường và địa ngục như vậy không có sự ngăn cách khu
vực. . Thiên đế không ngần ngại nói:” Trong thiên đường của tôi thực tại tìm
không ra số lượng nhân tài đó!”
Ngoài ra
còn có câu chuyện khác kể rằng:---- Đũa ăn của người ở thiên đường và địa
ngục đều dài ba tấc, nhưng chúng sanh trong địa ngục mỗi khi gắp thức ăn đưa
vào miệng thì liền bị những người chung quanh tranh nhau cướp đoạt mất, do
vậy bỉ thử luôn có sự oán giận tranh cãi lẫn nhau không dừng nghỉ; Người ở
cảnh giới thiên đàng thì cũng dùng đũa dài ba tấc, nhưng họ không phải chỉ
tự gắp thức ăn đưa vào miệng cho riêng mình, mà là bạn gắp cho tôi , tôi gắp
cho bạn; do vậy bạn cảm ơn tôi, tôi cảm ơn bạn, bỉ thử vui vẻ hòa hợp .
Kỳ thật
tâm của mỗi người chúng ta, ngày ngày đều chìm nổi lặn hụp trong mọi cảnh
giới; từ cảnh giới thiên đường, cho đến cảnh giới địa ngục, thậm chí đến cả
cảnh giới ngã quỷ, súc sanh cho đến cảnh giới Phật, Bồ tát v.v…trong mười
pháp giới đó, chúng ta đi đi lại lại vô số lần. Chỉ cần chúng ta lấy từ tâm
đối đãi người, chịu vì người khác phục vụ thì đương thời là cảnh giới thiên
đường; Nếu chỉ riêng mình tự lợi, trong tâm tràn đầy nghi kỵ tật đố thì
đương thời là cảnh giới địa ngục, cảnh giới ngạ
quỷ.
Cuộc sống
trên thế gian đã được tính là thân trú cảnh thiên đường rồi , nếu không thể
nhận thức được sự tốt đẹp đó thì thiên đường sẽ chuyển biến thành địa ngục .
Nếu hiểu được lấy Phật pháp để xử lý cảnh tình khốn khó, chuyển hoá vận
nguy, thì địa ngục cũng có thể biến thành cảnh giới thiên đường.
< Lục Tổ
Đàn kinh > thuyết: “Ngày ngày thường làm việc lợi ích, thành đạo chẳng phải
do bố thí tiền của; bồ đề chỉ hướng tâm tìm, cớ sao nhọc công hướng ngoại
tìm cầu? Nghe pháp y theo đó mà tu hành. Thiên đường chỉ ở tại trước mặt”.
Thiên
đường ở tại nơi đâu?---- Thiên đường ở tại tâm của mỗi người chúng ta, chỉ
cần bạn có chơn tâm, thiện tâm, trực tâm, và thành tâm tức đã và đang sống
trong thiên đường hiện thực rồi!
CÁI ĐẸP CỦA TỰ NHIÊN^
自然之美
Đẹp llà cái mà tất cả mọi người mong muốn hy vọng và tìm cầu; giả sử
con người sanh ra không đẹp, nếu có điều kiện sẽ bằng mọi cách đi thẩm mỹ
viện để cải tiến sắc đẹp, hoặc dùng mỹ phẩm để hóa trang sửa hình sao cho vẻ
đẹp của mình được phần thăng tiến kiều diễm. Nhưng mà, bất kể là nhân công
thẩm mỹ có tài giỏi khéo léo đến đâu chăng nữa cũng không thể tái tạo được
nét đẹp toàn mỹ. Nói một cách chân tình thì nét đẹp nhân tạo vẫn luôn luôn
không bằng nét đẹp tự nhiên.
Cái đẹp của tự nhiên, chúng ta hãy nhìn xem! Trong vũ trụ, trời xanh
bao la, mây trắng bao la. Sau cơn mưa, ảnh hiện cầu vồng năm sắc, đêm đến
ngàn muôn ánh tinh tú, lấp lánh. Trăng sáng treo giữa trời không thanh tao
trong sáng một mình tự đăng cao, thâu qua vòng cung vọng nhìn hư không vô
biên giới, khiến cho người không những cảm nhận được nét đẹp diễm lệ, duyên
dáng cuả tự nhiên, càng khiến cho người cảm nhận được nét đẹp vô cùng vô tận
của tự nhiên.
Đứng giữa trời đất, bạn hãy nhìn xem, núi cao dốc đứng cheo leo; sông
biển mêng mông bạt ngàn sóng nước, khi thì cuồn cuộn trào dâng, khi thì dào
dạt âu yếm vỗ bờ. Biển rừng bao la sầm uất một màu xanh thẩm., sa mạc mêng
mông vô hạn v.v…; tất cả những cảnh tượng đại tự nhiên mỹ lệ đó đã tạo nên
đất mẹ hùng vỹ, bạt ngàn non sông gấm vóc, không những khiến cho người ca
tụng cái đẹp hùng vỹ của đại tự nhiên, mà càng phải thốt lời tán dương và
cúi đầu thi lễ khâm bái khí phách hồn thiêng sông núi đại tự nhiên.
Nét đẹp tự nhiên khiến người ngưòi đều ngưỡng mộ, khiến người người đều
ca ngâm. Trong cuộc sống, có người vì tìm cầu cái đẹp, tự nhiên không đủ
truy tìm nhân công thẩm mỹ viện để tu bổ; đình viện vườn hoa luôn luôn
thiết kế được cùng đại tự nhiên tương thân, tương cận; phòng đọc sách, phòng
tiếp khách, luôn luôn bố trí sao cho có vẻ mỹ cảm tự nhiên. Thậm chí từ y
phục, khuôn mặt, thân hình, tư thái v. vv… luôn luôn nghĩ đến biện pháp tiêu
chuẩn đẹp hợp thời trang
Kỳ thật mà nói, đánh giá về cái đẹp thì khó có gì để lấy làm tiêu
chuẩn; tuy nhiên, đã là đẹp, là mỹ thì cần phải có nguyên tắc. Đẹp cần phải
khiến cho người một khi nhìn đến, liền cảm thấy tươi mát dễ chịu, cần phải
tịnh hóa tánh linh, thăng hoa tâm thức, mở rộng tâm lượng, thậm chí vượt qua
thế giới hiện thực khiến đủ lực mỹ hoá cuộc đời, đó là ý nghĩa của cái đẹp.
Trên thế gian, vật kiến trúc, nếu vượt quá quy định của địa hình, thì
sẽ mất đi cái đẹp tự nhiên. Con người cũng vậy, nếu hóa trang vượt quá sự
sanh tạo cũng sẽ mất đi nét đẹp tự nhiên. Bởi vì, trang điểm má phấn môi
son qúa đậm nồng sắc tố, cố ý kiều mỵ tình nhân không những đã làm mất đi vẻ
đẹp tự nhiên mà thậm chí khiến ngườisợ hãi không dám nhìn.
Làm người khi nói chuyện cần phải có sự lưu loát, dí dỏm. thông tình
đạt lý; xử lý sự việc cần phải bình đẳng chân tâm, liêm chính; tiến thoái
cần phải thích đáng hợp thời, kịp lúc. Nếu có thể tiến hành được như vậy tức
đã tương cận tương hợp với cái đẹp của tự nhiên.
Những gì tự nhiên vốn đã hàm tàng cái đẹp cao quý! Đức oai vũ uy phong
của người nam tử, đức nhu hòa hiền diệu của người thục nữ, đức từ ái an hòa
của người già, đức thiên chơn lãng mạn của trẻ em; tất cả mọi hành vi cử chỉ
chỉ cần thể hiện tương ứng thích đáng với những đức tánh tự nhiên ấy tức đã
hiển lộ và thành đạt được nét đẹp tự nhiên cao quý vô giá.
SO BÌ^
人比人
Người và người cứ mãi so đo rồi sanh tâm phẫn nộ, tức tối.
"Nhân vô thập toàn mà!
" Chúng ta không nên cùng người
so bì, bởi vì cuộc sống thế gian này tất cả đều là tương đối,; mỗi người đều
có cái sở đoản, sở trường riêng của mình, có ưu、có
khuyết, không ai là toàn diện cả. Người mù cớ sao cười người câm; người câm
cớ sao cười người điếc; rồi người điếc tại sao lại đi cười người đui...Nếu
trong nhà tắt lửa tối đèn, ba người hợp lại chẳng phải là bảo đảm an toàn
tánh mạng sao?
Cuộc sống thế gian có biết bao hiện tượng chỉ do so bì mà khiến cho
tâm con người thất điên bát đảo: người cỡi xe đạp nhìn thấy người nọ cỡi mô
tô, khởi tâm so bì mặc cảm, thế rồi tìm mọi cách mua bằng được một chiếc
môtô với mã lực mạnh hơn người kia. Nhưng khi người kia đổi mô tô, mua xe
hơi thì anh chàng ấy lại sanh tâm ganh đua, tâm trí không ngừng vọng tưởng
mình làm sao cũng có được chiếc xe hơi đời mới. Thế rồi không lâu, người
kia lại đổi mua chiếc xe hơi khác moden, hào nhoáng hơn. Lúc đó anh chàng
này mới hồi tâm tỉnh ngộ thở dài than rằng:so lại đo đi, chỉ là tăng thêm vô
hạn lòng dục vọng,không những không đem lại một chút lợi lạc mà còn gây tạo
biết bao là phiền toái, khổ não.
Có người ỏ nhà tranh, nhìn thấy người bên cạnh cất nhà ngói, lòng dấy lên
dục vọng, mình cũng cất nhà ngói; thế rồi nhìn thấy ngưới khác xây cao
lầu,lòng dục lại dấy độïng, mình cũng phải xây cao lầu như người nọ. Nhà nọ
không ngừng phấn đấu và đã đạt được như ý, phòng nhà mấy căn đã xây xong;
thế nhưng ở không bao lâu, cảm thấy mỗi ngày phải bận rộn quét dọn, sắp
xếp…chẳng khác nào làm kẻ đầy tớ cho cao lầu, thật mệt mỏi.
Lại nữa, có nhà văn học nọ sau khi nhìn nhà triết học, tự thấy tướng
văn của mình sao mà vụng dại đần độn không bằng người, vì cho rằng kiến giải
từ triết lý văn nghĩa nội hàm của nhà triết học cao sâu, súc tích, rõ ràng
hơn mình. Còn nhà triết học nhìn thấy sự phát triển của nền văn minh khoa
học kỹ thuật ngày nay, lại cho rằng triết học gia như mình chỉ là luận giải
suông triết lý, không thiết dụng kịp thời với đời sống xã hộiï phát đạt khoa
kỹ ngày nay. Nhà khoa học gia ngày ngày vùi đầu giam thân trong phòng thực
nghiệm, lại tận lòng hâm mộ cuộc sống điền viên, khát khao mình có được một
cuộc sống thú nhàn hương quê.
Nham thạch không cần phải đem mình so bì với các tảng đá cẩm, đá vôi;
hoa cỏ cũng không nên cùng tùng bách so bì cao thấp; khe suối càng không nên
cùng hải dương tranh chấp rộng lớn; hàng bình dân cũng đừng nên cùng nhân
vật chính trị so bì quyền lực, bởi vì mỗi mỗi một nhân vật, mỗi một sự vật
đều có vị trí, tính chất mỗi chức năng riêng của nó; và mỗi một hiện tương
đều có mặt tốt, mặt xấu, có được, chỗ mất của riêng nó; do vậy, cái tinh mỹ
của nham thạch, hương thơm của hoa cỏ, róc rách của khe suối, sự thanh nhàn
của người bình dân…đều không phải là ở chỗ đá to, tùng cao, hải dương rộng,
chính trị quyền lực đáng so bì.
Thế nên chúng ta không nên lấy sự so đo bì lượng lẫn nhau làm mạch sống.
Cô nàng kia mặc dù đẹp hơn mình; song xin chớ cao mạn, mà hãy nên cẩn trọng
quán tưởng đến lời người xưa thường nói:
"hồng
nhan đa bạc mệnh". Anh ta mặc dù
có địa vị giàu sang phú qúy hơn mình, nhưng biết bao người đã chết vì tiền
tài, đã điêu đứng vì danh vọng, vì vậy bậc cổ đức thường nói
"thuyền to thì sóng cả,"
"càng
cao danh vọng càng nhiều gian nan"là
vậy. Anh ta con cháu đông, bỗng lộc lại phong hậu hơn mình, thế nhưng anh ta
ngày ngày không ít phiền não trầm nịch quấy nhiễu.
Từ đó suy ra lời người xưa kinh nghiệm:
"Người
ta cỡi ngựa, tôi cỡi lừa; xem ra trước mắt dường như mình thua kém, nhưng
ngoái đầu, thì qủa là mình vẫn có chỗ hơn ngườ".
Do vậy chúng ta không nên đem cái vốn có ngoại tướng thế gian để so bì, mà
nên đối diện so bì với chính mình về tâm đạo đức, tâm từ bi, tâm khoan dung,
tâm rộng kết nhân duyên bồ đề quyến thuộc…Đó mới là giá trị chính đáng để
chúng ta so bì.
Nhất Thời
Và Một Đời^
(一時與一世)
Cuộc sống thế gian là một mạng điện đồ hình nối tiếp giữa nhất thời và
một đời ---Đối trước một sự việc thiện mỹ, khiến trái tim ta nhất thời rung
cảm; Nỗi rung cảm ấy sẽ dẫn đến lòng ta một đời hoài niệm, nhớ ơn và báo ơn.
Cái danh dự vinh quang tuy là nhất thời, nhưng lại ảnh hưởng đến sự nghiệp
một đời;ø thọ giới là nhất thời, nhưng trì giới là cả một đời; uy khuất tuy
là nhất thời, nhưng thành tựu là một đời. Nhất thời và một đời, cái nào dài,
cái nào ngắn? ---Thông thường người ta cho rằng, nhất thời là thời gian
rất ngắn, còn một đời là thời gian rất dài. Thật ra, đứng trên chánh diện
lại nhìn thì thời gian một sát na vốn đã bao hàm ba giai đoạn thời gian:
thời gian trước< quá khứ>,
thời gian giữa <hiện tại>
và thời gian sau< vị lai.>
Như vậy, tuy là nhất thời, nhưng cùng với một đời chẳng phải là đồng nhất
sao?
Người tu hành tinh tấn dụng công, không sợ bất cứ một trở ngại khó khăn
nào; sự cực khổ chỉ là nhất thời, nhưng sau khi thành đạo có được pháp lạc,
đó mới là kết qủa vĩnh hằng. Phàm phu thế gian cứ mãi tranh cãi, đấm đá
nhau tàn nhẫn chỉ vì không nhẫn được cái nhất thời sân hận mà tạo thành tai
ương ảnh hưởng vô hạn phương diện; do không khống chế được cái nhất thời nộ
khí xung thiên mà cuối cùng đã tạo nên cả một đời ân hận cũng không chữa
lành được vết thương tâm. Do vậy cổ nhân thường nói:”Một lời nói có thể làm
cho nước nhà hưng thạnh, sự nghiệp công thành danh toại, cũng một lời nói có
thể khiến cho mất nước nhà tan, cơ nghiệp tiêu tán”. Có lúc một lời nói do
không cẩn thận, thiếu suy nghĩ, khiến cho một sự việc bình thường trở nên
phức tạp rắc rối, tổn thương người. Song, một lời nói có thể cứu được người
chết đi sống lại. Từ đó có thể nói sự việc tốt xấu, thành bại, sống chết
thông thường đều do xuất phát từ một lời nói mà thành. Một lời nói thiếu cân
nhắc suy nghĩ, tuy là nhất thời, nhưng sẽ làm tổn hại đến cả một đời người.
Vì vậy chúng ta đâu thể không cận thận đề phòng cái nhất thời loạn động xuất
ngôn, hành sự.
Thanh niên thời nay, tuổi vừa chớm lớn, thường hay tỏ ra mình là hạng
oai phong liệt dũng, chạy xe vượt tốc độ. Âm thanh vượt tốc kia chỉ là sự
nhất thời, còn cái hậu qủa thương tàn đáng tiếc kia là cả một đời cưu
mang.Thật đáng thương thay! chỉ vì một phút làm oai mà lưu lại cả một đời
vết tích thương tàn hối hận. Học sinh chăm chỉ khai phát tiềm năng, tuy là
nhất thời cực khổ, nhưng thành tựu kết qủa lại là ảnh hưởng cả một đời tương
lai. Người hiểu biết "dưỡng tâm
tích hậu" sẽ âm thầm tiếp nhận
sự cực khổ nhất thời, để đổi lấy cuộc đời tương lai rực rỡ.
Nam nữ yêu nhau, làm lễ kết hôn làviệc nghi thức nhất thời, còn việc
tương xúc sinh hoạt là cả một đời. Vì một đời cùng nhau chung sống nghĩa
tình mỹ mãn, bỉ thử đôi bên không thể lãng quên đi cái nhất thời yêu đương
hứa nhận lễ cưới. Có như vậy mới có thể bảo tồn được cuộc sống trăm năm hạnh
phúc.
