Một
lời
chúc
thường
được
nghe
nơi
các
sân
chùa
Việt
Nam,
"Năm
mới
chúc
quý
bà
con
đạo
hữu
trọn
hưởng
Mùa
Xuân
Di
Lặc,"
nguyên
khởi
từ
đâu
và
có
ý
nghĩa
gì?
Theo
giải
thích
của
Hòa
Thượng
Đức
Niệm,
trong
cuốn
Cho
Trọn
Mùa
Xuân,
"Xuân
Di
Lặc
là
xuân
hoan
hỷ,
niềm
hoan
hỷ
tràn
đầy
vô
biên,
không
vướng
mắc,
không
bận
lòng,
không
lo
âu,
không
phải
là
xuân
vui
theo
thời
gian
mùa
tiết
đến
đi,
mà
là
xuân
thường
nhiên
bất
diệt,
xuân
miên
vin
chơn
thường,
xuân
phát
triển
khả
năng
thánh
thiện."
Di
Lặc
là
một
nhân
vật
lịch
sử
trong
nhà
Phật,
nhưng
cũng
mang
đầy
tính
huyền
thoại
với
nhiều
chuyện
kể
dân
gian,
đặc
biệt
là
Trung
Hoa.
Đối
với
những
ngày
xuân,
hình
ảnh
Bồ
tát
Di
Lặc
còn
có
một
ý
nghĩa
đặc
biệt
khác:
Ngày
mồng
một
Tết
là
ngày
Vía
Đức
Di
Lặc.
Trong
bài
"Đức
Di
Lặc
Bồ
Tát
Hay
Là
Hội
Long
Hoa,"
Hòa
Thượng
Tâm
Châu
giải
thích,
"Nối
sau
Phật
Thích
Ca,
có
Ngài
Di
Lặc
Bồ
Tát
là
một
vị
Phật
bổ
xứ,
sẽ
hiện
thân
xuống
thế
giới
Sa
Bà
giáo
hóa
chúng
sinh.
Di
Lặc
là
tiếng
Phạn;
Trung
Hoa
dịch
là
Từ
Thị
hay
Từ
Tôn:
Người
tu
tâm
Đại
Từ,
ấy
là
hiệu
của
Ngài.
Tiếng
Phạn
gọi
là
AĐật-Đa,
Trung
Hoa
dịch
là
Vô
Năng
Thắng:
không
ai
hơn
ai,
đó
là
tên
của
Ngài."
Chúng
ta
cũng
thấy
hình
ảnh
Ngài
Di
Lặc
(viết
theo
tiếng
Anh
là
Maitreya)
trong
các
niềm
tin
khác,
thí
dụ
như
các
lời
tiên
tri
của
Hội
Thông
Thiên
Học
nói
về
việc
Đức
Di
Lặc
hóa
thân
làm
vị
thầy
tương
lai,
mà
đầu
thế
kỷ
này
họ
tin
đó
là
đạo
sư
Krishnamurti;
hoặc
lời
tiên
tri
về
Hội
Long
Hoa
của
đạo
Cao
Đài.
Trong
văn
học
dân
gian,
Đức
Di
Lặc
mang
hình
ảnh
một
ông
Phật
bụng
phệ,
miệng
cười
thật
rộng,
với
các
em
trẻ
nhỏ
trèo
lên
người
nghịch
phá,
kéo
tai,
rờ
bụng,
chọc
mũi,
nhưng
Ngài
vẫn
thoải
mái
cười
vui,
không
bực
dọc.
Một
số
nhà
nghiên
cứu
Phật
học
lý
giải
hình
ảnh
này
như
một
biểu
tượng
tu
học:
Các
em
trẻ
nhỏ
tượng
trưng
cho
6
trần
quậy
phá,
qua
các
căn
nhãn
nhĩ
tỉ
thiệt
thân
ý
(6
căn,
mắt
tai
mũi
lưỡi
thân
ý),
nhưng
người
chứng
ngộ
vẫn
an
nhiên
ngồi
trong
Tánh
Phật.
