---o0o---
Trong mùa an cư kiết hạ năm nay (2005) Phật lịch
2549 tại Chùa Viên Giác Hannover, Đức quốc, tôi và tăng chúng độ 30 vị,
rất an lạc trong mỗi từng sát na sanh diệt của cuộc đời ở trong 90 ngày
ấy.
Năm nay
Đại chúng chùa chùa Viên Giác đang lạy đến những trang cuối của quyển I,
Kinh Đại Niết Bàn gồm 776 trang, phẩm thứ 20 tên là phẩm Phạm Hạnh. Suốt
10 năm nay chúng tôi đã lạy quyển kinh này và sang năm 2006 chúng tôi sẽ
tiếp tục lạy tập II. Cứ mỗi chữ mỗi lạy như thế, chúng tôi cảm niệm được
thâm ân của chư Phật đã chỉ rõ đường đi lối về của một hành giả đang tu
học theo pháp của Phật. Đến phẩm này có đoạn Vua A Xà Thế sau khi đã giết
cha, tâm ông vô cùng hối hận. Cả mình bị đau nhức mà thuốc gì, Hoàng hậu
Vi Đề Hy xức cho cũng không bớt được. Nhân đấy có một số vị Bà La Môn học
giả thông thái mới đến thưa với vua rằng:
Xưa nay
việc giết cha để cướp ngôi đã có nhiều người làm và vì phép của nước chứ
không phải là giới luật của người xuất gia, nên không có tội. Bệ hạ cứ an
tâm.
Rồi cũng
có vị Bà la môn đem một số ví dụ ra để minh chứng cho vua thấy rằng việc
giết cha để cướp ngôi không có tội và nói rằng:
Ví như
con trùng A La La khi sanh ra thì nó phải cắn xé bụng mẹ phải chết. Như
thế cũng đã chẳng có tội. Ngoài ra con La cũng như thế. Nghĩa là khi con
con phải được sống thì con mẹ phải biến thể; hoặc phải chết. Việc nầy
không có tội.
Cũng có
vị Bà la môn khuyên rằng: Chỉ có Đức Phật mới giải cứu được tội của Vua
thôi, nhà vua nên đến đó để sám hối và chắc chắc sẽ được hết tội. Nếu chần
chờ, Đức Phật sẽ vào Niết bàn.
Tuy có
nhiều lời khuyên như thế, nhưng nhà vua vẫn chần chờ. Vì nghĩ rằng mình là
người không xứng đáng, như kẻ cùi hủi, còn Đức Phật như một bậc Thánh nên
không muốn đến. Dĩ nhiên cuối cùng rồi ông ta cũng đã đến với Đức Phật và
đã được Phật giảng giải tỉ mỉ rõ ràng về những cội nguồn của sanh tử để
vua A Xà Thế sám hối tội lỗi xưa của mình, nhưng trước đó kinh cũng có đề
cập đến những người làm ác mà không chịu ăn năn sám hối thì sẽ bị đoạ vào
địa ngục A Tỳ, hay còn gọi là địa ngục Vô Gián. Địa ngục A Tỳ; hay còn gọi
là địa ngục vô gián. Địa ngục nầy dành cho những người mắc năm tội nặng.
Đó là giết cha, giết mẹ, giết A La Hán, phá hoà hợp Tăng và làm thân Phật
ra máu.
Chữ A có
nghĩa là không; chữ Tỳ có nghĩa là Cứu hay xen kẻ. Cũng có nghĩa là Vô
Gián. Nghĩa là không có thời gian. Ở đây có 5 nghĩa chính:
Thứ nhất
là xả thân sanh báo không có thời gian, nghĩa là sinh rồi chết, chết rồi
sinh không biết bao nhiêu lần ở trong địa ngục. Thứ hai là thọ khổ không
có niềm vui cũng không có thời gian nhất định. Thứ ba là thời gian không
hạn định ở trong một kiếp số. Thứ tư là mệnh không gián đoạn và thứ năm là
hình không gián đoạn. Địa ngục nầy ngang dọc 8 vạn do tuần, từ một người
cho đến vô số người cũng đều chứa được đầy ắp trong đó.