Dân chủ tuyển cử, chọn phiếu bầu thì một phiếu, tuyển chọn phiếu, bầu
được ra vị công chức tài đức đại lao cho dân cho nước; là sự kiện có ảnh
hưởng rất rộng lớn. Bởi vì việc tuyển cử bỏ phiếu bầu chỉ một lần, nhưng ảnh
hưởng đến chính sách sinh hoạt của toàn dân trong hiện tại và tương lai là
vô hạn.
Nói "nhất thời"là
sự biểu thị thời gian qua đi rất nhanh, rất ngắn; còn nói
"một
đời "là sự biểu thị thời gian
dài, trường hằng của tương lai. Trên thế gian, chúng ta khi gặp phải sự việc
khốn khó kham nhẫn, nếu chúng ta biết để ra một phút lắng tịnh tâm trí quán
tưởng "đó chỉ là sự tình nhất
thời, rất nhanh nó sẽ qua đi thôi,"lập
tức tâm chúng ta sẽ trở nên thăng bằng an tĩnh, và sự khốn khó kia sẽ trở
thành đơn giản nhẹ nhàng. Cứ như thế mà quán chiếu thì khi đối đầu với bất
cứ nghịch cảnh đại nan giải, thống khổ như thế nào, chúng ta vẫn đủ năng lực
đột phá, đủ năng lực khắc phục, vững bước tiến lên. Trên thế gian, khi đối
diện với sự tình mưa thuận gió hòa, vui vẻ hạnh phúc, chúng ta cũng cần nên
sống với tâm niệm thức tâm tỉnh giác: "niềm
vui hạnh phúc hoan lạc đó cũng chỉ là nhất thời".
Có được nhận thức chánh niệm như vậy, tức là chúng ta đã thành tựu được đức
hỷ xả, không bị tham luyến vướng mắc trước mọi tình cảnh thuận nghịch buồn
vui. Như vậy thử hỏi có sự việc gì là không thành công?
Thế nên khi làm bất cứ việc gì, nên tự mình nhắc nhở: Lợi ích cho người
là một đời, nỗi khó nhọc kia chỉ là nhất thời. Không ngừng gieo trồng tâm
niệm như vậy, tự nhiên sẽ huân tập cho chúng ta có được đức tánh kên tâm bền
chí học tập cho đến khi thành công, không mệt mỏi.
Đời người chúng ta nhất thời gieo giống, hạt giống ấy sản sanh ra kết
qủa sẽ ảnh hưởng đến cả một đời, thậm chí là ảnh hưởng đến sự họa phước an
nguy trong nhiều đời nhiều kiếp. Do vậy để bảo tồn nhân tố tốt cho một đời
cũng như nhiều đời, phàm là làm bất cứ việc gì chúng ta đâu thể không thận
trọng ngôn hạnh cử chỉ của mình trong nhất thời nhân qủa!
Không Tham Là Phú Quý
^
(不貪為寶)
Thời xuân thu, nước Tống, có một người nhặt được một viên mỹ ngọc,
liền đem hiến tặng cho vị quan tên Tử Hãn. Tử Hãn kiên quyết chối từ không
nhận. Người đó cho rằng vị quan này không biết đó là viên ngọc qúy, nên
thẳng lời thưa :”Đây là viên bảo ngọc”. Tử Hãn đáp:”Ông lấy ngọc làm bảo
vật, còn tôi lấy không tham làm bảo vật”. Nếu tôi tiếp nhận viên ngọc qúy
này của ông tức là tôi và ông cùng nhau đánh mất đi bảo tạng của chính mình, chi bằng mỗi người chúng ta tự giữ gìn lấy bảo bối của chính mình.
Trên thế gian, có người lấy tiền tài vật chất làm của báu; có người lấy
địa vị làm của báu; có người lấy ái tình làm của báu; có người coi sinh mạng
làm của báu. Ngoài ra, có một số người khi đề cập đến báu vật, liền nghĩ đến
trân châu mã não, san hô hổ phách, cẩm thạch, huyền thạchv.v..
Vật mà thế gian cho là báu, là bảo bối; thật ra đó chỉ là trạng thái tâm
tham ái, tham chấp. Bởi vì có tham ái mới cần cầu đến vật báu, vật bảo bối.
Điển hình như có người lấy con cái làm vật báu; có người lấy vật cổ truyền
thừa làm của báu. Lại có người yêu qúy sách đến độ trở thành ngu xuẩn, sách
chính là bảo vật cuả anh ta; có người yêu thích nuôi dưỡng gia súc như chó,
mèo,chim muông….những con gia cầm ấy chính là của báu của anh ta. Lại có
người lấy vật mình yêu thích sưu tầm làm của báu, người yêu chuộng sưu tầm
tem,thì nhìn những con tem mà mình sưu tầm được là của báu; người yêu thích
sưu tầm cổ vật thì dưới mắt của nhà khảo cổ vật, từ những kho tạng sách cổ,
danh thiếp, hình tranh, vật trang sức, nhạc khí, hộp bật lửa, thậm chí thâu
được những mảnh đá sỏi có hình thù, sắc chất đặc biệt cũng đều coi nó là báu
vật của mình.
Bảo vật ngoài thân nhiều, không bằng trong tâm có đầy đủ chánh niệm. Bởi
vì bảo tạng chân thật chính là bản thể chân tâm của chính mình.! Tâm mình có
đầy đủ nhân nghĩa đạo tình, thì nhân nghĩa đạo tình đó chính là bảo tạng;
trong tâm có trời đất thì trời đất kia chính là bảo tạng; trong tâm có đạo
đức từ bi thì đạo đức từ bi ấy chính là bảo tạng. Bảo tạng tâm đó vô tiền
bạc, vô địa vị danh lợi, nhưng kông có của báu vật chất nào sánh bằng. Khi
trong tâm chúng ta có Phật, có Pháp, có Tăng, có chân lý, tức là tâm ta đã
có bảo tạng; Tâm chúng ta không tham lam, không sân hận, không si mê, không
ái dục thì tâm chúng ta vốn đã có vô lượng, vô biên, vô tận của báu.
Vào đời nhà Hán, có vị quan tên Dương Trấn, có người vì muốn cầu cạnh
ông ta giúp việc, nhưng biết ông là vị quan thanh liêm đoan chánh nên không
dám thanh thiên bạch nhật làm việc mờ ám, lợi dụng lúc đêm tối đem hai ngàn
lượng vàng đến cầu cạnh đút lót mong ông thu nhận giúp đỡ, nhưng vị quan ấy
cương quyết chối từ. Người kia khẩn thiết nài nỉ:”Xin quan trên chớ lo ngại,
không có người nào biết được việc này đâu!”. Vị quan Dương Trấn thẳng thắn
trả lời:”trời biết, đất biết, ông biết, ta biết, làm sao có thể nói không
ai biết được?”.
Người xưa thường nói:”Mua được ruộng tốt nhà vạn khoảnh, nhưng không
quan chức bị người khinh. Thất phẩm, ngũ phẩm còn chê nhỏ; rồi tứ phẩm tám
phẩm cũng chê thấp. Nhất phẩm đương triều làm tể tướng, lại hâm mộ được xưng
vương tác đế; nhưng khi đã được làm thiên tử thì lại mong cầu trường sanh
bất tử mới xứng ý vừa lòng.” Thật đúng là lòng người tham vô đáy. Vật chất
tiền tài trên thế gian làvật có hạn lượng, thế mà dục vọng của con người lại
là vô tận. Người tràn đầy lòng tham dục thì cho dù có tiền kho bạc núi, biển
vàng vẫn là người phú qúy nghèo cùng. Chỉ có vô tham dục, biết sống đời sống
thiểu dục tri túc, thanh đạm thường lạc tự nhiên thì mới chân thật là người
phú qúy của báu vô hạn. Thế nên, tham dục là bần cùng, không tham là phú
qúy, giàu có---Không tham mới chân thật là bảo tạng vô tận của chính mình!
Mình đang nghĩ gì?^
我在想什麼
Trên thân thể của con người, bộ đại não là qúy trọng nhất. Ngày ngày chúng
ta dùng bộ não để suy nghĩ. Bất luận là AQ, hay IQ hoặc quán sát phán đoán
cũng đều do từ bộ não tư duy mà lưu xuất ra. Muốn lên thiên đường, muốn
xuống địa ngục, hay muốn thành thánh hiền, thành tiểu nhân, tất cả đều là
trong 24 giờ tư duy mà thành. Bây giờ chúng ta hãy tự hỏi mình : Mỗi ngày
tôi đang nghĩ gì?
Thời thơ ấu chỉ nghĩ đến cha mẹ yêu thương mình, chỉ nghĩ đến kẹo
chocola, có kem ăn là đủ rồi. Khi đến tuổi trưởng thành lại nghĩ đến tình
yêu, sự nghiệp, hạnh phúc, dường như những thứ đó, đời người có gì đòi hỏi.
Người làm nghề buôn bán thì mong cầu mua một bán mười, thị trường phát
đạt phúc lợi, ngày ngày trong tâm chỉ nghĩ đến cách làm sao kiếm tiền. Người
tùng sự chính trị, mong muốn được siêu tốc thăng quan tiến chức, công thành
danh toại. Thời thời khắc khắc trong lòng chỉ nghĩ đến làm sao được phát tài
phát lợi.
Chúng ta mỗi ngày nghĩ đến đìều gì? Thông thường chúng ta chỉ nghĩ đến
cá nhân mình, không nghĩ đến người khác; chỉ nghĩ đến lợi ích, chứ không
nghĩ đến công đức; chỉ nghĩ đến cái lợi trước mắt, chứ không nghĩ đến cái
hậu qủa tai họa, lo phiền xa.Vì vậy tâm não luôn luôn bị xung đột với những
tặc tử bệnh tật khổ não.Thật ra chúng ta có thể đổi khác góc độ để tư duy,
không nhất định là tư duy việc riêng của mình mà nên để tư duy quan hoài dến
người khác, như đối với cha mẹ mình đã thực hiện được cha me châu toàn hiếu
thuậïn? Mìngh đã đem lại cho thế gian được bao nhiêu nhân duyên an lạc? Mình
đã vì đại chúng thành tựu được bao nhiêu công đức? Thậm chí chúng ta còn cần
nên tư duy điều mình cần nên hổ thẹn; tư duy chỗ năng lực mình còn khiếm
khuyết; tư duy kiểm thảo việc làm của mình trong ngày được thành tựu là do
biết bao công sức của đại chúng hỗ trợ, mình nên làm thế nào để hồi đáp công
ơn ấy? nên làm những gì để khỏi cô phụ ân huệ của đại chúng? Thật đáng
thương thay, con người của thời đại ngày nay, đầu não toàn chứa đựng những
tư lợi, những dục vọng, những phiền não, thậm chí là chuyên nghĩ đến việc đi
châm biếm người khác. Có người đầu não lại suy nghĩ đến những việc cấu kết
ghê rợn, phi nhân đạo: Trong vườn hoa làm kiều nữ tặng vàng, sau đó nghĩ
cách nửa đêm xuất hiện lang sói mỹ nhân; hoặc hóa trang làm người con gái
hiền thục trinh bạch móc câu chàng rể rùa vàng, cho dến nghĩ cách ở phòng ốc
sang trọng, có xe hơi kẻ đón người đưa, nghĩ đến đầu phiếuv.v…Đến cuối cùng
thì từ những tư duy đen tối, mờ ám đã diễn ra biết bao là phiền hà rắc rối,
khổ đau khó kham nhẫn, đến độ ăn không ngon, ngủ không yên, thời thời, khắc
khắc đều sống trong thất điên bát đảo.
Thiền học Phật giáo có câu:”Không sợ niệm đầu khởi, chỉ sợ giác chiếu
chậm.” Chúng ta có lúc nghĩ gì, chính mình cũng mờ mịt không rõ biết. Chúng
ta nếu vô pháp nắm bắt được dòng tư tưởng của chính mình thì làm sao nắm bắt
được đời sống thực tại cho chính mình? Vì vậy, thiền tông dạy chúng ta cần
nên chú tâm quan sát, nhìn thấy rõ từng niệm khởi của chính mình, niệm niệm
phân minh. Trước khi làm việc gì, trước nên suy nghĩ kỹ càng chính chắn:
Mình làm việc đó có đem lại lợi ích cho người? Người xưa thường nhắc nhở con
cháu:”Uốn lưỡi bảy lần trước khi nói. Lời mình nói rahợp tình hợp lý?”. Nếu
lời nói ra vô ý vị, khiến người nghe nhàm chán, hoặc lời nói ra làm xúc phạm
người sẽ đưa đến xung đột phản đối. Nói chuyện chỉ có hai người Ất và Giáp,
nhưng lời nói ra không hòa hợp sẽ dẫn đến tình trạng chân đá tay thoi. Kết
cuộc Ất bị Giáp cắn sứt mũi. Ất đem Giáp kiện trình lên quan phủ. Giáp biện
lý làẤt tự cắn sứt mũi mình. Quan tòa đưa ra lý giải: Con người ta cái mũi
nằm trên cái miệng thì làm sao anh ta lại có thể tự mình cắn sứt mũi mình
được? ---Giáp bộp chộp, không một chút suy nghĩ chính chắn về lời nói của
mình, trả lời một cách vô lý lẽ: Anh Ất đạp nhằm phải cái móc áo ở trên
tường cao rơi xuống nên bị móc áo móc phải mũi.
Ba nghiệp của con người: Từ thân hành miệng nói đều là từ ý niệm kết tập
phát khởi. Vì vậy, nếu chúng ta thường quán chiếu, chăm sóc lấy niệm khởi
tư tưởng của chính mình【TÔI ĐANG
SUY NGHĨ GÌ】 thì mọi hành vi cử
chỉ và lời nói ra mới không bị sai trái, lệch lạc. Khi phát hiện ramình đang
suy nghĩ về điều bất thiện, điều không tốt, không đúng, thì cần phải kịp
thời cải chánh. Lúc bình thường, tốt nhất là chúng ta nên đến những sự việc
cảm động; thường tư duy về mặt cuộc sống trong sáng. Người xưa thường
nói:”tâm nghĩ tất việc thành”. Trong cuộcsống thường nhật nếu chúng biết nỗ
lực gieo trồng hạt giống tốt vào thuở ruộng tám thức của chúng ta, thì còn
lo sợ gì không khai hoa thơm, không trổ trái ngọt lành?
TỤC KHÍ Và ĐẠO KHÍ^
(俗氣與道氣)
Làm người
tại sao cần phải học tập, cần phải đọc sách? Nếu chúng ta cho rằng mục đích
học tập chỉ là để cầu cạnh cái công danh phú qúy, thì sự nghiệp học tập đó
là thuộc hạng mục tiêu hạ đẳng. Mục đích chân chánh của sự đọc sách, sự học
tập là cùng bậc thánh hiền học hỏi trau dồi kiến thức, trau dồi nhân cách
đạo đức, cải đổi khí chất.
Bạn xem
kìa, có người chỉ cần chúng ta đưa mắt nhìn qua là biết đó là người có học
thức, có chiều sâu nội tâm, đạo phong oai nghiêm, khí chất đĩnh đac. Đó là
do người đó biết tiêu hóa cái học chữ nghĩa thành tác dụng hiện thực dinh
dưỡng kiến thức và khí chất. Tuy nhiên cũng có người được tính thuộc hạng có
một chút trí thức, nhưng người này do không biết vận dụng tầm học vấn để
tịnh hóa cái khí chất thô kệch của mình thành hiệâu qủa, cho nên từ chỗ biểu
hiện tướng trạng , động tác, cho đến xuất ngôn thốt lời đều khiến cho mọi
người nhận ra được anh ta là người tràn đầy khí chất phàm phu tục tử.
"Thủy Hử"
là một bộ truyện tiểu thuyết nhân gian mà nhà nhà đều biết đến. Thông thường
người dân bình ngữ những nhân vật được khắc họa trong truyện cực kỳ sinh
động, thành công. Đúng vậy, trong bộ truyện Thủy Hử có 108 vị anh hùng hảo
hán mà không cần phải đưa ra tên tuổi, chỉ cần đọc qua sự miêu tả nhân vật
đó mặc loại y phục nào, tay cầm vũ khí gì, dáng đi ra sao, giọng nói chuyện
như thế nào v.v…chúng ta liền biết được nhân vật đó là Lý Lu phất cờ đen ,
hay hành giả Vũ Tùng, hay Ngô Dung đa mưu trí, hoặc hoa hòa thượng Lỗ Trí
Thâm.
