Trong bài thơ Tết của Mẹ tôi, nhà thơ Nguyễn Bính
viết: "Suốt đêm giao thừa Mẹ tôi thức; Lẩm nhẩm đọc
kinh Đức Chúa Ba".
Bà mẹ nhà thơ đọc kinh Bà Chúa Ba, giữ cho cái tâm
trong sáng để những lời cầu nguyện của mình được linh ứng; vì
một năm cũ đã qua, một mùa Xuân mới đã đến, một chu ký mới
của sự tuần hoàn trong vũ trụ và nhân sinh bắt đầu, người ta
với tất cả lòng thành cầu nguyện cho mọi sự tốt lành, tai qua
nạn khỏi, làm ăn phát đạt. Người Việt Nam, nhất là những
người bình dân có niềm tin như vậy.
Tôi theo gương bà mẹ hiền từ ấy viết lên lời
cầu nguyện mùa Xuân này cho dân tộc tôi.
Tôi hiểu dân tộc mình trước tiên qua Mẹ tôi.
Trong một bài thơ gởi cho bạn cũ ở phương xa, sau 40
năm xa cách, mất liên lạc vì chiến tranh. Tôi ôn lại những
kỹ niệm xưa:
Có thằng bạn nhỏ hiền như đất
Cuộc đời nổi mấy trận phong ba!.
Thằng bạn nhỏ hiền như đất ấy chính là tôi.
Thuở nhỏ, khi mới vào học mấy năm đầu Tiểu học,
tôi là một trò nhỏ nhút nhát, ai bắt nạt cũng chịu, không dám
gây gỗ với ai cả. Ấy là do sự giáo dục của Mẹ tôi.
Cứ mỗi lần tôi đi ra ngoài đường là Mẹ tôi căn dặn:
"Con đừng tranh dành với các bạn; một sự nhịn là chín sự
lành, con nghe Mẹ ai nhất thì tôi thứ nhì; ai mà hơn nữa thì tôi
thứ ba
" Mẹ tôi là con gái nhà nông nghèo của một
làng quê nghèo, họa hằng mới có năm không bị lụt lội
người làng tôi gọi là vỡ dường người dân chỉ biết cam
chịu thiếu thốn, rau cháo qua ngày không oán giận trời đất gì cả.
Mẹ tôi, sau này số phận dun dủi thế nào, lấy chồng làm quan,
nhưng vẫn giữ lề thói quê mùa, lành hiền như thời con gái ở
nhà cha mẹ chân lắm tay bùn.
Tôi còn nhớ khi anh tôi đỗ được Tiểu học ở
tỉnh Bắc Giang, Mẹ tôi đưa anh tôi sang tỉnh Bắc Ninh để nộp đơn xin
học Trung học, dắt tôi đi theo. Trường Trung học chỉ thu nhận
một số học sinh mà người nộp đơn thì đông, chen lấn nhau, cãi nhau
ồn ào, sợ không được vào học. Viên Giám đốc người
Pháp tức bực từ trong phòng của y đi ra. Một anh học sinh táo
tợn xô các bạn, xông lên đưa lá đơn, liền bị y thẳng tay tát cho
một cái như trời giáng. Mẹ tôi xanh lè mặt, một tay dắt tôi,
một tay nắm lấy cánh tay anh tôi, kéo ra ngoài cổng: "Thôi con ạ,
không được học thì thôi, về đi con!"
Dần dà tôi lớn lên, biết nhận xét, biết suy nghĩ,
tôi thấy những nét đặt trưng của Mẹ tôi, cũng là nét đặt
trưng của đông đảo đồng bào; chỉ cầu mong được sống bình yên,
không ưa những sự tranh chấp, đối địch.