Đây là
một trong 8 địa ngục và bên ngoài 8 địa ngục nầy, mỗi địa ngục còn có 4
địa ngục lớn nhỏ chung quanh nữa vây bọc. Khi chúng sanh ra khỏi một trong
8 địa ngục Vô Gián nầy rồi, thấy những địa ngục bên cạnh như nước lạnh mát
mẻ, khởi tâm thích mới chạy vào đó; không ngờ đó là địa ngục thiêu đốt,
địa ngục Diêm La….tội nhân cứ chết đi sống lại, rồi bị hành hình thọ quả.
Nhiều khi muốn chết mà cũng không thể chết được. Vì quả báo thọ chưa xong.
Đồng
thời trong mùa an cư kiết hạ năm nay tôi cũng đang dịch quyển: “Phật
thuyết Lập Thế A Tỳ Đàm”. Đây là một phần nhỏ trong quyển thứ 32 thuộc
Luận Tập Bộ Toàn của Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng kinh. Trong ấy cò nhiều
phẩm khác nhau. Ví dụ như vì sao có ngày có đêm? Vì sao có sự khác biệt về
ăn mặc giữa châu nầy và châu kia. Đặc biệt Đức Phật cũng nói rõ về các
giống dân da đen, vàng, đỏ, trắng ở cõi Nam Diêm Phù Đề và ở các cõi khác.
Trong cõi Dục cũng như Sắc và Vô Sắc khác nhau như thế nào. Thật là một sự
trùng hợp lạ lùng. Trùng hợp vì lẽ Kinh Đại Bát Niết Bàn chúng tôi đang
lạy cũng đang đến chỗ diển tả địa ngục A Tỳ và dịch kinh trong mùa an cư
kiết hạ nầy cũng đang nằm ở chỗ các địa ngục. Nay nhân mùa Vu lan báo
hiếu; nên tôi kể lại sơ qua những địa ngục đã dịch để quý độc giả hiểu
thêm, nhờ đó mà mới biết nhân để sợ quả và lo sám hối tội lỗi như vua A Xà
Thế đã làm thì lợi lạc biết bao nhiêu.
Tám loại
địa ngục ấy tuần tư như sau:
Thứ nhất
là Đẳng hoạt địa ngục (Songtra); những chúng sanh bị sanh vào đây gươm đao
đâm chém, bị đánh động bởi gậy gộc, cối xay nghiền giả; khi có gió lạnh
thổi đến thì tỉnh lại và sự hành hình tiếp tục.
Địa ngục
thứ hai là Hắc Thằng địa ngục (Kalasutra). Kẻ bị phạm tội bị căn thân thể
ra bằng giây thừng đen và cưa, chém tứ chi của người có tội.
Địa ngục
thứ ba là Chúng Hợp địa ngục (Sanhata). Nơi đây những người phạm tội hợp
lại nhau và cắn xé lẫn nhau.
Địa ngục
thứ tư gọi là Hào Khiếu Địa ngục (Rovuva) cũng còn gọi là Khiếu Hoán Địa
ngục. Nơi đây tội nhân chịu cực hình khổ sở, kêu than thảm thiết.
Thứ năm
là Đại khiếu địa ngục (Maha-Rovuva). Các tội nhân mắc tội phải chịu nhiều
hình phạt tăng lên, kêu khóc càng to hơn nữa.
Thứ sáu
là Viêm Nhiệt địa ngục (Tapana). Tội nhân ở đây bị lửa thiêu toàn thân bốc
cháy, khổ cực không sao chịu nỗi.
Thứ bảy
là Đại Nhiệt địa ngục (Pratapana); nơi đây lửa thiêu cực kỳ gay gắt, lửa
tăng lên gấp đôi.
Thứ tám
là Vô gián địa ngục (Avisi). Kẻ mắc tội nơi đây phải chịu khổ hình liên
tục nên gọi là vô gián.
Chữ địa
ngục có nghĩa là ngục ở dưới đất theo nghĩa đen. Vì chữ địa là đất. Chữ
ngục là giam giữ, chữ ngục nầy gồm bộ khuyển có nghĩa là chó. Bộ ngôn có
nghĩa là lời nói và chữ khuyển cũng là con chó đứng bên phía tay mặt nữa.
Như vậy là lời nói ác như hai con chó đứng hai bên. Kẻ nào như thế đều bị
quả báo sẽ vào chốn nầy. Còn nghĩa bóng thì sao?