Nếu là
"Tam Quốc Diễn Nghĩa" bạn đọc đến đoạn 【thân cỡi ngựa xích thố, tay
cầm thanh long nguyệt đao, miệng nói: Ta đến rồi!】thì không cần phải hỏi,
cũng biết rõ rằng đó chính là Quan Vân Trường đã quang lâm. Nếu tả người tay
cầm cây trượng có tám điểm cang mâu giống như hắc qủy la sát giáng lâm, oai
phong lẫm liệt, đằng đằng sát khí, thì không cần phải nhìn bạn cũng biết đó
nhất định là Trương Di Đức đã đến. Nếu là tay cầm quạt lông ngỗng ngồi trên
xe bốn bánh, thân mặc áo lông ngỗng thì không cần phải thuyết minh bạn cũng
biết đó làông ngọa long Chu Cát Lượng đã xuất trường.
Đồng
dạng như vậy, khi đề cập đến Tăng Tử của Nho giáo có Tử Tư, Nhan Hồi; Phật
giáo có A Nan, Xá Lợi Phất, Tu Bồ Đề, chúng ta một khi nghe đến tên của
những vị này thì dường như trong tâm trí chúng ta liền hiển hiện ra dáng
cách trầm tĩnh, phong thái thanh thoát, oai nghi đĩnh đạc của họ và lập tức
nhận định đó là những vị những vị có đạo khí. Ngoài ra, những nhân vật có
thân hình nhỏ bé, xấu xí như Cao Lực sĩ, Lai Tuấn Thuần của triều đại
Đường; Qùy Trung Hiền của triều đại Minh; Lý Liên Anh của triều đại Thanh,
khi chúng ta nghe đến tên tuổi của những vị này liền cảm nhận được rằng đó
là một đám tiểu nhân tục tử hèn hạ.
Chu Công,
Khổng Tử, nhị vị thánh nhân đề xướng lễ nhạc mục đích là nhằm cổ vũ chúng ta
tôi luyện < đạo khí> trong phong cách làm người, bởi vì nhân cách sống < đạo
khí> chính là năng lực từ trường cảm hóa lòng nhân, đem lại cuộc sống trang
nghiêm, hưng thạnh. Trong phong cách lãnh đạo, có một số đảng phái<hắc đạo>
do không sống với chánh tâm nên không hiểu được tầm giá trị cao thượng của
<đạo khí>, mà chỉ lấy cái phong thái <cường hào quyền bá > để làm uy thế
nhiếp phục chúng dân; Cái uy thế, tư cách nhân phẩm của những con người đó
cho dù lẫm liệt đến đâu cũng đều biến họ trở thành hàng <tục nhân>, khó
tránh khỏi” ngàn năm bia miệng”rủa nguyền trách than.
Mạnh Tử
dạy người dưỡng khí, Phật giáo dạy người dưỡng tâm. Bậc xuất chúng có đủ ba
ngàn oai nghi, tám vạn tế hạnh, một khi cử tay cất bước đều thuận hợp với
đạo lý pháp giới, xứng hợp với quy luật trời đất. Người như vậy, không cần
phải phân minh cũng khiến cho mọi người cảm nhận được đó là người có khí
chất đạo đức chánh trực, không những là người có học thức mà còn là người có
trí tuệ. Ngược lại, hạng người khí chất tục tử , thì không cần phải mở miệng
thốt lời, chỉ cần nhìn qua cách phục sức, ánh nhìn, động tác biểu đạt… của
người đó, tự nhiên khiến cho người nhìn thấy dáng, hoặc nghe thấy tên liền
cảm thấy chướng tai gai mắt, khó chấp nhận.
Qua hai
nhân phẩm sai biệt rất xa của hai hạng người trên đã thuyết minh rõ rệt về
đạo khí và tục khí. Trưởng dưỡng nhân phẩm cao thượng hay nhân phẩm thấp hèn
là từ chỗ chúng ta tự mình nhận định và nỗ lực trao dồi.
Từ Nhãn Thị Chúng Sanh^
慈眼視眾生
Khi cùng
người tương xúc, bạn nhìn người bằng đôi mắt gì?
Có người
nhìn người bằng đôi mắt hoài nghi; có người nhìn người bằng đôi mắt tật đố,
có người nhìn người bằng đôi mắt khinh dễ , ngạo mạn; có người nhìn người
bằng đôi mắt thành kiến.
Trong xã
hội, dân gian thường nói :”người có tuệ nhãn một khi nhìn người, liền biết
ai là người anh hùng tài hoa”; Song trên thế gian, người hùng tài hoa vốn
không nhiều, mà người có tuệ nhãn nhìn ra được tài năng của người lại càng
hiếm. Vì vậy chân thật làm được người luôn lấy đôi mắt từ bi bình đẳng nhìn
muôn loài, quả là hy hữu.
Trong
lịch sử Trung Quốc, ông Hàn Dũ thường nói:”Thế gian có Bá Nhạc là người có
tuệ nhãn nhìn ngựa liền biết ngựa nào là ngựa tài, vừa có năng lực chạy
nhanh, chạy xa ngàn dặm, lại vừa biết tương ứng cùng ý chủ. Ngựa tài thì có,
nhưng người như Bá Nhạc có mấy ai.”Mắt tuệ cuả Bá Nhạc chính là đôi mắt từ
ái, cứu thương nhân loại.
Cha mẹ
nhìn con cái trưởng thành với đôi mắt tràn đầy yêu thương và hy vọng; các
bậc sư trưởng bằng đôi mắt từ ái tin yêu luôn luôn nhìn đàn lớp con em học
sinh mình từng bước từng bước tiến bộ. Bậc tiền bối bằng đôi mắt nhân từ,
hậu đãi nhìn sự nghiệp rực rỡ của hàng con cháu, môn đệ. Quốc gia xã hội
bằng đôi mắt khoan dung , nồng hậu nhìn kiện toàn sự hiện hữu của toàn dân.
Một thôn
xóm có cuộc sống êm đềm ấm áp là do từ người người biết nhìn nhau bằng đôi
mắt từ ái hỗ tương nhau, nhường cơm xẻ áo cho nhau khi gặp cảnh “tắt lửa tối
đèn”. Một cơ quan đoàn thể có cuộc sống hài hoà, phát triển là do đoàn thể
đó từ cấp thủ trưởng cho đến bậc thuộc hạ đều biết nhìn nhau bằng đôi mắt
tôn trọng lẫn nhau, và đối đãi nhau bằng tấm lòng hậu hỷ, hiểu và thương.
Sao gọi là
“Từ nhãn thị chúng sanh”?--–Mỗi người chúng ta đều có đôi mắt thịt để nhìn
muôn vật. Với đôi mắt đó, nếu như chúng ta biết dành cho người một chút quan
tâm chăm sóc, và với tấm lòng chân thật tôn trọng bày tỏ niềm đồng cảm, cùng
nhau chia ngọt xẻ buì, đem lại cho người niềm an vui, hy vọng, thì đó chính
là ý nghĩa của cái nhìn “Từ nhãn thị chúng sanh”.
Trong hàng
chúng sanh, có loài “noãn sanh”,tức chúng sanh được sanh ra từ trứng như gà,
vịt, chim, rắn…; có loài “thai sanh”, tức chúng sanh được sanh ra từ bào
thai như con người, và một số động vật như chó, mèo, heo, hổ báo….; có loài
“thấp sanh”, tức loài chúng sanh được sanh ra từ nơi ẩm ướt như muỗi mòng,
lăng quăng…; có loài “hoá sanh”, tức loài chúng sanh được sanh ra từ sự
thoát hoá như bướùm nhộng, quỷ thần, tiên…Trong các loài chúng sanh trên,
chúng ta lấy loài người ra để quán sát sự không đồng nhất:--- Có người tâm
lượng hẹp hòi, keo kiệt, bủn xỉn; có người tâm tánh bảo thủ, chỉ biết chấp
chặt cái kiến giải thô thiển, tục luỵ cuả riêng mình; có người hư nguỵ xảo
quyệt thủ đoạn lừa bịp người không một chút nhân nhượng lương tâm…Nhìn cho
tận cùng mà nói thì có trăm vạn loài chúng sanh khác nhau , chúng ta đứng
trên tổng thể nên nhìn chúng bằng đôi mắt “từ ái” mới có thể xúc tiến được
sự cảm hóa hài hòa, thăng tiến giữa bên này và bên kia; giữa hạng chúng
sanh ác với hạng chúng sanh thiện. Giả như người người đều biết lấy đôi mắt
“hiểu và thương “ để nhìn tất cả mọi loài, mọi cảnh thì thế giới này nào có
thù hận chiến tranh. Và từ đôi mắt”Từ nhãn thị chúng sanh” đó sẽ kiến tạo
nên thế giới chủng tộc hài hòa tràn đầy niềm tin yêu hy vọng, ấm no, hạnh
phúc---- Nhưng đáng tiếc thay, trên cuộc sống thế gian, con người có lúc
không những không nhìn người bằng đôi mắt từ aí mà còn bằng tâm tật đố, tà
nguỵ nhìn ngó soi mói tài sản của người khác, hoặc nhìn với đôi mắt thờ ơ
lãnh đạm trước những nỗi buồn vui, hoặc tai họa của người. Có người nhìn đời
bằng đôi mắt kính đen, chỉ nhìn những điểm xấu dở của người, chứ không nhìnï
thấy được những điểm tốt đẹp của người. Có người dùng đôi mắt giả dối, không
chân thật để nhìn đời. Đôi mắt đẹp biến thành đôi dao sắc nhọn, đôi kiếm
đanh thép đem lại cho đời sự tổn thương, nguy hại. Phải chăng thật đáng tiếc
biết bao.
Kinh{Phổ
môn} có câu:”Quán Thế Âm bồ tát du chư thập phương quốc độ, dĩ nhãn thị
chúng sanh”. Nghĩa là đức Quán Thế Âm bồ tát vân du khắp mười phương thế
giới, bất cứ đến nơi đâu, ngài đều lấy đôi mắt từ bi, bình đẳng, tràn đầy
niềm “hiểu và thương” nhìn tất cả mọi loài chúng sanh. Do vậy hình tượng từ
bi của đức Quán Thế Âm đã được khắc sâu vào lòng người và được người người
đời đời, kiếp kiếp tôn kính, ngưỡng vọng sùng bái!
Trong số
người thân cận, chúng ta mong muốn họ nhìn mình bằng đôi mắt gì nhỉ?----Phải
chăng tất cả chúng ta đều mong muốn họ nhìn mình bằng đôi mắt từ ái tràn đầy
“hiểu và thương” . Nhưng thưa cùng các bạn đọc thông minh, chúng ta trước
nên phản tỉnh mình đã, đang và sẽ nhìn mọi người, mọi cảnh bằng đôi mắt gì?
VÂN HÀ ƯNG TRỤ^
云何應住
Thông
thường người dân nếu không được sự quan tâm trợ cấp nơi ăn chỗ ở thì thường
nổi dậy kết tập đảng phái hướng đến chính phủ kháng nghị, yêu cầu chính phủ
làm tròn sứ mạng “cha mẹ của con dân”, đòi hỏi nơi an trụ sự sinh sống.
Người viên chức không làm tròn trách nhiệm được giao phó bị quan trên đuổi
việc, lòng tràn đầy hoang mang lo lắng vì không biết ngày mai an trụ nơi
nào. Lại nữa, trong số đó có người không có thân bằng quyến thuộc để trở về,
cuộc sống càng khổ não khôn lường. Nếu không nơi an trụ, ngày ngày lang bạt
nơi đầu đường góc chợ sao tránh khỏi cảnh bị cảnh sát truy đuổi, và bị người
khinh chê!
Sự sanh
sống của con người, điều kiện tối thiểu là cần phải có vật dụng sinh hoạt,
thực phẩm để ăn, nhà cửa để ở. Song trên sự sanh hoạt đó có người đem cả
thân tâm mình an trụ nơi thượng uyển hoa viên, cao lầu đài các. Nhưng cuộc
thế vô thường, nào ai đoán được chữ ngờ. Một khi tai hoạ bất trắc xảy ra,
lầu đài đổ ngã, hoặc bị hỏa hoạn thiêu trụi đi rồi, thì đâu là nơi để người
an trụ? Có người đem cả thời gian an trụ nơi âm thanh, nghe quảng cáo, nghe
âm nhạc, nghe người nói chuyện, nghe chim hót trùng kêu… lấy đó làm thú tiêu
khiển cuộc sống; nhưng âm thanh qua đi rồi, thì cái gì là nơi an trụ?
Kinh {Kim
Cang} Đức Phật dạy chúng ta không nên đắm trụ trong cảnh giới sắc đẹp, âm
thanh, hương vị, chất vị, xúc chạm, và tất cả mọi sự kiện, sự vật không thật
hữu. Thế thì đâu là điểm rốt ráo để chúng ta an trụ?
Có người
ngày ngày chỉ biết đến tiền, nhưng tiền bạc không thể là nơi an trụ vững
chắc, vĩnh cữu; nó như dòng nước chảy, chảy ngược, chảy xuôi, đến đến, đi đi
không kiên định. Lại nữa, tiền bạc là chỗ rình rập của năm tai họa cộng trụ:
thủy tai, hỏa tai, trộm cắp, tham quan, nghịch tử ăn chơi phá sản. Khi một
trong năm họa hoạn trên xâm nhập thì tiền bạc cũng theo đó mà tiêu tán mất,
không thể cùng người an trụ.
An trụ
trong ái tình?----Ái tình có thể nói nó như gió thổi mây bay, không ngừng
huyễn hóa biến chuyển, lại không ngừng diễn tiến biết bao sự kiện rối rắm
cho con người và xã hội về thời, không, nhân sự. Bạn xem, trên xã hội những
vụ án kiện cáo ly hôn, lìa bỏ người thân, ngoại tình hôn nhân…phải chhăng
không ngừng diễn biến?
An trụ
trên sự nghiệp! Ngày ngày chạy đông chạy tây, thậm chí đến bữa ăn cũng không
trở về nhà, bỏ mặc cho vợ đợi con trông. Lại có người đem trọn cuộc đời mình
đầu tư vào sự nghiệp học tập. Đó là một tinh thần học tập rất đáng tán
dương; nhưng nếu không biết vận dụng tiêu hóa cái sở học, thì sự nghiệp học
tập của người đó không những không đem lại lợi ích mà còn biến người đó trở
thành “con mọt sách”, càng đáng nguy hại thay!
An trụ
trên tín ngữơng! Nếu không có thiên duyên gặp được tôn giáo chính nghĩa,
không khéo lại bị dẫn vào tín ngưỡng tà giáo ngoại đạo, mê tín dị đoan thì
không những gây tổn hại cho chính mình trên mặt tâm linh mà còn gieo rắc mầm
nguy hại cho xã hội.
Những sự
kiện vừa liệt dụ như trên là những sự kiện mà thông thường chúng ta cho rằng
đó là nơi an trụ chánh đáng ; nhưng thật ra những sự kiện đó đều không phải
là nơi an trụ tuyệt đối, huống chi là an trụ vào phi pháp?
Có người
đem cả thân tâm an trụ vào phương diện ăn uống, vui chơi, đến kếi cuộc thì
mọi sự việc đều không thành, Có người đặt cuộc sống của mình an trụ trong âm
thanh, màu sắc truyền nhiễm, thị phi để rồi cuối cùng cho ra kết qủa tự mình
nhận lãnh số zero. Có người gởi tình cho sông núi, nhưng sông núi là thế
giới tự nhiên, nó không phải là vật tư hữu của riêng ai. An trụ trên công
danh, phú quý! Con đường công danh, chẳng khác nào như giấc mộng canh ba. Và
phú quý lại đồng với nắng hạt sương mai, không có chỗ lưu luyến cùng người,
hà huống cửu trụ.
Nơi nào là
chỗ cứu cánh để chúng ta an trụ?----Kinh {Hoa Nghiêm}, đức Phật có lời thị
huấn: ”Thường, lạc, nhẫn nhục, ôn hòa trong tinh thần từ bi hỷ xả’’û là
pháp chúng ta cần nên an trụ.” Nếu bạn thực hiện được đức hạnh vui vẻ, hòa
nhã, nhẫn nhục với tâm từ bi hỷ xả thì ngay thời điểm đó bạn đã tìm được nơi
chân thật an trụ thân tâm. Và đó chính là quê hương vĩnh cửu của chúng ta.
QUA SÔNG BÁI CẦU^
過河要拜橋
Thành ngữ Trung Hoa có câu:” Qua sông phá cầu”. Lời đó có ý rằng, sau
khi thọ nhận sự giúp đỡ của người, công việc được thành công mỹ mãn liền
vong ân bội nghĩa. Đó là người không hiểu biết về cơ bản đạo đức làm người
trong bổn phận <cảm ân đồ báo>. Nếu chúng ta đều nhận thức được lời giáo
dưỡng của các bậc cổ đức”Qua sông phải nhớ bái cầu “, nghĩa là trong cuộc
sống luân lý đạo đức làm người,”tri ân, báo ân là nền tảng mà đòi hỏi chúng
ta cần nên hiểu biết và thực hành trong bổn phận thì mới thành tựu được đức
trọng <báo đáp thâm ân>.