Tỉnh Bắc Giang, nơi tôi được sinh ra và lớn lên có
một con sông chảy qua, tên gọi sông Thương. Người trong tỉnh lưu
truyền truyện cũ: Ngày xưa, những người dân Việt bị nạp cống sang
Tàu thường được cha mẹ vợ con tiễn đưa đến bờ Nam con sông
này rồi vĩnh biệt; những người phải đi, vượt qua sông sang bờ
bên kia bị áp giải lên Lạng Sơn, sang Tàu. Người quay về, kẻ
ra đi thương nhớ n hau khôn tả; vì thế con sông này thành tên sông
Thương!.
Có lẽ vì cư trú một nơi có cái truyền thuyết buồn
thương ấy, cho nên người dân ở tỉnh trung du này ưa sống bình yên,
an phận hơn là náu nhiệt đua tranh ít ra đó là điều cảm nhận
hồi tuổi thơ của tôi.
Phải chăng cái ấn tượng tâm lý ban đầu này đã
xây nền cho nhận thức của tôi, mà sau này, cho đến bây giờ, đã
đi nhiều nơi, gặp nhiều người, tôi vẫn đinh ninh rằng cái nét bản
chất của dân tộc tôi là thuần phúc, hiền lương, ưa chuộng một
cuộc sống hòa hợp, hướng thiện, tương thân; tương ái, lánh xa
những sự xung đột, xô xát. Tục ngữ răng dạy: "Ở hiền
gặp lành" , "ác giả ác báo", "tham thì thâm".
Truyện cổ tích luôn luôn kể rằng những người nhân đức bao
giờ cũng gặp may mắn; nếu gặp điều bất hạnh, vấp phải tai ách
thì ông Bụt sẽ hiện lên và cứu trợ. Các bà Mẹ thường
nghiêm cấm các con nhỏ phá tổ chim, ngắt cánh một con bướm, một
con chuồn chuồn, vì thế có câu nói: "Phúc đức tại mẫu".
Các bậc đại văn hào của dân tộc tôi đã từng khuyến cáo
mọi người:
Lấy điều nhân nghĩa dạy con
May mà gặp tiết nước non xoay vần
Ở cho có đức có nhân
Mới mong đời trị được ăn lộc trời
Dân tộc tôi đã phải chịu nhiều thiên tai địch họa;
hàng năm phải chống chọi với những cơn bão lụt, úng hạn nặng
nề; lịch sử đã trải qua những cuộc xâm lăng tàn bạo; nhưng dân
tộc tôi không oán trời giận đất; không nao núng tinh thần.
Trái lại lòng tự nhủ lòng phải vượt qua những thử thách
của cuộc sống, như một vị anh hùng dân tộc đã viết:
Trời thử lòng, trao cho đại nhậm
Ta gắng sức khắc phục gian nan
Dân tộc tôi chấp nhận số phận của mình và điều
chỉnh nó, tự tin vào sự thành tâm, thiện chí của mình.
Hơn năm trăm năm trước, một bậc đại trí đã
tuyên ngôn:
Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Điều đó thật đúng. Nước Đại Việt nay là
nước Việt Nam, là một quốc gia hiên ngang tự hào về nền văn
hiến của mình và đó là cốt cách, là khí phách của dân tộc.
Nền văn hiến ấy không phải được biểu thị bằng quân lực
hùng mạnh, tài nguyên phong phú mà đất nước không thiếu; nhưng
chủ yếu bằng sự thành tâm, thiện chí "đem đại nghĩa thắng hung
tàn, lấy chí nhân thay cường bạo".
Một dân tộc như thế, thật xứng đáng được sống
an lạc, thái hòa! Chỉ còn vài năm nữa, nhân loại sẽ bước
sang thiên niên kỷ mới. Mùa Xuân này, đứng trên bậc thềm
của kỷ nguyên trước mặt, tôi xin thành kính chấp tay cầu nguyện:
Xin cầu nguyện cho dân tộc tôi, đất nước tôi sẽ
được sống trong một cộng đồng thế giới hòa bình, hữu nghị,
không có khói lửa chiến tranh.