Còn
về
các
hóa
thân
của
Phật
Di
Lặc,
cuốn
Song
Lâm
Phó
Đại
Sĩ
Ngữ
Lục
Hành
Thế
ghi
rằng:
"Về
đời
Ngũ
Quý
bên
Tàu,
ở
đất
Minh
Ba,
huyện
Phụng
Hóa,
Châu
Ninh,
có
một
vị
Tăng
hình
người
lùn
béo,
bụng
to
da
đen,
vẻ
mặt
nhơn
từ,
thường
dùng
một
cây
gậy
quảy
một
túi
vải,
trong
đựng
bình
bát,
dạo
khắp
thôn
quê
thành
thị,
xin
được
bất
kỳ
vật
gì
ngon
dở,
Ngài
đều
ấn
vào
trong
túi
ấy
cả,
thấy
vậy
thiên
hạ
thường
gọi
là
Bố
Đại
Hòa
Thượng.
Ngoài
hai
chữ
Bố
Đại
(túi
vải)
ra,
không
một
ai
biết
quê
quán
tên
họ
Ngài
là
chi.
"Ngài
còn
làm
nhiều
điều
dị
thường:
Người
nào
được
Ngài
khất
thực
thì
người
ấy
buôn
bán
may
mắn,
đắt
hàng
nhiều
lợi.
Gia
đình
nào
được
Ngài
tới
khất
thực
thì
gia
đình
ấy
làm
ăn
thịnh
vượng,
trên
thuận
dưới
hòa.
Tính
Ngài
hay
nằm
đất
mà
mình
không
lấm
nhơ,
hoặc
có
khi
Ngài
ngồi
ngoài
mưa
hay
trên
sương
tuyết
mà
không
hề
ướt
áo.
Khi
đương
nắng
mà
Ngài
bỏ
dép
đi
guốc
thì
trời
sắp
mưa...
Các
vị
Tăng
khác,
ai
có
duyên
gặp
Ngài
hỏi
đạo,
thì
Ngài
chỉ
bảo
cho
đều
được
tỏ
ngộ
cả.
Đến
niên
hiệu
Trinh
Minh
năm
thứ
ba,
tháng
ba,
mùng
ba,
Ngài
ngồi
trên
một
tảng
đá
lớn
sau
Chùa
Nhạc
Lâm
thuyết
một
bài
kệ
rằng:
Di
Lặc
chơn
Di
Lặc
Hóa
thân
thiên
bách
ức
Thời
thời
thị
thời
nhơn
Thời
nhơn
giai
bất
thức
Nghĩa
là:
Ta
đây
thiệt
Di
Lặc
Hóa
ra
ngàn
vạn
thân
Thường
đứng
trước
mặt
người
đời
Mà
người
đời
chẳng
ai
biết.
"Nói
xong
bài
kệ,
Ngài
liền
thị
tịch.
Từ
đó
về
sau,
người
ta
đua
nhau
làm
tượng
vị
Bố
Đại
Hòa
Thượng
để
thời
mà
gọi
là
Phật
Di
Lặc."
(Bản
dịch
của
Hòa
Thượng
Tâm
Châu)
Hòa
Thượng
Tâm
Châu
còn
giải
thích
rằng,
trong
Đại
Tạng
Kinh,
có
tới
6
quyển
kinh
Di
Lặc,
ghi
các
lời
Phật
Thích
Ca
thuyết
giảng
về
những
điều
liên
hệ
tới
Đức
Di
Lặc.
Khi
Phật
Thích
Ca
Mâu
Ni
ra
đời,
Di
Lặc
Bồ
Tát
giáng
sanh
trong
nhà
một
vị
Bà
La
Môn,
tên
Ba-Bà-Lợi,
ở
Nam
Thiên
Trúc
vào
ngày
mồng
1
tháng
giêng
(ngày
đầu
năm).
Họ
của
Ngài
là
A
Dật
Đa
(không
ai
hơn).
Tên
Ngài
là
Di
Lặc
(Từ
Thị).
Tên
họ
này
tiêu
biểu
lòng
từ
bi
hỷ
xả
vô
lượng
vô
biên
của
Ngài.
Từ
bao
nhiêu
kiếp
cho
đến
khi
thành
Phật,
Ngài
lúc
nào
cũng
lấy
danh
hiệu
là
Di
Lặc.