Khi đi trên đường, dưới khí trời nóng bức rám da; nhận được bóng cây toả
râm che mát; chúng ta cần phải biết cảm niệm ân đức người trồng cây đem lại
cho ta nguồn cảm mát mẻ,sảng khoái lành mạnh, lại phụng hiến kiến tạo mỹ
quan tô điểm cho cuộc sống con người ngàn muôn tươi thắm, tráng lệ. Nhìn
thấy lịch sử văn hóa phong phú thiện mỹ của quê hương đất tổ hiện tại, làm
người chúng ta sao không biết xúc động hoài cảm nhớ ơn ân các bậc cố nhân
anh hùng liệt vị đã đổ biết bao mồ hôi nước mắt và xương máu để thành tựu
nên sự nghiệp non sông gấm vóc ngày nay.
Do có những người đi trước khổ công gieo trồng nhân, ngày nay chúng ta
mới có quả thu hoạch, hưởng thụ. Đường xá, nếu không có người phát tâm tu
bổ, xây đắp thì khắp nẽo đường lộ sẽ đầy dẫy những ổ gà lồi lõm sao tránh
khỏi nguy hiểm tai nạn giao thông. Nếu không có người nông phu một nắng hai
sương, dãi dầu mưa nắng xuân canh cày, thu cắt gặt, chúng ta làm sao có được
cuộc sống hạnh phúc cơm no, áo ấm? Đời sống của mỗi con người, có thể nói,
đều là nằm trong sự hoà hợp cộng đồng sanh hoạt cuả xã hội mới được sanh
tồn. Vì vậy, làm người cần phải có bộ phận “Uống nước nhớ nguồn”, “Aên trái
nhớ kẻ trồng cây,” và càng nên thực hiện cụ thể “cảm ơn báo đáp thâm ân”
quốc gia dân tộc. Tại sao chúng ta cần phải dành dụm tiền để làm việc phước
thiện? Vì muốn hồi báo cảm tạ ân đức y viện đã cứu mình khi lâm bệnh, hồi
báo cảm tạ ân đức trường học đã nuôi lớn mình tri thức, khai quang mình trí
tuệ. Lại nữa, vì muốn hồi báo ân đức tất cả người đã lao nhọc phòng hộ mình
cuộc sống an toàn; như khi hoả hoạn xảy ra, nếu không có người lao tâm nhọc
trí, nhiệt tình hiến tặng nhiên vật liệu chữa cháy, và nếu không có đội
phòng cháy chữa cháy không màng gian nguy, không sợ khó nhọc tận tâm tận lực
cứu chữa thì tất cả taì sản, nhà cưả và sanh mạng cuả cả xóm làng đều trở
thành tro bụi. Nếu không có những người đó, làm sao ngày nay mình an tâm
hưởng thụ những gì mình đang hiện có? Do vậy chúng ta vớùi bổn phận làm
người không thể không khắc cốt ghi tâm thực hiện nghĩa vụ”qua sông nhớ bái
cầu”.
Xưa có vị phú ông nọ,vào ngày lạc thành phòng ốc, khai bày yến tiệc linh
đình. Ông ta mời các vị kiến trúc sư vàcác vị công nhân viên ngồi trên khu
vực bàn trịnh trọng khách quý, còn con cái ông thì ngồi dưới cuối bàn. Mọi
người đều lấy làm kinh ngạcï, thắc mắc. Vị phú ông giải đáp: <Các vị kiến
trúc sư và công nhân viên là người có công xây dựng nên phòng ốc này, còn
con cháu tôi chỉ là người kế thừa hưởng thu. Ông cha ta thường trân trọng
nhắc nhở:”Ai ơi bưng bát cơm đầy, nắng sương nặng hạt ơn dày nông phu”. Mọi
người nghe xong không ai không xúc động, lòng tràn đầy niềm tôn kính.
Chúng ta có thành tâm thực hiện đạo lý “Uống nước, nhớ nguồn”, “Ăn
trái, nhớ kể trồng cây” thì trong cuộc sống mới gặp được nhiều trợ duyên
lành bảo hộ khi gặp cảnh”mưa nắng trở trời, tắt lửa tối đèn”. Phước huệ tăng
trưởng cũng từ đây mà lưu xuất.
Gia Cát Lượng vì báo ân Lưu Bị đã tin hiểu lòng ông và trọng dụng tài
ông mà đem toàn sanh mạng bảo hộ thái tử A Đẩu (con của Lưu Bị) khi gặp nạn…
Ngoài ra, đã có biết bao vị trung thần xả thân cứu chúa, cứu nước, cứu
dân…Các liệt truyện về chứng tích tri ân, báo ân không bút mực nào diễn tả
cho tận.
Làm người nếu không biết hiểu biết thực thi đạo lý:”Tri ân, báo ân”, chứng
tỏ người đó nội tâm vô cùng nghèo nàn. Có hiểu sâu và tâm thành thực hành ý
nghĩa ”Cảm ân và biết đủ” mới cảm nhận được sự huyền diệu <cúi đầu nhìn
phải, nhìn trái, tứ bề quanh ta, đâu đâu cũng đều nhặt được của báu>. Biết
tri ân, hiểu tích phước mới là người chơn thật có đời sống phong phú,
giàu có. Vì ngưởi xử thế, nếu thời thời tâm đều biết tồn trữ lòng <cảm niệm
ân đức> thì cho dù là sống trong hoàn cảnh không nhu y,ù cũng có thể trở
thành nghịch cảnh tăng thượng duyên. Vì vậy, sự tương xúc giữa người và
người, nếu biết thời thời khắc khắc một lòng hoài bão :”tri ân, báo ân” thì
tât cả mọi thù hận, ganh ghét đều tiêu tan; thị phi, phiền não tự nhiên tan
biến như bọt nước vỗ mạn bờ. Tâm có thường tích tồn lòng <nhớ ơn, biết ơn và
báo ơn>, mới có đủ năng lượng tăng trưởng phẩm đức, chuyển hóa tập khí, và
trong cuộc sống tự mình có thể thu hoạch được hài hoà, tươi đẹp mỹ mãn.
Nguyên Lý Cảm Ứng^
感應的原理
Có một cậu bé vui đùa chạy đến trước một hang động cất cao giọng nói
vọng vào động:”Tôi chán ghét anh”. Thế rồi từ trong hang động vọng hồi
âm:”Tôi chán ghét anh;Tôi chán ghét anh”.Tiếng vọng kia khiến cậu bé sanh
khởi nỗi hoang mang sợ hãi,. Tiếp theo đó, cậu bé kinh ngạc phát hiện mọi
người chung quanh cậu cũng đồng thanh biểu lộ chán ghét cậu. Cậu bé sợ hãi
khóc thét, chạy vội về nhà, đem sự tình bày tỏ với mẹ. Bà mẹ dang rộng vòng
tay ôm lấy cậu bé vỗ về an ủi; sau đó dắt cậu bé quay trở lại cái động đó,
và bảo cậu bé hãy cất to giọng nói vọng vào hang động:”Bạn thân mến, bạn rất
tốt, chúng tôi rất yêu thích bạn”. Quả nhiên, lần này lời vọng âm từ hang
động khiến cậu bé biến chuyển tâm trạng,reo cười sung sướng, bởi vì cậu bé
đã nhận được sự cảm ứng của âm thanh yêu thương nồng ấm từ bốn phương tám
hướng:”Bạn rất tốt, chúng tôi đều rất yêu thích bạn.”
Hang động nối tiếp hồi âm, tiếng chuông ngân nga vang vọng, tiếng trống
hùng hồn dội âm…chính là sự cảm ứng vi diệu của âm thanh! Con rùa ngoái đầu
nhìn lại cái trứng của mình, nồng ấm ấp ủ khiến trứng từ từ thay da đổi lớp
biến thành rùa con. Tò vò bắt sâu con về làm tổ, trứng trên mình sâu keo,
trứng nở, ấu trùng tò vò ăn thịt sâu keo. Cho đến độc khí ngoại xâm khiến
người tán thân mất mạng, hoặc ánh sáng mặt trời truyền nắng ấm đến tất cả
sum la vạn tượng khiến nó xanh tươi tăng trưởng. Đó là sự cảm ứng giữa sinh
thái của vạn vật.
Cảm ứng chính là sự hỗ tương hô ứng tác động giữa trời đất với vạn vật;
giữa vũ trụ và chúng sanh. Khi chúng ta nhìn thấy trăng tròn trăng khuyết
trong lòng dấy lên niềm cảm thương thời gian trôi nhanh tợ bóng câu qua cửa
sổ, tuổi đời ngày một xế bóng như Mãn Giác thiền sư thị huấn:”Sự trục nhãn
tiền quá. Lão tùng đầu thượng lai. Nhìn hoa khai, hoa tàn, trong lòng bật
nỗi cảm thán cho thế gian vô thường huyễn hoa, tất cả đó là nguyên lý tự
nhiên của sự cảm ứng. Tình mẫu tử đậm đà son sắt vốn là sợi dây yêu thương
cảm ứng nối kết vô hình huyền diệu.
Cảm ứng là nhân duyên pháp, vì sự cảm ứng cần phải hội đủ điều kiện
nhân duyên mới hiển ứng được. Nước nếu không trong làm sao thấu trưng rọi
hình soi bóng vật? Hang động nếu không có khoảng trống không làm sao dung
nạp và trỗi vọng âm thanh. Cuộc sống của đời người chúng ta, nếu không có
nội tâm thanh tịnh xúc cảm thì làm sao có thể cùng chân lý tương ưng? Và làm
sao có thể cùng chư Phật, bồ tát có niềm đạo giao cảm ứng? Cổ nhân có
câu:”Bồ tát thanh lương nguyệt, thường du tất cánh không; Chúng sanh tâm cấu
tịnh, bồ đề nguyệt hiện tiền”. Chính là nguyên lý cảm ứng.
Trong sanh hoạt, một câu nói ra khiến người khác vui mừng khôn xiết,
cũng một câu nói ra lại khiến người nghe thống khổ khó kham. Hoặc giả, một
lời tung hô vạn tuế, liền được tặng thưởng huy chương bổng lộc. Phát ngôn
bừa bãi một tiếng “hôn quân”, liền bị gông cùm hạ ngục. Tất cả đều có nhân
duyên của nó, và nhân duyên đó hợp với lý pháp duyên khởi.
Thông thường có người hỏi rằng: niệm Phật, tụng kinh siêu độ, tại sao
nhất định sẽ có cảm ứng?---<Tâm thành, tất linh>, đạo lý là như vậy. Ngày
nọ, tại một thiền viện, vị thiền sư đang thuyết giảng về công đức niệm danh
hiệu”Phật A Di Đà”; bỗng trong pháp hội đó, một vị thanh niên có ý hoài
nghi, liền hỏi vị thiền sư :”Một câu chỉ có bốn chữ <A Di Đà Phật>, làm sao
có được oai lực cực diệu, rộng lớn như vậy?> Vị thiền sư không trả lời câu
hỏi của anh ta, mà trực tiếp mắng thẳng vào mặt anh ta :”đồ chó chết “.Chàng
thanh niên ấy ngay khi nghe lời trách mắng, liền đùng đùng nộ khí xung
thiên, chỉ vào vị thiền sư gặn hỏi:”Tại sao ông mắng chưởi tôi?” Vị thiền sư
điềm nhiên mỉm cười đáp:”Đồ chó chết “, chỉ có ba chữ mà đã đủ oai lực đánh
ngã anh, hà huống bốn chữ<A Di Đà Phật>, oai lực cực diệu biết dường nào?
Thật ra <có cảm tất có ứng>. Trong cuộc sống bình thường, uống trà giải
khát, ăn cơm trừ đói; chỉ cần chúng ta chân tâm thành ý thì có chỗ nào là
chỗ không cảm ứng?
Sức Mạnh Của Nụ Cười^
微笑的力量
Nụ cười là sắc tượng mỹ lệ nhất trên thế giới. Khuôn mặt rạng rỡ nụ
cười đẹp gấp ngàn lần so với tô điểm má phấn môi son. Nhà hoạ sĩ Ý Đại Lợi
Leonardo da Vinci hoạ nàng Mona Lisa với khuôn mặt rạng rỡ nụ cười đã trở
thành bức hoạ sớm được thế giới công nhận là hình tượng đẹp nhất.
Nụ cười có sức mạnh vô cực. Trên lịch sử thế giới đã có biết bao triều
đại chỉ vì nụ cười diễm lệ của mỹ nhân mà bị vong thân, mất nước. Điển hình
như một nụ cười hé nở diễm lệ của Đắc Kỷ, đã làm vua Trụ say đắm, đánh mất
cả giang sơn, dân tộc. Dương Quý Phi với cái nháy mắt, mỉm cười duyên dáng
đã khiến quân vương đắm say bỏ bê việc triều chính. Chu U Vương vì truy cầu
nụ cười hy hữu của Bao Tự, mà cam tâm phung phí tiền của mồ hôi nước mắt của
dân, sai hầu nữ xé biết bao tơ lụa để làm trò vui cho Bao Tự; thậm trọng hơn
nữa, vua Chu đã đánh mất chữ”Tín” với bá tánh quần thần, lấy pháo đài làm
trường hí kịch, đùa cợt dối gạt hàng chư hầu; cuối cùng phải mang lấy hậu
qủa tán thân, mất nước. Thậm chí hàng phong lưu tài tử như Dương Bá Hổ chỉ
vì một nụ mỉm cười duyên dáng tươi đẹp của nàng Thu Hương mà đã không tiếc
bán thân mình làm kẻ tôi tớ mài mực cho nhà nàng, đến kết cuộc tạo nên trò
hôn nhân nực cười lưu danh muôn thuở.
Tiếng cười không những có năng lực diễn đạt được tâm tình vui buồn,
giận thương của con người, mà còn có thể biểu lộ được tánh chất trung thực,
thiện lương, hay tánh chất tà nguỵ, yêu ma, độc ác của lòng người, như đoạn
kinh kịch dưới đây mượn dáng cười và tiếng cười để khắc họa tánh cách của
từng nhân vật như giọng cười yêu ma của Tào Tháo, giọng cười cay đắng của
Lưu Bị, giọng cười lạnh nhạt của Quan Công, giọng cười dối trá của Trương
Phi, giọng cười mưu mô, ẩn tàng tính toán của Gia Cát Lượng, giọng cười u ám
của Châu Công Cẩn.
Ngoài ra, qua dáng cười và tiếng cười của mỗi người mà có thể biết được
phong cách và bản chất của người đó như cười hi hi, cười mỉm chi, cười ha
hả, cười ngạo mạn, cười châm biếm, cười khểnh, cười gượng, cười thầm, cười
xảo trá, mưu mô, thủ đoạn….
Nụ cười là năng lượng tăng cường nhựa sống xanh cho cuộc đời. Con người
chúng ta, mỗi khi mỉm cười tức đã có sự biểu lộ tình cảm; và sự biểu lộ tình
cảm đó chính làvị nước cam lồ kỳ diệu tưới mát khắp đại địa, khiến cho vàn
muôn vật đều trỗi dậy nhựa sống.
Nụ cười là chiếc cầu thông thương mật thiết trong cuộc sống giao tế.
Chính vì vậy bậc cổ nhân thường nói: Đưa tay đánh người, không ai nỡ đánh
trên mặt người đang nở tươi nụ cười.
Trên vũ đài, sự biểu diễn của tên hề chính là muốn gây tạo nên cho người
xem khai nở nụ cười thoải mái, vui vẻ. Thế nên trong cuộc sống bình nhật
chúng ta cần nên giữ đưọc khuôn mặt tươi thắm nụ cười, thì khi nói chuyện
mới có đủ sức thu phục lòng người; cùng người giao cảm, thậm chí giúp người
lấy nụ cười hỷ hả để gạt đi nước mắt, chuyển buồn thành vui.
Điều mà chúng ta thường nói:”Trong lòng có vui thì mặt mới điểm nụ
cười”. Vì vậy nụ cười không những chỉ là tác động trên khuôn mặt biểu lộ
tình cảm, mà cò biểu lộ niềm vui trong lòng người. Nếu trong gia đình lúc
nào cũng đầy ắp tiếng cười thì chứng tỏ gia đình đó có cuộc sống rất hạnh
phúc, vui tươi, hoà hợp. Trong cuộc sống bình nhật, nếu chúng ta luôn luôn
nở nụ cười hoan hỷ thân thiện để đối đãi với bất cứ khuôn mặt lãnh đạm nào
thì trên chiến trường cuộc sống tất nhiên sẽ thu hoạch được lợi ích vô số
kể.
Nụ cười là liều thuốc bổ vô giá; nhất là thời đại ngày nay, con người ta rất
chú trọng màu sắc, chú trọng âm thanh. Do vậy, chúng ta cần nên thời thời
khắc khắc giữ được khuôn mặt tươi thắm rạng rỡ nụ cười. Lấy nu cười để trang
điểm cho cuộc sống căng thẳng; Lấy nụ cười để tịnh hóa xã hội cuồng loạn.