Không muốn có chiến tranh, không phải vì dân tộc tôi
khiếp nhược. Đất nước tôi đã bao phen bị xâm lược bởi
những kẻ hùng mạnh gấp trăm lần và tàn bạo hơn loài dã thú,
lần nào nhân dân tôi cũng chiến thắng oanh liệt. Nhưng vì đã
đối mặt với chiến tranh, dân tộc tôi biết rõ cái giá phải trả.
Chiến tranh bao giờ cũng là một cơn điên khùng của những
người tham chiến, trong cơn điên khùng ấy lại trỗi dậy những thú
tính thấp hèn khi con người chưa thành con người.
Cuộc chiến tranh gần nhất là cuộc kháng chiến chống
đế quốc Mỹ xâm lược đã kết thúc hơn 20 năm rồi mà còn bao
nhiêu hài cốt liệt sĩ chưa tìm được, có thể chẳng bao giờ tìm
được; mà những lời "Nhắn tìm đồng đội" vẫn khoắc
khoải trên các phương tiện thông tin chờ đợi trả lời; mà bao
nhiêu giọt nước mắt lúc nào đó lại ứa ra từ những cặp mắt
trũng sâu của các bà mẹ Việt Nam cũng như các bà mẹ Mỹ.
Chiến tranh thật sự là một tai ương cho nhân loại; cho
nên điều đầu tiên, tôi cầu nguyện cho hòa bình.
Lời cầu nguyện thứ hai là cầu nguyện cho con người
bớt đi những tham vọng, nó chính là nguyên nhân tệ nạn xã hội
mà không một quốc gia nào trên hành tin này tránh thoát; những tệ
nạn đe dọa, hủy hoại từ sự sinh hoạt thường ngày của mỗi
người như trộm cắp, cướp của giết người cho đến những nguy cơ
lớn lao đối với sự sống của toàn nhân loại như sự tàn phá
môi trường tự nhiên, sự biến đổi khí hậu trên trái đất, nạn
ô nhiễm này càng nghiêm trọng v.v
Dân tộc tôi có nhiều
người là Phật tử và có những người không là Phật tử, nhưng
mọi người có lương tri đều hiểu rằng: Tham, Sân, Si ba cái
độc ấy là mầm mống của tất cả mọi cái ác trên thế gian này,
vì thế cần phải hạn chế, ngăn ngừa. Dân tộc tôi không hám
danh vụ lợi, nhất là danh lợi bất chính. Những trẻ thơ
thường được cha mẹ dặn dò: đi đường nhặt được của rơi thì
phải tìm người vô ý đánh rơi mà trả lại người ta; vợ chồng
ăn ở với nhau bao giờ cũng phải giữ đạo thủy chung, không
được tham phú phụ bần. Về sự buôn bán, dân gian có lời
khuyên nhủ:
Theo chi những thói gian tham
Pha phôi thật giả tìm đường dối nhau
Của phi nghĩa có giàu đâu
Ở cho ngay thật giàu sau mới bền.
Tôi cầu nguyện cho cái động lực của sự tiến bộ
trong xã hội loài người là sự lương thiện, không phải lòng tham
dục.
Lời cầu nguyện thứ ba của tôi là dân tộc tôi sẽ
duy trì và phát huy được những truyền thống tốt đẹp của mình,
đậm đà tính nhân văn và bản sắc dân tộc.
Tiếp xúc với văn minh thế giới, chủ yếu là văn
minh Tây phương, dân tộc tôi có những cái "được" nhưng
cũng có nhiều cái "mất". Cái "mất" to lớn
nhất, quý giá nhất là đạo đức.
Đất nước tôi đã trải qua hàng ngàn năm dưới
chế độ quân chủ phong kiến. Trong thời kỳ lịch sử ấy, đã
có không ít những vị vua quan hiền đức yêu nước thương dân.