Ý nói
những người nào làm ác thì chịu quả báo. Có thể là ở trước mắt, chứ không
nhất thiết là sau khi chết đi mới đoạ vào địa ngục. Vi dụ như ta bất hiếu
với cha mẹ mình, thì chính trong đời nầy, con của mình nó sẽ bất hiếu với
mình, chứ không cần đời sau. Vì vậy cho nên có câu phong dao rằng:
Ngày xưa quả báo thì chầy
Ngày nay quả báo ở ngay nhãn tiền
Việc nầy
lịch sử có ghi rõ ràng qua bao triều đại phế hưng của lịch sử Việt nam,
Trung hoa, Nhật bản, cũng như lịch sử của Thế giới.
Nghĩa
bóng có nghĩa là không phải là hình thật, mà chỉ nói bóng nói gió vậy
thôi. Nhưng bóng gió đây cũng có ý nghĩa thực tế của nó như: “Hình
ngay thì bóng thẳng, hình vọng thì bóng cong”; hoặc “nhân
nào quả nấy”v.v…
Có thể
nhiều người không tin có địa ngục. Cũng có thể như thế. Vì họ bảo rằng
phải chứng minh cho họ thấy họ mới tin. Nhưng tôi thì cho rằng dù có chứng
minh đi chăng nữa, họ cũng khó tin được. Ví dụ như: Không khí chúng ta
không thấy được; nhưng chúng ta vẫn tin rằng nếu không có không khí thì
chúng ta sẽ chết, và một ví dụ khác: Ta chưa bao giờ thấy mặt của Ông bà
cha mẹ ta trong 5 hay 7 đời về trước, nhưng ta vẫn tin rằng: Nếu không có
họ, thì làm sao có ta ngày hôm nay. Đó là chuyện trước mắt mà còn không
tin thì chuyện không dùng mắt để thấy được, làm sao có thể tin được. Sở dĩ
người Phật tử tin được là vì qua trí tuệ chứng đắc của Đức Phật, Ngài đã
thấy rõ mọi sự việc trên thế gian và đã kể lại cho Ngài A Nan nghe và
những việc như thế đã được in thành sách, viết thành kinh để răn dạy người
đời. Còn tin hay không, ấy là chuyện của mỗi người, chứ Đạo Phật hay Đức
Phật chẳng bắt ai phải tin theo mình cả. Gíao lý của Đức Phật cũng ví như
ngọn đèn sáng; nhưng đối với người mù thì sự sáng ấy đâu có giá trị gì.
Nhưng điều ấy không có nghĩa là giáo lý ấy chỉ dạy cho người mù. Không
phải vì người mù mà không có ánh sáng. Sở dĩ người ta không thấy được ánh
sáng là tại vì người ta mù, chứ không phải ngược lại. Cũng như thế ấy,
người không tin Phật pháp thì dầu cho có Phật hiện thân cũng khó độ được;
huống nữa là những pho sách vỡ hay kinh điển ấy. Thật ra nó chẳng có giá
trị gì, vì người ta chưa đụng vào thực tế. Mà thực tế của cuộc sống là gì?
Là con số không to tướng, điều ấy không có nghĩa là không có tội phước,
địa ngục, cưc lạc hay cảnh giới khác v.v… Tất cả đều có và tất cả đều phải
bị chi phối bởi nghiệp lực, vô thường, khổ, không, và vô ngã. Ai hiểu được
điều nầy tức hiểu được giáo lý của Đức Phật.
Có một
điều chắc chắn chúng ta biết rằng: không có ngày hôm qua thì sẽ không có
ngày hôm nay và nếu ngày hôm nay không có thì ngày mai sẽ không có. Nhưng
trước ngày hôm qua và sau ngày mai là những gì nữa thì do nhân và quả tạo
thành cái giải luân hồi vô tận ấy và ta phải tin rằng: Nhân tốt sẽ không
bao giờ sanh trái đắng và người hiền không bao giờ bị nhân quả hàm oan.
Nếu có chỉ vì nghiệp xưa chưa trả hết và bây giờ cứ an phận mà trả cho món
nợ vô hình kia thì: “Sau cơn mưa trời lại sáng” xin đừng than phiền và
đừng trách móc ai. Vì tất cả đều do mình làm và tất cả mình phải gánh lấy
hậu quả của nó. Không ai phạt ta cả; ngoại trừ ta tự gieo nhân không lành
và cũng chẳng ai thưởng ta cả khi nghiệp dĩ vô minh của chúng ta vốn đầy
sân si và tội lỗi.