Biến nụ cười xinh thắm ấy trở thành đóa hoa khả ái diễm lệ, tô điểm cho mảnh
vườn sanh mạng. Đem nụ cười tươi đẹp ấy biến thành khúc nhạc tâm linh nồng
ấm vi diệu cho chính mình và người.
Dấu Chân^
一步一腳印
<Mỗi bước chân đi, lưu mỗi dấu ấn>, là ngôn ngữ lưu hành hiện đại, đặc
biệt là mỗi khi đến kỳ tuyển cử, bầu cử không ít bộ phận ứng cử viên biểu
thị những thành tích khổ công vẻ vang thực tiễn chính mình đã, đang và sẽ
lưu dấu trên lịch sử, để cùng quần chúng khẳng định vai trò và trách nhiệm
ứng cử của mình.
< Mỗi bước chân đi lưu mỗi dấu ấn> kỳ thật là thuyết minh qúa trình
lịch sử mà mỗi người chúng ta đẵ từng lưu lại, đang hiện hữu và sẽ không
ngừng thực tiễn nỗ lực tiến lên lưu lại kỳ tích; Ngoài ra, <Mỗi bước chân đi
lưu mỗi dấu ấn> là khích lệ người đã từng nỗ lực thành tựu những thành tích
thực tiễn mà rất tự nhiên đãâ khắc sâu vào tâm mắt của quần chúng xã hội;
Lại nữa, <Mỗi bước chân đi, lưu mỗi dấu ấn> là ghi lại con người trong qúa
trình cuộc sống cọ sát với những liệt cảnh khổ nạn, nhưng vẫn không ngừng
phấn đấu hướng về phía trước, cất bước hướng thượng, hướng chân thiện mỹ,lưu
lại dấu chân lịch sử kỳ tích. Do vậy,< Mỗi bước chân đi, lưu mỗi dấu ấn>
không phải là tự mình nói kể tính đếm số được, mà là phải thông qua sự công
nhận của muôn dân và sự khẳng định của đại chúng.
Xưa kia có người từng nói rằng đường lộ là do con ngưòi đặt bước chân đi
mà thành; Đời người chúng ta có giá trị thực tiễn là cần phải nương vàọ
thành tích <mỗi bước chân đi, lưu mỗi dấu ấn> thì mới có thể hoàn thành được
con đường trước mặt mà mình đã đặt bước chân, và đang cất bước chân đi. Con
người khi đứng trên đường lộ, muốn cất bước đi, trước phải biết buông xả
bước chân phía sau. Nếu bạn cứ đứng lại một chỗ, không chịu dở bước chân
hướng về phía trước, thì bạn làm sao có được tiền đồ! Chỉ có không ngừng
buông thả bước chân phía sau mới có thể đặt bước đi hướng tới tiền đồ.
Tục ngữ có câu:” Không sợ chậm bước, mà chỉ sợ đứng nguyên không chịu
cất bước”. Biết bao người chỉ vì cố chấp, bảo thủ, không hề có tư tưởng cầu
tiến, cũng chẳng dụng công để<mỗi bước chân đi, lưu mỗi dấu ấn>. Những người
đó thử hỏi làm sao có thể thành tựu được sự nghiệp hiện tại và tương lai?
Lại có người nói:”Chiếc cầu mà tôi bước qua, so với con đường mà anh
đã đi qua dài hơn, to lớn hơn”. Đời người chúng ta trường đồ từng bước từng
bước hướng tiến. Đã từng đi qua được đường dài cố nhiên là rất tốt, nhưng
điểm quan trọng là chúng ta đã lưu lại dấu chân như thế nào trên đường lộ
ấy? Chúng ta có từng tư duy qua điều đó? Bước đường chúng ta đi qua lưu lại
những dấu chân bùn lầy? Hay lưu lại những dấu chân gai góc? Những dấu chân
lồi lõm? Hay những dấu chân kháng kiện cường tráng?
<Mỗi bước chân đi, lưu mỗi dấu ấn>, có người đặt bước chân đi phía
trước, liền tạo dấu chân mô phạm cho người phía sau nối tiếp dấu chân. Có
người đặt bước chân đi phía trước, liền tạo dấu ấn cho người phía sau hưng
phấn chiêm ngưỡng. Có người đặt bước chân đi phía trước, phía sau liền được
người tán thán ngợi khen; Song lại có người đặt bước chân đi phía trước, lưu
lại dấu chân gây tạo độc nạn cho người phía sau, tạo nên muôn ngàn lời phê
bình, khiến “ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ”.
<Mỗi bước chân đi, lưu mỗi dấu ấn>, Chúng ta đã lưu lại dấu chân gì?
Trong gia đình, con cái đang nhìn những dấu chân đi của cha mẹ; Trong học
đường, học sinh đang nhìn những dấu chân đi mô phạm của các thầy cô giáo.
Trong công ty, các công nhân viên đang dõi mắt nhìn theo những dấu chân đi
của các quan chức; Trong quốc gia, trăm họ con dân đang đặt trọn tâm mắt
nhìn những dấu chân đi của các bậc học giả, các bậc chuyên gia, bậc quan
trưởng trị quốc an dân.
Các bạn trẻ thông minh, bạn đã từng kiểm tra qua dấu chân của chính
mình? Bạn có lưu lại dấu chân của từ bi?Bạn có lưu lại dấu chân trí tuệ? Bạn
có lưu lại dấu chân tàm quý? Bạn có lưu lại dấu chân cảm ân? Bạn có lưu lại
dấu chân của bậc tiết khí thánh hiền chí sĩ? Bạn có lưu lại dấu chân chánh
đại quang minh?
Trên thế gian, nếu không có sự thông thương tốc độ của thang máy, đương
nhiên chúng ta phải từng bước, từng bước <đặt bước chân đi lưu lại dấu ấn>
mới có thể đẵt chân đến từng cấp lầu mà ta muốn đến. Trong lịch sử, do có
các bậc tiền bối không quản ngại đường lộ chông gai hóc hiểm, lưng gồng vai
vác vẫn một lòng kiên gan cường chí hướng về phía trước đặt bước tiến lên<
mỗi bước chân đi, lưu mỗi dấu ấn lịch sử>.Hàng con cháu chúng ta thực tiễn
nối tiếp bước chân đi của các bậc cha ông, tương lai chúng ta cũng cần nên
làm thế nào để lưu lại cho hậu thế những bước chân mô phạm, khiến cho những
bước chân của chúng ta có đủ lực thu hút hướng dẫn từng lớp, từng lớp người
theo từng thời đại cùng nhau đi trên con đường tương lai tươi sáng để <mỗi
bước chân đi, lưu mỗi dấu ấn>.
SỰ GIÀU CÓ CỦA THÁNH NHÂN^
(聖人的財富)
Bạn có muốn phát tài không? Thông thường nói đến giàu có thì ai ai
cũng đều yêu chuộng, ưa thích., thế nhưng bậc thánh nhân lại nói:’’vàng bạc
là độc xa”>; Như vậy cái cứu cánh của sự giàu có là tốt hay xấu?
Đương nhiên! Giàu có đúng nghĩa, đúng chánh pháp, tiền tài dùng đúng
chỗ thì càng giàu có càng tốt; còn nếu tiền vàng kia là thuộc loại phi pháp
hoặc dùng không đúng chỗ thì cái tài phú kia sẽ trở thành vật tạo nghiệp. Do
đó người xưa thường nói:”danh là gông cùm, lợi là xiềng xích dẫn dắt con
người ta vào chốn lao ngục, hầm lửa thiêu đốt”. Làm người chúng ta sao
không thức tâm tỉnh giác, hồi đầu thị ngạn!
Sự giàu có được ví như nước, mà <nước thì có năng lực đẩy thuyền, lướt sóng
lên đến bờ kia, nhưng nước cũng có năng lực nhận chìm thuyền, gây tai họa vô
cùng nguy hiểm>; Giàu có vốn không có thiện ác, thế nhưng trồng nhân duyên
thiện thì sự giàu có kia sẽ có năng lực thành tựu tất cả; còn trồng nhân
duyên bất thiện thì sự giàu có đó sẽ trở thành năng lực làm phân tán bại
hoại tất cả; nó giống như nước và lửa; vừa mang tính tương trợ, nhưng cũng
vừa mang tính tương khắc!
Thật ra, sự giàu có thể nói có rất nhiều chủng loại, có loại giàu có
theo nghĩa hẹp, có loại giàu có theo nghĩa rộng, có loại giàu có có giá, và
có loại giàu có vô giá.
Sự giàu có theo nghĩa hẹp chính là tiền tài vật chất, nhà cửa, phòng ốc,
đất đai, bỏ phiếu đầu tư. Sự giàu có theo nghĩa rộng chính là sức khoẻ an
khang, trí tuệ, nhân duyên, tín dụng, có năng lực ăn nói lưu loát, biện tài
hấp dẫn người v.v…
Còn cái mà gọi là giàu có có giá kia chính là các hình thức có tính
ước vọng, danh dự, thành tựu, lịch sử v.v…Sự giàu có vô giá chính là nhân
cách đạo đức, chơn tâm bản tánh của mỗi chúng ta.
Ngoài những loại giàu có trên ra còn có một số tài phú của bậc thánh
hiền.
Thế nào là sự giàu có của bậc thánh hiền?--- Một lần nọ, đức Phật cùng
với tôn giả A Nan trên đường đi khất thực, nhìn thấy một đám quạ đen đang
tranh giành nhau một miếng thịt chuột chết; bỉ thử tranh đoạt nhau, đánh
nhau, mổ cấu nhau đến bể đầu chảy máu. A Nan vô cùng đau xót thở dài buông
lời thổn thức:”Ôi! Thật đáng thương thay! Chỉ vì một miếng thịt chuột chết
mà ẩu đả nhau đến gây thương tích tang thương vậy sao?”---Đức Phật giải
thích:”Loài người trên thế gian, đối với sự nghiệp truy cầu công danh phú
quý có khác gì với cảnh tượng loài chim quạ đang tranh giành nhau miếng thịt
chuột chết kia? “.
Trong ánh mắt nhìn của bậc hiền giả, công danh phú quý thì đồng nhất với
thây chuột chết; chính vì vậy mà các loài chúng sanh đã tranh đoạt, ẩu đả
nhau đến bể đầu chảy máu, thân đầy thương tích.
Sự giàu có của bậc thánh nhân, chính là cái giàu có an trụ trong sự
nghiệp thiền định bát nhã. Bậc thánh nhân luôn luôn sống hưởng thụ trong sự
giàu có của hỷ sung mãn.Trong lòng bậc thánh nhân luôn luôn ôm chứa sự
giàu có của nguyện lực từ bi và hổ thẹn, do vậy họ tận hưởng vô tận <thất
thánh tài>.
Nói đến sự giàu có, có cái giàu có thuộc hữu hình, có cái gàu có thuộc
vô hình, có cái thuộc hiện tại, có cái thuộc vị lai; có cái thuộc cá nhân,
có cái thuộc đại chúng; lại có cái là vật chất, có cái là tinh thần; cũng có
cái là tạm thời, có cái là vĩnh viễn. Thật ra, cố nhiên của cải phong phú là
quyền sở hữu của mỗi người, nhưng chúng ta càng cần nên hiểu rõ vềsự hưởng
thụ cái giàu có của sự cộng hữu, liệt như ánh sáng mặt trời, không khí, nước
trong sạch vân vân. Nếu chúng ta hiểu được vũ trụ sơn hà đại địa, công viên
đạo lộ…đều là sự giàu có của mỗi chúng ta thì đời sống này còn có gì là bần
cùng?
Tình yêu chân thật^
愛的真諦
Tình yêu
là gì nhỉ?
Yêu là
tình cảm riêng tư, nhưng yêu lại là sự phụng hiến; Yêu là sự nhiễm ô , mà
yêu cũng lại là sự thanh tịnh. Yêu, có tình yêu nhỏ hẹp, vị kỷ cá nhân; có
tình yêu bao la rộng lớn. Yêu có tình yêu ngu si , có tình yêu trưởng thượng
cao cả.
Cuộc sống
của con người có tình yêu mới có sức mạnh, và có yêu mới có niềm tin và hy
vọng, bởi vì yêu là bản năng tự nhiên vốn có của nhân loại. Tình yêu đó chỉ
cần hợp với pháp luật, hợp với ý thiện, hợp với đạo đức thì tình yêu đó vô
cùng cao quý.; do vậy bậc cổ đức có câu:”Khi đã yêu thì tận chân trời góc bể
cũng lặn lội tìm đến, mà không có tình yêu thì nửa bước đường cũng khó đặt
chân đi”.
Sự tương
thân tương ái giữa vợ chồng; sự tương ái tương kính giữa cha mẹ và con cái;
sự tương kết tôn trọng yêu mến giữa bạn bè, như đồng với Bồ Tát cần phải đem
tâm đại từ đại bi bình đẳng thương yêu tất cả mọi loài chúng sanh. Có tình
yêu thương mới có thể rộng kết thiện duyên , và có yêu thương mới có thể
sanh khởi thiện tâm.
Trong cuộc
sống nhân gian, do có tình yêu thương mà bảo vệ và duy trì được nền luân lý,
do có tình yêu thương mà chế định được các quy chế, quy luật trật tự sanh
hoạt; giữ gìn bảo hộ mối quan hệ giữa cha mẹ, vợ chồng, con cái, bạn bè.
Tình yêu có hai hướng. Tình yêu chân chánh đòi hỏi phải có sự chân thành
hiểu và thương cho nhau, và cùng nhau sách tấn chúc lành cho nhau. Bởi vì
tình yêu thương không phải là sự chiếm hữu, mà là sự phụng hiến. Tình yêu
nhỏ hẹp là tình yêu chỉ gói trọn trong tình cảm giữa mình và người mình
thương ; tình yêu quảng đại là tình yêu có mối quan hệ giữa mình và người
khác với tâm từ bi bình đẳng . Tình yêu chánh nghĩa là tình yêu chân lý, yêu
công lý, yêu quốc gia, yêu thế giới, yêu nền hòa bình của nhân gian.
Đứng trước
tình yêu thương không có chỗ phân biệt, vật không đáng , không thích hợp với
môi trường và vị trí chức năng thì không nên dụng tâm yêu thích. Người không
đáng đặt tình yêu tri kỷ thì không nên tiến sâu mà gặp phải nỗi trăn trở< ăn
đũa trả miếng>. Lại nữa không phải là việc thiện, việc tốt hay duyên thiện
duyên lành thì không nên đặt tình yêu bừa bãi để tránh sự tai hoạ cho cuộc
sống hiện taiï và mai sau. Vì vậy tình yêu cần phải có cái nhìn trí tuệ tỉnh
giác, yêu đúng chỗ, yêu đúng thời, yêu đúng người và yêu đúng việc.
Chúng ta
hãy nhìn xem xã hội ngày nay, do lạm dụng tình yêu mà đã làm thoái hoá bản
chất chân thiện mỹ của tình yêu. Bạn nhìn xem, có mgười dấn thân vào đời làm
gái giang hồ mua hương bán sắc cho những người tham ái mỹ sắc. Lại nữa, do
tham aí tiền tài vật chất mà biến thành kẻ trộm cắp tham ô, hoặc đối với vật
không phải là của mình lại phi pháp chiếm hữu. Tất cả những tình yêu đó
không những chẳng phải là tình yêu chân thiện mỹ mà còn là nhân tố hại mình,
hại người, tạo thành tội ác. Nếu tình yêu đúng nghĩa , xứng lý hợp đạo sẽ
thành tựu được công đức lợi ích cho mình và cho người và đồng thời thành tựu
được nét đẹp chân thiện mỹ thuần phong mỹ tục; Ngược lại, tình yêu không đặt
đúng chỗ sẽ dẫn đến hành động bất nghĩa, sa vào cạm bẫy quấy nước đục trời
đại loạn thiên hạ, để rồi dấn trọn đời mình trong biển ái đối đầu với sóng
dập gió dồi. Than ôi! bể ái mêng mông, tình dục vô mé, luân hồi khổ ải, làm
người chúng ta sao không thức tỉnh hồi đầu chuyển thân. Lấy từ bi để tịnh
hóa ái dục, lấy trí tuệ để lái thuyền vượt qua bể ái đến bờ giải thoát, lấy
đức hạnh cảm hóa ái dục thành nhân ái, từ bi đem lại nền hòa bình an lạc cho
nhân loại thế giới . Sanh mạng con người chúng ta là từ ái dục mà ra. Vì vậy
chúng ta càng nên lấy tình yêu chơn thuần, chánh nghĩa, trong sáng trọn niềm
tin hiểu và thương để tô điểm tình yêu cuộc sống nhân gian ngày càng trang
nghiêm, tươi đẹp, mỹ mãn.