Có vị vua do chí nguyện, đã từ bỏ cuộc sống ở ngôi cao cả,
lên núi tu hành, tìm sự giải thoát; nhưng vì thương nước
thương dân bị xâm lược đọa đày, lại xuống núi cầm quân đánh
giặc, vãn hồi lại cảnh nước thịnh, dân yên, rồi mới trở lại
thực hiện tâm nguyện riêng của mình. Lại có vị vua nhìn thấy
con gái ở trong cung ăn no, mặc ấm, chạnh thương những người vì
lầm lỗi bị giam trong ngục tù ngày đông tháng giá, liền ra lệnh đem
thêm chăn áo, thêm suất ăn cho tù nhân.
Nước tôi có nhiều bậc quan trọng nghĩa, chính trực,
một lòng vì nước vì dân sẵn sàng xả thân cứu nguy "dù trăm
thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa ta cũng
cam lòng"; có bậc hiền thần dũng cảm dâng sớ xin chém đầu
bọn gian thần được vua sủng ái, không sợ bị nhà vua trị tội, bị
kẻ thù hãm hại; có bao nhiêu vị danh nho cả đời lo cho dân nước,
đến lúc tuổi già, được về trí sĩ lại mở đường dạy học
để lưu truyền đạo lý làm người, làm dân cho các thế hệ thiếu
niên; có vị còn được vua cha mời làm thầy học cho hoàng tử và
lúc hoàng tử kế vị làm vua, ông thầy ấy khi cần vẫn có những
điều giáo huấn trong việc trị nước.
Dân tộc tôi lấy gia đình làm nền tảng cho xã hội
cho nên kỷ cương đạo đức trong gia đình rất được chú trọng.
Truyền thống gia đình Việt Nam về cơ bản mang ý nghĩa tích cực,
các bậc cha mẹ bao giờ cũng khuyên con làm tròn nghĩa vụ với
nước với dân.
Dân tộc tôi hoàn toàn có quyền tự hào về đạo
nghĩa vợ chồng truyền thống và đó cũng là cái nền hạnh phúc.
Cho đến nay, nhiều gia đình, trong lễ vu quy, thường trịnh trọng
đứng trước bàn thờ gia tiên trao cho dâu, rể làm quà cưới hai
chiếc nhẫn khắc hai chữ Nhẫn Hòa. Nhẫn: Yêu thương
nhừng nhịn và Hòa: vui vầy, chan hòa; ấy là hai yếu tố đảm
bảo cho gia đình đầm ấm, vợ chồng thủy chung.
Dân tộc tôi khuyến cáo mọi người từ thiên tử
đến thứ dân, ai cũng phải lấy sự tu thân làm gốc. Người
người đều gắng sức trao dồi đạo đức bản thân
Có
người đem so sánh văn hóa Việt Nam với văn hóa phương Tây và
phê phán xã hội xưa của ta không quan tâm đến cá nhân mà chỉ coi
trọng cộng đồng; nhận xét như vậy không thật là đúng. Theo
quan niệm truyền thống, vai trò chủ thể của cá nhân rất quan trọng;
nhưng đó là nhìn về mặt trách nhiệm đóng góp với cộng
đồng, hơn là mặt lợi ích riêng đòi hỏi ở cộng đồng. Văn
hào Nguyễn Công Trứ nổi tiếng về khí phách hiên ngang đã tuyên
bố: Vũ trụ giai ngô phận sự (công việc trong trời đất là nhiệm
vụ của tôi) và tự coi mình như cây thông giữa trời, vách
đá cheo leo Ai mà chịu rét thì trèo với thông. Quan niệm
về cá nhân tích cực như vậy nên sự trao dồi phẩm giá bản thân
là rất cần. Văn hóa đạo đức truyền thống có nhiều cái
hay, cái tốt cho nên tôi cầu nguyện cho dân tộc tôi, trên đường
phát triển, tiếp nhận những tin hoa văn hóa hiện đại của thế
giới, không đánh mất gốc rễ văn hóa của mình. Gốc rễ
vững thì cây lớn, bền.
Lời cầu nguyện mùa Xuân của tôi cho dân tộc mình
gồm ba điều nói trên. Đó cũng là những điều nhân nghĩa mà
người Việt Nam đời đời ôm ấp: "Việc nhân nghĩa cốt ở
yên dân".