Trong
mọi kinh điển Đức Phật hay xác nhận rằng: Kẻ nhất xiển đề và kẻ phạm tội
ngũ nghịch thì bị đoạ địa ngục và nhất định không được giải thoát. Tuy
nhiên trong kinh Đại Bát Niết Bàn Đức Phật dạy rất rõ ràng là dầu cho nhất
xiển đề hay tội ngũ nghịch mà có tin nơi Tam Bảo thì người ấy trước sau
cũng có khả năng giải thoát, giác ngộ. Điều ấy cho chúng ta một sự khẳng
định như trong Đại Trí Độ Luận nói rằng: Như trong một căn phòng tồi vô
lượng kiếp (dụ cho vô minh) nếu ta mang vào căn phòng nầy một ánh đèn nhỏ,
thì dầu cho căn phòng tối bao nhiêu lâu đi chăng nữa, căn phòng ấy vẫn có
một chút ánh sáng (dụ cho chân lý giải thoát) và chính nhờ cái nhân sáng
ấy, tức nhân có tin nhân quả, nghiệp báo, Niết bàn, địa ngục mà người ấy
sẽ có khả năng thành Phật trong mai hậu.
Con
đường đến với Đạo Phật có rất nhiều lối, không phải chỉ có đi lên hay đi
xuống, đi qua đi lại, đi ngang đi dọc v.v… suốt cả một cuộc hành trình
sanh tử như thế. Chỉ đến khi nào vô minh dứt sạch thì mọi chi nhánh của 12
nhân duyên không còn nữa và lúc ây Niết Bàn an lạc lại đến với mọi người,
bất kể là ai.
Tôi mỗi
năm có được những tháng ngày yên ổn như thế này để hành trì và dịch kinh
viết sách, cảm thấy mình là người rất an lạc và hạnh phúc. Vì chân lý đang
ở trong ta chứ không phải ở bên ngoài, và tất cả đều do ta tạo tác cũng
như hưởng quả chứ không ai gieo thiện và không ai làm ác với ta. Vì tất cả
chúng sanh mới là thiện hữu tri thức của mình. Tôi chỉ biết một điều duy
nhất là: “Bồ tát sợ nhân còn chúng sanh sợ quả" mà thôi. Nên
tôi phải hiểu mình là ai hơn là đi tìm hiểu kẻ khác là ai. Vì có kẻ khác
nầy thì lại có thêm kẻ khác nữa. Ai công đâu mà phải đi tìm 6 tỉ nhân sinh
như thế trên quả địa cầu nầy. Đó là chưa kể đến những chúng sanh khác ở
thế giới nầy hay thế giới khác nữa. Vì:
“Công đâu công uổng công thừa
Công đâu gánh nước tưới dừa Tam quan”
Xứ Tam
quan chắc là dừa nhiều lắm, người ta có muốn tưới cây không thể tưới hết
nỗi. Do vậy bổn phận của mỗi người hãy tự tưới tẩm tâm thức của mình một
chút hiểu biết, là cây giác ngộ sẽ có cơ hội đâm chồi nảy lộc rồi.
Tóm lại
viết cho báo Tâm Giác lần nầy nhân lễ Vu Lan mà viết về Địa ngục, chắc
chắn nhiều vị độc giả bảo rằng: ‘Tôi đem chuyện ma nhác con nít ngày hôm
nay, là điều chúng chẳng sợ mà còn cười”. Xem ai đó có cười thì cứ cười.
Vì sau nụ cười bao giờ cũng là tiếng khóc. Vì ai đó “chưa thấy quan tài
chưa đổ lệ”. Khi nghiệp dĩ đã phát sanh, lúc ấy cứu chữa đã chậm lắm rồi.
Như Đề Bà Đạt Đa, A Xà Thế, Vô Não.v.v… Đó là người đời xưa. Còn bây giờ
nhiều nhà tù đang nhốt tù nhân trong đó; những nơi đày ải cải tạo ấy chẳng
phải địa ngục là gì? Nhưng ở trong ấy nếu người nào còn có niềm tin, có sự
hy vọng thì sẽ có tất cả. Vì tục ngữ Nga có nói rằng:
“Mất tiền là chẳng mất gì hết cả. Mất danh dự là mất một phần lớn của cuộc
đời. Chỉ có ai đánh mất đi niềm tin và mất sự hy vọng mới là mất hết tất
cả”.
Mong
rằng quý vị đừng đánh mất một niềm tin.
Viên Giác Tự vào một sáng mùa hạ
Nhân mùa an cư kiết hạ năm Ất
Dậu-2005
---o0o---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-11-2005