CANH TÁC RUỘNG TÂM^
耕耘心田
Gia đình có ruộng tốt có thể tích lương phòng đói! Trải qua bao thế hệ
lịch sử, ruộng đất mãi mãi là nguồn mạng mạch của đời sống người dân Đông
Nam Á. Vì vậy người dân Đông Nam Á coi ruộng đất là căn bản của mạng mạch
sống còn, coi ruộng đất là vật gia bảo truyền thừa. Cha mẹ luôn luôn nghĩ
đến làm thế nào để có được mảnh vườn thủa ruộng lưu lại cho con cháu. Thật
đáng đau lòng thay, khi nhìn thấy có một số người hậu học không nhìn thấy và
cũng không thể hội được nỗi lòng trắc ẩn khổ tâm kia của bậc tổ tiên ông bà
cha mẹ; không những không làm trọn vai trò kế thừa canh tác gia bảo điền
địa, mà còn khiến cho ruộng vườn trở thành hoang dại, điêu linh; hoặc sa bẫy
tửu sắc, đem tất cả gia sản điền địa cầm vay hoặc bán trắng dẫn đến thảm
cảnh tán gia bại sản, tật bệnh tội khiên, trọn đời ân hận, nuối tiếc vô cam!
Điền địa ngoại giới cần phải canh tác, trồng trọt là điều kiện cuộc
sống tự nhiên. Ngoài ra, nội tâm của chúng ta cũng gọi là<ruộng tâm>, <đất
tâm>, luôn chờ đợi chúng ta chăm nom khai phát, canh tác. Chúng ta làm thế
nào canh tác ruộng tâm của chính mình? Phật giáo dạy chúng ta <phát tâm>,
chính là muốn chúng ta khai phát canh tác nguồn mạch ruộng phước điền chơn
thiện mỹ của nội tâm
Trong hiện thực cuộc sống, người cần mẫn thậm chí không ngừng xới đất
dời đá lấp biển vá trời, tô bồi cải tạo ruộng vườn ngày một thêm mới chất
màu mỡ, phì nhiêu, thâu qua khai khẩn đất hoang, phát rừng khai núi để canh
tác trồng trọt hoa qủa.
Trong tất cả mọi khuôn mẫu ruộng đất đều có thể gieo hạt, cấy giống,
có thể xây dựng bất luận mô hình canh tân kiến trúc. Trên mảnh ruộng tâm của
chúng ta cần nên canh tác cày cấy như thế nào? Chúng ta cần nên bồi đắp
những gì? Phương pháp canh tác ruộng tâm? Chúng ta có thể dùng tư duy quán
chiếu, phản tỉnh, tĩnh tâm, niệm Phật, cũng có thể thâu qua thiền định, tham
cứu, sám hối, phát nguyện v.v..Ruộng đất của ngoại tâm dễ canh tác, trồng
trọt, còn ruộng đất của nội tâm muốn canh tác không phải là chuyện đơn giản,
cần có nội lực dõng mãnh từ sự phát tâm và lập nguyện.
Một ngày nọ, Đức Thế Tôn đi ra ngoại thành ôm bình bát khất thực hóa
duyên, gặp một vị Bà La Môn đang cày ruộng. Bà La Môn nhìn thấy Đúc thế
tôn, lập tức hướng đến phía trước thưa hỏi:”Đức Thế Tôn, Tai sao ngài không
tự mình canh tác ruông đất? Tại sao không dùng sức lao động của tự chính
mình đểphục vụ cho nhu cầu cuộc sống?” --- Đức Phật mỉm cười đáp:”Tôi thời
thời khắc khắc đều chuyên tâm cần mẫn canh tác ruộng vườn! “. Vị bà la môn
không hiểu lời giải đáp của Đức Thế Tôn, nói:”Tôi chưa từng nhìn thấy ông
xuống ruộng cầm cán cày, thúc trâu, gieo lúa giải mạ ”! ----Đức Phật từ bi
mỉm cười, nói:”Tất cả chúng sanh đều là đất ruộng của ta. Tín tâm chính là
chủng tử của ta. Thiện pháp chính là sương mai, cam lồ thuỷ. Trí tuệ chính
là ánh sáng mặt trời. trì giới là lưỡi cày của ta, tinh tấn không giải đãi
là con trâu mà ta tuyển chọn, chánh niệm là sợi dây để buộc thúc liểm trâu,
chân lý là quai tay cầm để lèo lá luống cày, những phiền não của ba nghiệp
thân khâu ý chính là cỏ xấu hoang dại mà ta thời khắc phải nhổ cắt, và sự
tịnh lạc vĩnh hằng bất sanh bất diêït chính là ta canh tác thu hoạch được
qủa hiện thực”.
Khế ngữ có câu:”Ruộng tâm vốn không mọc cỏ vô minh, tánh địa thường khai
hoa trí huệ”. Lời ngữ ấy hàm ý nói rằng:”Muốn thu hoạch qủa như thế nào thì,
trước phải dụng công canh cày như thế đó ”. Chúng ta mong muốn tâm mình
trưởng thành hạnh đức từ bi trí tuệ? Hay là trưởng thành hạnh giống ngu si
tà kiến? Xin hãy nhìn vào qúa trình dụng công canh cày ruộng tâm của chính
mình!
Chúng ta mong muốn ruộng tâm của mình sanh trưởng thông minh, đĩnh đạc, lanh
lợi thông đạt pháp phương tiện quyền xảo, chúng ta chỉ cần cần mẫn gieo rải
hạt giống trí tuệ……Nếu chúng ta mong muốn có năng lực thu hoạch được thật
quả thiện duyên, kiết tường, bình an, thuận lợi, thì cần nên siêng năng chăm
chỉ cấy gieo hạt giống từ bi, hẳn nhiên là < tùng tâm sở nguyện, tùng cầu sở
đắc.>!
Ruộng đất tâm cần phải không ngừng khai khẩn canh cày thì mới nảy sanh được
qủa ngon trái tốt và mới thu hoạch được vụ mùa chất lượng như ý. Cần phải
lấy nguyện lực tăng thượng để khai phát ruộng tâm, lấy nguyện lực xuất ly để
canh tác ruộng tâm, lấy nguyện lực của bồ đề tâm để gieo cấy ruộng tâm. Vì
trong tâm của mỗi chúng ta đều vốn có bảo tạng từ bi, trí tuệ,tín ngưỡng,
lực lượng tàm quýv.v… Do vậy mà nói<canh tác ruộng tâm > chính là phát tâm
từ bi đố đãi người, phát tâm tu hành tinh tấn, phát tâmsủa đổi không tốt khí
chất, phát tâm diệt đoạn phiền não. Người có tâm nguyện:<canh tác ruộng
tâm>, mới có đủ năng lực tìm về bản tâm tự tánh, và mới có thể hội nhập Phật
đạo!
BUÔNG THẢ^
放下自在
Người gánh vác vật nặng trên vai, một khi đã buông thả được cái nặng
đó xuống, thì ôi chao! nhẹ nhàng thoải mái biết bao! Khi trên thân phải đảm
trách một chức vụ trọng đại, lớn lao, đến một ngày nào đó hoàn thành được
nhiệm vụ mới buông thả được trọng trách, miệng nở nụ cười hạnh phúc với hơi
thở nhẹ nhõm thanh thản; Thế mới biết, buông thả được gánh nặng thì thân tâm
thư thái nhẹ nhàng thanh thoát tự tại biết dường nào!
Chúng ta sanh hoạt trên thế gian, không ngừng phải tiếp nhận những
gia lực áp chế căng thẳng nặng, nề, tất cả đều do nguyên nhân từ không buông
thả được duyên cớ của những gánh nặng như : Đối với tiền bạc không thả được;
Đối với cảm tình không buông thả được; Đối với danh dự không buông thả được;
Đối với quyền lợi không buông thả được, cho nên sẽ bị tiền vàng, danh vị,
ái tình, quyền lợi làm áp lực căng thẳng, thậm chí lâm vào trạng thái thất
điên bát đảo, cao tăng huyết áp, nhồi máu cơ tim v.v…để rồi một đời cam phận
sống tật nguyền áo não.
Chúng ta hãy cùng nhau thắp lên ngọn nến, ngồi tĩnh tọa quay đầu đối
diện đàm thoại với chính mình. Chúng ta đối với cái sự nghiệp công danh phú
quý nếu không buông thả được thì nhân cách đạo đức sẽ bị cái công danh phú
quý đó bao chụp biến thoái. Đối với ngũ dục lục trần của thế gian không
buông thả được thì sanh mạng này suốt đời sẽ là nô lệ của chúng. Đối với
những ưu bi khổ não của thế gian không buông thả được thì cuộc sống này sẽ
bị những ưu bi khổ não đó bao vây chế ngự trong căn nhà u ám đen tối. Đối
với những sự kiện có- không- được- mất của thế gian không buông thả được,
tất nhiên sẽ bị chúng ảnh hưởng làm ảnh hưởng không ít đến đời sống tự do tự
tại.
Đời người chúng ta thật tại mà nói, đứng vững được trên cuộc sống thế
gian, qủa là điều không đơn giản thường tình, mà phải trải qua biết bao
thăng trầm với những thử thách gam go, nằm gai nếm mật. Từ đó, nhiều khi chỉ
vì một người, tâm ta không buông thả được; hoặc chỉ vì một sự kiện hay một
vật nào đó, hoặc chỉ vì một câu nói, tâm ta cũng không buông thả được, tức
thị tâm tư chúng ta đã bị những thứ tâm tình, sự vụ kia chiếm cứ quản lý,
tạo nên một sức ép căng thẳng khiến cho thân tâm ta không phút giây an lạc
tự tại. Từ đó suy ra, không những đối với những vinh hoa phú quý của thế
gian chúng ta cần phải buông thả, mà ngay cả sự sanh tử của thân tâm cũng
cần phải buông thả mới chân thật cảm nhận được nguồn sống thế gian an lạc
giải thoát tự do tự tại.
Tô Đông Pha mặc dù tự cho rằng đối với công án tham thiền đã có chỗ
thể ngộ, nhưng khi ông ta đối mặt với thiền sư Phật Ấn chỉ với một câu trách
mắng thông qua hành động phóng tiểu tiện vào luống hoa quý của ông, Tô Đông
Pha lập tức bị tâm sân khởi động chế ngự, không thể tự chủ hiện hành thực
chất sự thể ngộ “buông thả”. Do vậy mà Tô Đông Pha đã bị một trò chơi trẻ
con“tiểu tiện bừa bãi” của Thiền sư Phật Ấn khảo nghiệm, đánh bật gốc lời
thách thức thiền ngộ kiên cường < bát phong thổi bất động > mà ngược lại,
hiện lộ một TÔ ĐÔNG PHA đùng đùng nộ khí sung thiên chèo đò vượt sông đến
hỏi tội Thiền sư Phật Aán. Sự kiện đó đã chứng minh, cho dù tự cho rằng mình
đã được những thành tích sự nghiệp lẫy lừng vẻ vang, hoặc đã đạt được những
thành tựu đạo nghiệp cao đến đâu chăng nữa, mà không có công lực thực hiện
thực chất buông thả <cái tự ngã> thì không thể nào nhập đạo. Làm người, do
vì có cái <ngã> rất to lớn; một vị thiền sư nếu không tự nhận thức được
chính mình về bản ngã đó để buông thả nóù thì cho dù có một đời tu hành <vì
thế nhân khai đạo>, thì chẳng khác nào mỗi ngày phải mang vác một tử thi
nặng trĩu bôn ba giữa dòng đời, khổ nhọc biết bao! Từ đó nhìn lại mà rõ
biết, thân xác này chẳng khác nào như một cái thùng túi da, khi cần dùng đến
thì chúng ta trung thành tận tâm tận chí hiện dụng cống hiến; rồi một khi
nhân duyên đã đến thời hoán chuyển thì cần nên dứt khoát nhẹ nhàng buông
thả, vì chỉ có thật sự buông thả <cái tự ngã> thì mới an lạc giải thoát tự
tại.
Có một bài kệ hình dung về Đức Di Lặc bồ tát: <bụng lớn có thể dung
chứa, dung chứa biết bao sự thế gian; Miệng luôn nở nụ cười hoan hỷ, cười
tận thiên hạ cổ kim tiêu tan sầu.> Làm người, nếu chúng ta học tập thực hiện
được tâm khoan dung, hỷ xả như ngài Di Lặc bồ tát thì cuộc sống này là cả
một vùng trời sung mãn an lạc tự tại, giải thoát.
BÌNH ĐẲNG^
真正的平等
Câu chuyện <Mèo bắt chuột> kể rằng: Một ngày nọ, chú mèo mướp bắt
được chuột chù định ăn thịt. Chuột chù lập tức phản kháng, nói:“Bác có sanh
mạng, tôi cũng có sanh mạng; mọi loài chúng ta cần phải hỗ tương đối xử bình
đẳng, tại sao bác lại bắt tôi, ăn thịt tôi? ”
Mèo mướp nghe vậy, thầm nói: - Nào ngờ chuột chù này không những hiểu
biết đến vấn đề” bình đẳng”, mà còn đòi hỏi quyền “bình đẳng”. Nghĩ xong,
mèo mướp nói:
- Được rồi, này nhé! Ta cho chú mày ăn thịt ta đó!
Chuột chù đáp: <Bác là loài mèo, thân hình to lớn gấp bội tôi; tôi làm sao
có thể bắt thịt được bác?>
- Đã tự biết bản thân mình là loài chuột, nhỏ bé, không thể bắt
thịt loài mèo, vậy thì chú mày chấp nhận để ta ăn thịt nhé!
Chuột chù nghe mèo mướp giải đáp đạo luật, ruột gan tê tái, nhưng vô điều
kiện đòi hỏi, đành im lặng. Mèo ta thấy vậy nói tiếp:<Đừng nên đấâu tranh
phản kháng nữa. Cuộc sống thế gian này vốn là “ rất bình đẳng như vậy mà!” >
“Bình đẳng”, không thể dùng thủ đoạn cưỡng chế bức bách đối phương. Nếu dùng
nó tức đã phạm luật bình đẳng. Bình đẳng, cần phải có cái nhìn người như chính bản thân mình, tuy nhiên bên cạnh tánh bình đẳng đó vẫn có cái hỗ
tương trên lập trường nhân duyên dị biệt của nó. Bình đẳng càng cần nên có
pháp luật uy nghiêm, tinh thần tôn trọng săn sóc đối phương về mặt quyền
lợi, bởi vì chỉ có sự tôn trọng giữa người và người mới có thể thành tựu đạo
vị bình đẳng giữa bỉ thử đối bên.
Đức Phật nói:< trăm sông chảy về biển nào có phân tên họ của dòng nước sông
nào; bốn hàng chúng đệ tử xuất gia, đồng mang tên dòng họ Thích>. Phật giáo
chủ trương <người người đều có phật tánh >. Đó là thực tính bình đẳng trên
bản tánh. Đứng trên mặt lý, <chúng sanh vàPhật là bình đẳng >, nhưng đứng
trên mặt sự lại có< nhân qủa sai biệt>. Do vậy, từ trên bản tánh để suy
luận, thì mặc dù người người đều có bản năng thành Phật, nhưng trên mặt sự
tướng, do mỗi người có nhân duyên phước báo và sự nỗ lực dụng công khác nhau
mà có ra sự phân chia thánh phàm. Thế nên, < trong tánh bình đẳng chúng ta
không thể chỉ đứng trên mặt danh tướng, tên gọi để lý giải giá trị bình đẳng
chơn chánh, mà cần phải chính mình đặt được bước chân vào pháp giới chân như
thật tướng vô hình tướng tự ngã mới có thể thấu tột được giá trị bình đẳng
chơn chánh đó.>
Con cái đòi hỏi cha mẹ quyền bình đẳng, đưa ra câu hỏi cha mẹ tại sao phải
nhất định ngồi tòa trên và khi đứng phải đứng trước, đứng giữa mà con cái
phải ngồi ở tòa dưới, vàchỉ được phép đứng dưới hoặc đứng bên cạnh cha mẹ mà
không được ngồi đứng ngang hàng với cha mẹ? Nếu đòi hỏi quyền bình đẳng như
vậy tức không những không một chút hiểu biết về luân thường đạo lý mà còn
bị rơi vào ý thức phi bình đẳng, bởi vì trong bản chất của bình đẳng vẫn
hàm ngự,< luân lýđạo đức, tôn ty trật tự lớn nhỏ có vị>. Thuộc hạ cùng quan
trưởûng đòi hỏi bình đẳng, cho rằng tại sao có những sự kiện, sự việc bậc
quan trưởng được quyền xúc tiến khởi động, còn hàng thuộc hạ thì không được
quyền? Nếu thuộc hạ cùng quan trưởng đòi hỏi đối đãi cư xử đồng đẳng như vậy
thì thử hỏi ý thức quy luật trật tự xã hội trọng tâm tác dụng? Và nền an
ninh sinh hoạt của cuộc sống sẽ như thế nào? Bởi vì bình đẳng cần có pháp
luật uy nghiêm, thứ vị trên dưới trật tự theo quy chế mới đủ năng tính bảo
vệ ý nghĩa <bình đẳng chơn chánh>, xứng lý hợp tình với phúc lợi cuộc
sống hiện thực của từng thành viên xã hội.
Chơn chánh của sự bình đẳng là bình đẳng trong cái không bình đẳng theo từng
vị trí, chức năng, hoàn cảnh của mỗi người, chứ chẳng phải bình đẳng trong
cái đòi hỏi đồng nhất vượt rào >. Trên thao trường, khi nghe tiếng súng nổ
hiệu lệnh khởi động, thì cùng tiêu điểm xuất phát, mọi ngưởi cùng phấn đấu
hướng điểm đích đua chạy, nhưng tốc độ nhanh chậm của mỗi người lại nhất
định không đồng nhất; mỗi người tùy theo cái năng lực của mình để tranh đoạt
danh dự hàng đầu. Không thể đòi hỏi tất cả người đua đồng nhất thời gian đạt
điểm đích. Đó chính là ý nghĩa bình đẳng chơn chánh.
Người ngư phủ dựa vào biển đánh bắt cá làm nguồn sinh sống; mọi người đều
cho rằng đó là lý đương nhiên. Còn người tiều phu đốn cuỉ trong núi rừng,
săn bắt chim tước thì mọi người lại quở trách là sát hại sanh vật.Từ đó
chúng ta suy luận, lẽ nào loài chim quý thì cần được bảo hộ, còn loài cá rùa
thì lại là vật dưỡng nhân? Thông thường khi xã hội gặp phải tai ương ách nạn
đột biến của thiên tai, toàn quốc toàn dân đều phát huy tinh thần yêu thương
đoàn kết dân tộc”Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung
một giàn. Lá lành đùm lá rách; Một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ,” cùng
nhường cơm xẻ áo cho nhau; tuy nhiên đó chỉ là tính bình đẳng của nhất thời
mà thôi. Điều kiện cần thiết và mong ước trên cuộc sống xã hội là tinh thần
“bình thời bình đẳng.”
Chủ trương của bình đẳng là lphát huy năng lực làm tiêu trừ những sự kiện
bất bình đẳng của thế gian. Bình đẳng cần phải được vun trồng từ nền tảng hỗ
tương tôn trọng, không phân cáivị lợi lớn nhỏ, không phân giàu nghèo, thì
mới có thể thực hiện được điểm đích < mình và người bình đẳng >. Và sự lý
thông thương bình đẳng mới chân thật đem lại thế giới hòa
bình.
CUỘC SỐNG NÚI SÔNG^
山水生活
Xa xa núi mỉm cười. Núi biết cười sao? Dòng nước lăn tăn róc rách chảy
vô tình. Nước chảy thật vô tình sao?
Núi đúng thật là biết cười đó, thưa các bạn. Các bạn hãy nhìn xem, sắc
núi lam xanh biếc, khí núi hiền hòa buông tỏa. Do vậy mà cổ nhân thường
nói:”trúc xanh biên biếc, sum suê; hoa vàng nở thắm toả ngát hương thơm, nào
chẳng phải là chân lý bát nhã huyền diệu.”
Sự sinh hoạt của nước vốn là cuôc sống hữu tình thân thiện mật thiết!
Chúng ta hãy nhìn kìa! Dòng nước trong mát từ nguồn tỏa muôn vạn nẽo lăn tăn
chảy, tạo nên những dòng nhạc du dương linh hoạt muôn nhịp phách điệu, mà
các bậc cổ đức đã từng nhận thức :” Tiếng suối chảy là khúc nhạc trường ca
cuộc sống linh hoạt phong phú nhịp điệu và tiếng nước chảy chính là lời
thuyết pháp chân lý thâm huyền, hữu tình hữu lý, thuỷ chung”
Trong chốn sơn lâm, Chúng ta hãy nhìn xem, nào là tiếng chim hót vượn
kêu, nào là dáng thú chạy nhảy, thú leo trèo tạo nên bức hoạt cảnh thế giới
tự nhiên nhàn du tiêu dao, tự tại. Như vậy nếu nói núi không biết mỉm cười
thì làm sao có tên gọi là núi? Đương nhiên, sau những trận động đất, địa tai
tàn phá; những dải núi đất đai sạt lở, cây cỏ bị thọ thương, gãy đổ hư hại
tổn thất đó tê tái buồn đau rơi lệ khóc thương, nuối tiếc, nhưng không bao
lâu, những dãy núi đó đã tự mình khoác lên bộ y phục mới xanh biếc, tươi đẹp
hơn, và hướng về chúng ta gật đầu mỉm cười chào hỏi, giang rộng đôi vòng tay
hoan nghinh chúng ta hãy tiến vào lòng núi sâu, nơi đây đang ấp ủ cả một kho
tàng tài nguyên kỳ diệu chờ đón.
Nước là dòng sống hữu tình, thơ mộng, thuỷ chung và cần thiết không
thể thiếu trong đời sống muôn loài muôn vật. Chúng ta hãy nhìn xem, khi khai
mở ngòi rãnh đến đâu thì nước theo đó lưu chảy; chỉ cần chúng ta cho nó một
con đường thông lộ, thì nước sẽ tự nhiên thuận thế khơi thông. Nước cung cấp
cho chúng ta nguồn nước ăn uống bổ dưỡng, tắm gội sảng khoái, tưới nhuần
muôn vật, rửa sạch những cấu uế, đem lại cho muôn loài, muôn vật sự sống
lành mạnh tươi mát, trưởng thành; như vậy làm sao có thể nói nước chảy là
dòng sống vô tình?
Sách thánh hiền có câu:<nhân giả lạc sơn, trí giả lạc thủy>; Sơn và
thuỷ từ xưa vốn đã trở thành người bạn tâm giao quan trọng của các bậc thánh
hiền. Sự tu dưõng của chúng ta cũng cần nên vững chắc, kiên nhẫn, bao dung
cao cả như tánh núi. Và mỹ đức của chúng ta càng cần nên từ hạnh trong sạch
thanh tịnh, quảng bát, sâu sắc vàtuỳ thuận uyển chuyển dịu dàng lưu thông
như tánh thuỷ.
Nét mỹ diệu của núi ở chỗ bốn thời không đồng: xuân sơn thanh nhã, hạ
sơn xanh thẫm, thu sơn trong trẻo, đông sơn thiếp mộng; Bốn thời của núi
chính là sự tiêu biểu cho cuộc sống của đời người, có sâu cạn, có động tĩnh,
có vinh vui, nhục buồn.
Dòng nước lưu chảy, cũng chính là kho tàng phong phú triết lý cuộc
sống. Dòng nước khi chảy có những hình thái thao tác sai biệt như : sóng
nước lăn tăn, sóng nước dập dờn, sóng nước ào ạt; những hình thái sóng nước
đó đã nói lên những hình thái cao thấp, được mất, tiến thối thành bại mà
chúng ta không khỏi không gặp chúng trong cuộc sống của đời người.Và vận
dụng chúng như thế nào cho thích ứng, thông lợi đang chờ đợi trí tuệ thiện
hành ở mỗi chúng ta.
Phật giáo và sơn thủy có mối quan hệ vô cùng mật thiết; ngày xưa tên
gọi sơn tăng chiếm phần lớn, bởi vì ngày xưa các đại tùng lâm tự viện đại đa
số được xây cất trên vùng rừng sâu núi cao. Các vị thiền giả thì thường là
thiền tập trong các hang động bên khe suối, bờ sông; Các vị hành giả đã sống
cuộc sống thanh bần lạc đạo, tự tại giải thoát trong phong cảnh sinh thái
trầm hùng phát triển tự nhiên của sơn lâm thủy mặc.
Sơn thủy là bảo tạng đại tự nhiên của vũ trụ; Cuộc sống đời người, từ
cuộc sống tình duyên, giao tiếp đối đãi, đồng hành cộng sự cho đến đời sống
tâm linh, nếu biết vận dụng tánh sống sơn thủy đại tự nhiên đó như thiền sư
thường hướng dẫn thiền sinh tu tập quán chiếu hơi thở qua bài kệ :
“ Thở vào là hoa tươi mát, thở ra là núi vững vàng.
Thở vào nước tịnh lặng chiếu, thở ra không gian thênh thang”
Thì cuộc sống này có gì là không vừa ý hài lòng, không thoải mái an nhiên!
Cuộc sống ấy qủa là cuộc sống tràn đầy chơn thiện mỹ!
Qủa là núi đồi không những cùng chúng ta mỉm cười mà còn là nơi để con người
nương dựa cuộc sống! Dòng nước chảy không những không vô tình mà tận thuỷ
tận chung cùng chúng ta thuyết bài pháp “cuộc sống chân lý ” trác tuyệt. Do
vậy, cuộc sống thế gian này là cuộc sống hữu tình hữu lý hỗ tương mật thiết,
chúng ta cần nên cùng sông núi một dạ thủy chung bảo vệ, chăm sóc thế giới
đại tự nhiên
Lý tính đàn hồi^
屈伸自如
Người vợ của vị cư sĩ nọ có bản tánh vừahà tiện lại bủn xỉn, đới với
bất cứ một một công tác từ thiện nào của xã hội đề ra, bà ta đều tìm cách
chối từ không hưởng ứng. Người chồng thấy vậy lấy làm hổ thẹn với mọi người,
nhưng không biết làm cách nào để chuyển hóa tâm tánh của bà vợ. Thế rồi, một
hôm ông ta thỉnh cầu ngài Mặc Tiên thiền sư khai đạo. Vị thiền sư đáp ứng
lời thỉnh cầu, đến nhà vị cư sĩ ấy. Khi ngồi tiếp chuyện với vị nữ chủ nhân,
Mặc Tiên thiền sư liền xòe hai bàn tay của mình ra và nói:< Nếu bàn tay này
thường cứ xòe duỗi thẳng đơ như thế này, không thể co lại được, thí chủ
nghĩ xem bàn tay ấy thế nào?>.
- Vị nữ chủ nhân đáp:< Đó là hình tướng bàn tay dị dạng!>
Mặc Tiên thiền sư lại tiếp tục đưa bàn tay ra và nắm chặt lại, hỏi:<
Nếu ngày ngày bàn tay này cứ nắm chặt lại, không thể bung xoè, co duỗi uyển
chuyển nhịp nhàng tự nhiên, thì nó sẽ như thế nào>.
- Vị nữ chủ nhân đáp:< Đó là bàn tay dị tật!>
Mặc Tiên thiền sư liền lấy đó khai đạo:<Nếu tự mình không biết yêu quý, trân
trọng những vật dụng cần thiết của chính mình, đem cho người toàn bộ, thì đó
là đời sống sinh hoạt dị hình dị dạng; hoặc giả tiền của cứ mãi bo bo nắm
chặt, một xu cũng dám buông ra, chỉ bảo thủ chặt cái tư lợi của riên g mình,
không nghĩ đến nỗi buồn vui của bao người xung quanh thì cuộc sống đó đồng
với đời sống sinh hoạt dị hình dị tật không hai!>
Mặc Tiên thiền sư nói xong liền cáo từ ra về. Người vợ của vị cư sĩ nọ
lúc này mới hiểu ra được rằng, bản thân mình bình thời không hề chịu vì thế
gian phát tâm làm bất cứ việc thiện tốt nào, thì ra mình đã sống một cuộc
sống dị hình dị dạng.
Chân thành mà nói thì trên thế gian có không ít người phát tâm hoan hỷ giúp
người, nhưng tự mình không chịu hòa nhập cùng sinh hoạt của đại chúng, và
cũng không chịu tiếp nhận thiện ý của người khác. Tánh thái đó mặc dầu không
phải là hiếu danh hám tiếng, nhưng đã hiển lộ tánh cách sinh hoạt dị thường,
biên chấp. Hoặc giả ngược lại, người chỉ mong muốn tiếp nhận sự tặng thưởng
tán dương của người khác, còn tự bản thân mình thì không chịu nỗ lực công
sức phụng hiến báo đáp ân xã hội, ân đại chúng đã tận thuỷ tận chung cung
cấp cho mình tất cả mọi nhu cầu trong cuộc sống từ vật chất đến tinh thần.
Hạng người này, ông cha ta thường xếp vào hàng” dị hình hà tiện, bủn xỉn,
một xu không buông mà nửa đồng cũng không bỏ.”
Phật giáo thuyết giảng về lý tính <kết duyên> --- bạn cho tôi, tôi cho
bạn--- vốn là nguyên lý đồng đẳng quan trọng. Và đó cũng chính là ý nghĩa về
pháp mà đức Phật từng huấn thị hàng đệ tử ” Tài pháp nhị thí đẳng vô sai
biệt”.Nếu chúng ta biết tiếp nhận thiện ý của người khác, là sự biểu lộ bản
thân mình đã làm được việc tốt lợi ích khiến người hoài tưởng nhớ ơn, báo
đáp; hoặc mình là người thuần thiện, mở rộng lòng cùng người cầu tiến học
hỏi. Nếu chúng ta bố thí cho người, chính là biểu lộ lòng biết ơn của mình
đối với đối phương đã tạo cho mình cơ hội làm việc bố thí, cùng người rộng
kết thiện duyên bồ đề quyến thuộc. Hiểu biết được lý tánh cung cầu tương đãi
đến đến, đi đi; cho nhận đồng đẳng, và sinh hoạt theo nhu cầu đàn hồi co
duỗi tự nhiên thích ứng với hoàn cảnh cuộc sống hiện tại, đó mới chính là
năng lượng vận chuyển cuộc sống “thuận buồm xuôi gió “,” mã đáo thành công”
hữu hiệu thiết thực.
Bậc cổ đức thường nói:” Hàng đại trượng phu tự biết co duỗi theo thế
thời, tùy cơ ứng biến”, và giáo lý Phật từng khuyến thị:< tuỳ duyên bất
biến, bất biến tuỳ duyên>, không ngoài chủ đích chỉ đạo cho chúng ta pháp
ứng thế cao minh. Người biết xử dụng tài vật cao thủ là người biết buông,giữ, cho nhận thích cảnh, hợp thời’ giống như tứ chi của con người tự nó
biết co giãn đàn hồi tự nhiên theo nhu cầu hiện tại cuộc sống, mới khiến cho
cơ thể khỏe mạnh, sảng khoái; và khi ngủ nghỉ, thân thể tự nó biết phải trái
chuyển mình theo nhu cầu tuần hoàn để giúp chúng ta an say giấc mộng bồi bổ
năng lượng đã tiêu hao. Nếu cơ thể này chỉ có thể duỗi mà không thể co, hoặc
chỉ co mà không thể duỗi, thì đó là một cơ thể dị hình dị tật, và nhất định
sẽ gặp rất nhiều trở ngại trong cuộc sống. Do vậy, tài vật, lời nói… cần
phải biết< giữ gìn và buông xả> theo nhu cầu <cần nên> thì mới có thể tích
lương gởi hậu; bởi vì biết buông xả thì mới có thu được, và cái có được đó
phải biết gìn giữ sử dụng nó sao cho thích đáng hợp thời thì mớibảo tồn được
lâu dài. Lại nữa, những của cải mà chúng ta hiện có, nó vốn là sản xuất ra
từ quần chúng xã hội, đương nhiên cần phải chi dụng cho quần chúng xã hội
khi cần. Nếu người hiểu biết đem của cải vật chất cá nhân chi dụng cho những
sự việc lợi ích nhân nghĩa của đoàn thể đại chúng thì đó mới thực sự là cuộc
sống giàu có trong hiện tại và vị lai.
< Lý tính co duỗi đàn hồi>, không chỉ là đạo lý triết học sử dụng vật
chất mà còn là phương pháp dưỡng sanh công hiệu thiết thực, và đồng thời lại
là thông lộ xuyên suốt nghĩa tình đạo vị trong mối quan hệ giao tếø. Tiền đồ
của đời sống, không sao tránh khỏi những khó khăn trắc trở chướng ngại; muốn
vượt qua vật cản đó chúng ta không thể không dụng công tìm tòi học hỏi, hiểu
biết vận dụng thiện xảo pháp “hoán chuyển, chuyển biến” như thế nào để cái
“hoán” “chuyển” và”biến” đó được nhịp nhàng thông thương. Do vậy, bậc cổ
đức thường nói:< Cùng tắc biến, biến tắc thông> chính là ý chỉ cho <Lý tính
co duỗi đàn hồi> trong cuộc sống đời người. Khi lái xe do không rõ đường, đã
lái vào đến ngõ hẽm đường cùng, tại sao chúng ta không lập tức nghĩ ra cách
lái chuyển hướng để tìm ra tới thông lộ nơi điểm đích mà mình muốn đi đến?
Khi trước đại chúng cần biểu thị tư thái tự tôn, chánh trực, tự thân cần nên
biết ngẩng thẳng đầu ưỡn ngực; nhưng khi cùng người đối đãi, học hỏi, thì tự
mình phải biết thích thời cong thân cúi đầu, nói năng khiêm tốn nhã nhặn,
biểu thị hạnh đức tôn trọng cung kính. Nếu chỉ biết dọc ngang ngẩng cao đầu
mạnh bước hiên ngang, không biết tuỳ thời chuyển mình cong thân cúi đầu,
đương nhiên sẽ không nhận được người triều mến hoan nghênh; Hoặc giả chỉ
biết khom lưng uốn gốimột vị, không giữ được phong cách tự trọng, chánh trực
tất sẽ bị ngưòi đời khinh thị. Thế nên, trên địa đồ sinh hoạt đa dạng đa
năng của đời người, biết vận dụng cơ năng đàn hồi thẳng, cong, tiến, thối
uyển chuyển nhịp nhàng tthích ứng với đồ hình sinh hoạt hiện thực mới chính
là con đường ứng thế tuyệt diệu!
Vô Thường Đáng Quý^
無常的可貴
Con người
là loài động vật có niềm tin tôn giáo, bởi vì khi nói đến vấn đề sanh tử
cuộc sống con người, thì nhất định phải cần đến tín ngưỡng tôn giáo. Các tôn
giáo trên thế giới đều có chương trình giáo nghĩa của tôn giáo ấy. <Vô
thường > là một trong những chơn lý trác tuyệt của phật giáo. Thông thường
khi nói đến vô thường thì con người, vì không hiểu được chơn nghĩa của vô
thường nên thường là phản kháng, thậm chí làlo lắng sợ hãi.
Kỳ thật,
vô thường có cái diệu lý đáng quý của nó, bởi vì có vô thường , mới có hy
vọng ; Do có vô thường mới có tương lai. Từ cái diệu lý đáng quý đó mà Phật
giáo đã đưa ra lý giải triết học hai mặt: <vô thường , khổ, không, và vô
thường, lạc, hữu> . Giả sử trên thế gian tất cả mọi sự việc, sự kiện đều là
định hình cố định, không biến hoá, không sanh diệt; những gì cũ kỹ già nua
thì vĩnh viễn là cũ kỹ già nua; những gì nhỏ bé yếu kém vĩnh viễn là nhỏ bé
yếu kém, vô phương cải tiến phát triển. Nếu như vậy chúng ta cảm thấy cuộc
sống này như thế nào? Hứng thú? Triển vọng? Từ đó suy ra, Vô thường biến hoá
chính là giá trị đáng quý của cuộc sống.
Tuy nhiên,
vô thường có thể biến thành tốt đẹp, và vô thường cũng có thể biến thành
xấu, thành hư hoại; tất cả đều có nhân duyên của nó.
Vô thường,
khiến cho con người biết trân quý sanh mạng; Vô thường, khiến con người biết
quý tiếc những gì mình đang hiện có. Vô thường khiến con người biết quý
trọng nhân duyên, biết tôn trọng, quý tiếc từng mỗi quan hệ và không ngừng
nỗ lực phấn đấu vươn lên với niềm tin yêu tràn đầy lạc quan hy vọng.
Khi nhìn
thấy đóa hoa tươi thắm nở rộ tỏa hương khoe sắc đang dần dần héo úa tàn tạ
rụng rơi; từ hiện thực đó khiến chúng ta cảm nhận được bản chất của vô
thường. Rồi khi nhìn thấy một hạt giống triển hiện tràn đầy nhựa sống, nứt
mần, nẩy hạt, nở nụ, đơm hoa kết trái sum suê tươi tốt, thì chúng ta không
ai không khỏi không cảm xúc đến< giá trị đáng quý của sinh hoạt vô thường.
Từ ngu
si, mê mờ, do biết chuyên cần dụng công học tập mà cải tiến trở thành người
thông minh, hữu dụng; Bần cùng, do biết cần lao phấn đấu mà được tăng gia
tài phú. Đó đều là tánh chất tự nhiên đáng quý của vô thường.
Đời
thượng cổ, đế vương chuyên chế , nhân dân không hề có được cuộc sống tự do,
giả như cuộc sống thế gian không là vô thường, mà là vĩnh hằng bất biến ,
thì làm sao có được nền chính trị dân chủ ngày nay; Ngày xưa thời đại đồ đá,
dân trí chưa khai, người dân sống đời sống ăn lông ở lỗ, nếu không là vô
thường mà là thường hằng bất biến, thì ngày nay chẳng phải là vẫn dừng lại ở
thời điểm thời đại văn hóa man rợ đó sao?
Cuộc sống
vốn dĩ là hàm tàng vô thường, thế nên người có tiền của, có thế lực cũng
không nên dương dương tự đắc, bởi vì thế sự vô thường, cái tài phú kia
không thể từ một cá thể thành tựu, mà là cả một sự tập hợp nhân duyên yếu tố
và công sức của biết bao bạn lữ đồng hành đồng sự. Ngoài ra, cái tài phú,
quyền thế kia nếu không khéo sử dụng đúng pháp, tất đã ẩn tàng năm nhà tai
họa: thuế vua, trộm cướp, hoả tai, thuỷ tai, ác tử phút giây rình rập ; còn
danh vị thì càng là sớm còn tối mất thiên biến, vạn hoá; thậm chí, sức khoẻ
thân thể cũng đều làsanh diệt vô thường như cá thiếu nước, có gì bền chắc.
Do vậy, chúng ta không nên qúa tham chấp nó, mà cần nên lấy vô thường làm
giới răn để xúc tiến sự nghiệp, đồng thời cần nên trân quý hiện thực vô
thường đáng quý đó để tiến sâu vào hành trình thể nghiệm chân lý huyền diệu
hai mặt của cuộc sống <vô thưòng, khổ không; và vô thường,lạc ,hữu>.
Vô thường
là hiện tượng sống thực tự nhiên tối cao của vũ tru. Do vậy, từ xưa đến nay
đã có biết bao mặc khách văn nhân, võ tướng đứng trước hiện tượng sống thực
tư nhiên đó đã cảm ngộ, bức xúc viết lên những bài cảm tác về <vô thường>
muôn vàn gợi súc lòng người. Liệt như khi tụng đọc đến bài <Văn tế chiêu hồn
trong phẩm “Du Dà, Văn đàn chẩn tế”> viết: {Tướng quân chiến mã kim hà tại,
dã thảo nhàn hoa mãn địa sầu}, nghĩa là:Tướng quân chiến mã oai phong lẫm
liệt, nay trụ nơi nao, mà sao chỉ lưu lại dấu tích của mồ hoang cỏ dại, hoa
sầu tả tơi.}Đoạn văn tế này khiến cho người đọc không ngăn được nỗi lòng xúc
cảm vô thường. Rồi khi đọc đến đoạn miêu tả cảnh thế đất nước chiến loạn, vị
tướng Kinh Kha thốt lên lời quyết thệ:{Gió vi vu thổi sông Dịch lạnh, người
tráng sĩ một khi khởi binh lâm trận mạc, thệ cùng sứ mạng non sông quyết tử
đến cùng}, khiến chúng ta không ai khỏi chạnh lòng tán dương , thương cảm
tấm lòng anh hùng nghĩa sĩ vì dân, vì nước bi tráng hy sinh.
Vô thường,
khổ, không tuy là thật tướng của vũ trụ cuộc sống, nhưng trong cái vô thường
đó, mỗi chúng ta đều có chơn tâm thanh tịnh thường hằng bất biến; do vậy nếu
chúng ta biết dụng tâm quán sát chân lý vô thường ấy, thể hội chân lý vô
thường ấy để vượt qua những chướng mắc vô thường , thì ngay chính trong cuộc
sống vô thường đó sẽ giúp chúng ta tìm ra được con đường hiện thực tươi sáng
mà mình cần phải đi và sẽ đặt bước chân đi thật vững chắc, bình an với tư
thái nhậm vận tự tánh tiêu dao, tâm an lý đắc. Chúng ta còn chần chờ gì, sao
không gấp dụng công thể hội giá trị <vô thường đáng quý>, bởi lẽ cuộc sống
của đời người là<vô thường tấn tốc, sát na dị thế, bất dữ nhân kỳ!>
NGƯỢC DÒNG DŨNG TIẾN
^
逆流而上
Ngạn ngữ có câu “ Sự học như lái thuyền đi ngược dòng nước chảy, không
nỗ lực dũng tiến, tất sẽ bị đẩy luì ”. Người học ngoại ngữ, nếu trải qua
thời gian không vận dụng đến ngôn ngữ đó, thì rất tự nhiên sẽ bị mai một đi.
Học tập nếu không có tinh thần <văn ôn võ luyện>, <ôn cố tri tân>, đương
nhiên tầm kiến thức sẽ bị suy thoái. Sự trưởng thành của đời người đều từ
hành trình <ngược dòng chảy, dũng tiến>; nếu không phấn đấu, không tinh cần,
đương nhiên sẽ bị đẩy lùi phía sau. Trong tứ thánh quả A La Hán, sơ quả “Tu
Đà Hoàn”, theo nghĩa dịch của Trung quốc gọi là “nghịch lưu”, nghĩa là <ngược
dòng chảy, dũng tiến hướng thượng, ngược dòng sanh tử thế gian để hướng đến
đạo giải thoát cao thượng>. Dòng sanh tử của cuộc sống cứ mãi chảy xiết,
không hề buông lơi thời khắc để chúng ta dừng nghỉ, buông lung, phóng túng.
Do vậy, nếu chúng ta không nỗ lực dũng tiến, tất nhiên sẽ bị chúng đẩy lùi.,
hoặc bị dập vùi.
Thời gian gần đây, trong xã hội có rất nhiều người vì muốn sự nghiệp
phát triển đã không ngừng nỗ lực phấn đấu nhiều mặt, nhưng thật đáng tiếc,
vừa đụng phải một số trở ngại khiêu khích, gặp phải một số khó khăn thách
thức, liền bị nhụt chí, thoái lui. Thế mới biết, dòng hải dương vốn bôn ba
trùng trùng sóng cả, muốn đi ngược dòng chảy đó để đến điểm đích, nào có
đơn thuần; Càng đi, càng gặp phải sức ép chảy xiết của dòng nước và muôn
chướng ngại vật, chúng không cho phép chúng ta một khắc giây dừng nghỉ;
phóng túng buông lung. Nếu chúng ta không kiên trì nỗ lực, phấn đấu vươn lên
thì sự nghiệp của chúng ta đương nhiên sẽ bị người khác vượt trội lên chiếm
thế đứng. Khi đối mặt với chướng duyên, nghịch cảnh, nếu chúng ta không tận
lực phấn chấn tinh thần, nhẫn nại đương đầu, nhìn sát, nhìn sâu để tìm ra
thông lộ, thì đương nhiên sẽ bị chúng đánh ngã, đưa đến thất bại; Và chính
từ những vấp ngã thất bại đó khiến cho các bạn đồng nghiệp hợp vốn đầu tư
kinh doanh phân tán tinh thần, chỉ muốn chia phần tốt, phần lợi; cho đến khi
phần vốn gốc đã dùng tận cạn thì đương nhiên sẽ tự giải thể thôi.Thế nên sự
nghiệp lưu hành trên thị trường cần phải không ngừng đầu tư, và không ngừng
phấn đấu tăng cường tư liệu mới, phát triển mặt hàng mới, mới có thể giữ
vững tay lái đưa thuyền ngược dòng nước chảy, dũng tiến; và mới có đủ sức
để đột phá những xung kích trên đường ngược chiều đó. Nếu có đủ sức vượt qua
được những khảo nghiệm của không gian và thời gian, mới có thể thành tựu
được công trình mới tươi sáng cho cuộc sống thế gian. Điển dụ như khai mở
một cửa tiệm nhỏ, hy vọng chỉ trong vòng ba tháng, hoặc nửa năm liền có thể
đạt được < một vốn vạn lời>. Sự bàn tính này hẳn là đã vượt chỉ tiêu như ý.
Cửa tiệm nhỏ khi mới khai mở, nếu chẳng phải từ trong mưa gió trưởng thành,
từ trong dòng sóng nghịch chiều, dũng tiến; và nếu không có kế hoạch một năm,
hai năm, ba năm không ngừng nỗ lực phấn đấu hứơng trước tiến, làm sao có thể
thu hoạch được lợi tức phong hậu như vậy? Lời mà người xưa thường nói:” sắc
liễu xanh thẫm, hoa tươi thắm ”, “ phong hồi lộ chuyển ”; là ý chỉ trên tiền
đồ cuộc sống của đời người, có được cảnh giới trang nghiêm với muôn vàn
cảnh sắc mỹ lệ, đâu chẳng phải là do từ sự tận tâm dốc sức phấn đấu giữ vững
tay chèo vượt dòng xoáy ngược chảy xiết; đổ biết bao mồ hôi, sôi biết bao
nước mắt, và chảy biết bao huyết mạch, đối mặt với biết bao sóng gió ba đào
mới tạo được tình thế chuyển biến khả quan tốt đẹp, và mới thành tựu được cơ
đồ tươi sáng hạnh phúc ngày nay!
Hiện nay, xã hội được phân làm hai loại: xã hội thượng lưu, và nhân
vật hạ lưu. Xã hội thượng lưu là xã hội với những con người đã từng trải qua
biết bao cảnh giới khổ nạn gian lao, khó nhọc. Họ đã phải đương đầu chống cự
với biết bao ong bướm ngỗ ngược, sổ sàng; nhộng tằm nhả tơ vây bủa, mới có
thể phá gỡ được võng lưới bủa vây đó. Con tằm xuân muốn hóa thành bướm cần
phải trải qua quá trình từ nhả tơ làm kén, đợi đến khi kén biến thành hình
nhộng mới mọc cánh hóa bướm. Cũng vậy, cuộc sống của đời người nếu không
trải qua gian lao khó nhọc, nếm mật nằm gai, làm sao có được đạo lý sống
phong phú. Do vậy, muốn tiến nhập dòng sống xã hội thượng lưu, tất nhiên
phải đồng với trách nhiệm làm người lái tàu thuyền đi trên đường ngược dòng
nước chảy, phấn đấu dũng tiến. Nếu không có tinh thần qủa cảm <uy vũ bất
năng khuất> và ý chí hướng thượng <tài sắc bất năng di> mà chỉ co lại trong
cái sống vị kỷ, tham đồ cầu lợi, chỉ muốn chiếm đoạt công lao của người khác,
trọn ngày chỉ biết nhàn du nương đàn dạo cảnh, nằm chờ sung rụng không chịu
ra sức làm việc, đương nhiên chính tự mình cam nhận cuộc đời hạ lưu.
Trên thế gian, bạn xem kìa, người đèn sách học tập muốn thành tựu được
sự nghiệp công thành doanh toại, phải tự mình khống chế tất cả mọi nhàn du
dục lạc, và ngày đêm không ngừng ra sức mài kinh nấu sử; gian lao tôi luyện
cho đến ngày ứng khoa thi cử khảo hạch tràn đầy cam go gian khổ kết thúc mới
gặt hái được kết quả tên mình vinh dự đứng trên bảng vàng, vinh quy bái tổ.
Việc làm <Góp cát thành tháp, góp lông thành áo, góp gió thành bão>; là việc
làm đòi hỏi cả một kỳ công nhẫn nại phấn đấu vượt qua cấm thành hạn hữu thời
gian và không gian. Trong mỗi sự nghiệp và cuộc sống của đời người, có sự
nghiệp nào thành công rực rỡ mà chẳng phải trải qua chiến trường gian lao
khó nhọc, đối mặt với vạn ngàn quân giặc, quả cảm xông pha với chí khí quyết
chiến, quyết thắng, cho dù phải hy sinh thân mạng! Có cuộc sống vinh quang
hạnh phúc nào mà không từng trải qua biển khổ mêng mang, ngược dòng, dũng
tiến!
Cuộc sống của đời người là cả một hành trình đi ngược dòng nước chảy,
nên sanh mạng này phải không ngừng phấn đấu vươn lên mới thành tựu được cuộc
sống giá trị. Lại nữa, cuộc sống của đời người là dòng sống nghịch lưu sanh
tử, có tinh cần mới có thể vượt qua được nghịch lưu sanh tử đó để đến bờ
giải thoát giác ngộ. Sự nghiệp là một dòng cạnh tranh thị trường, có phát
triển mới có thể thành công; Người học tập đang trên trên dòng trau dồi bể
kiến thức mêng mông, cần phải nhẫn nại, dũng cảm cỡi gió vượt sóng ba đào,
và cần phải có tinh thần cầu tiến, không sợ gian lao, không màng khó nhọc,
tất cả vì sự nghiệp “ Mười năm trồng cây, trăm năm trồng người” mới có thể
thành tựu được sở học hữu dụng. Chúng ta chỉ cần có tinh thần< ngược dòng,
dũng tiến > thì ngay cả chí nguyện làm Tổ, thành Phật đều có thể thành tựu,
hà huống sự nghiệp học tập nào có gì khó khăn không thể thành tựu?
---o0o---
Chân thành cảm ơn Sư Cô Huệ
Phúc đã gởi tặng trang nhà phiên bản điện tử tập sách này.(TK.
Nguyên Tạng, 6/2005)
---o0o---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-07-2005