Nhờ
Phật
Thích
Ca
dạy
tu
pháp
Duy
Thức
Quán,
Ngài
quán
sát
các
pháp
đều
do
thức
tâm
biến
hiện,
không
có
một
vật
nào
chơn
thật,
thấu
rõ
được
lý
"Tam
giới
duy
tâm,
vạn
pháp
duy
thức."
Vì
ngài
nhận
thấy
cảnh
giàu
sang
phú
quý
danh
vọng
quyền
tước...
đều
như
bóng
trong
gương,
như
trăng
dưới
nước,
do
thức
tâm
biến
hiện,
nên
Ngài
dẹp
trừ
được
vọng
tưởng
si
mê
về
giả
cảnh,
chuyển
tánh
Biến
Kế
Sở
Chấp
trên
Y
Tha
Khởi
trở
lại
làm
tánh
Viên
Thành
Thật.
Vì
thế
nên
Phật
Thích
Ca
thọ
ký
cho
Ngài
về
đời
sau
sẽ
làm
Phật
hiệu
là
Di
Lặc
và
bổ
xứ
ở
thế
giới
Sa
Bà
này.
Mặc
dù
đã
tu
qua
hàng
trăm
triệu
kiếp,
hình
ảnh
Đức
Di
Lặc
dưới
mắt
một
vài
vị
Cao
Tăng
môn
đệ
của
Phật
Thích
ca
vẫn
chưa
có
gì
là
sắp
thành
Phật.
Hay
phải
chăng
đây
cũng
chỉ
là
chuyện
các
vị
BỔ
Tát
bày
trò
với
nhau
cho
vui?
Chúng
ta
không
thể
biết
hết
những
cảnh
giới
của
chư
vị
này.
Trong
Kinh
Phật
Thuyết
Quán
Di
Lặc
Bồ
Tát
Thượng
Sinh
Đâu
Suất
Thiên,
thì
Ngài
Ưu
Ba
Ly
hỏi
Phật
Thích
Ca,
"Kích
bạch
Thế
Tôn,
xưa
kia
Thế
Tôn
nói
trong
kinh
luật
rằng
A
Dật
Đa
sẽ
được
thành
Phật
ở
đời
sau
này.
Nay
con
thấy
rằng
ông
A
Dật
Đa
còn
đầy
đủ
tấm
thân
phàm
phu
và
chưa
dứt
hết
được
các
lậu
hoặc.
Khi
Di
Lặc
mất,
sẽ
sinh
nơi
nào?
Bản
thân
Di
Lặc,
con
người
hiện
nay,
tuy
là
xuất
gia,
không
tu
thiền
định,
không
dứt
phiền
não.
Thế
Tôn
thụ
ký
cho
ông
Di
Lặc,
con
không
dám
nghi.
Nhưng
con
muốn
biết,
khi
ông
mất
rồi,
sinh
vào
nước
nào?"
Phật
dạy
rằng,
Đức
Di
Lặc
sẽ
sinh
vào
cõi
trời
Đâu
Suất
(Phạn
ngữ
là
Tusita),
và
sẽ
dạy
pháp
Duy
Thức
nơi
đây
cho
đến
khi
thời
cơ
tới,
sẽ
lại
sinh
vào
một
gia
đình
Bà
La
Môn
ở
nước
Ba
La
Nại,
thương
xót
chúng
sinh
khổ
não
nên
xin
cha
mẹ
cho
đi
tu,
đến
ngồi
thiền
định
và
thành
Phật
dưới
gốc
cây
Long
Hoa.
Lúc
đó
(một
tương
lai
rất
xa
nào
đó),
Phật
Di
Lặc
thuyết
pháp
độ
chúng
sinh
dưới
cây
Long
Hoa
theo
ba
hội:
Hội
thứ
nhứt
độ
được
chín
mươi
sáu
ức
người
thành
A
La
Hán,
hội
thứ
hai
độ
được
chín
mươi
bốn
ức
người
thành
A
La
Hán,
hội
thứ
ba
độ
được
chín
mươi
hai
ức
người
thành
A
La
Hán.
Đó
là
thời
kỳ
người
ta
gọi
là
Long
Hoa
Tam
Hội.
Trong
niềm
tin
dân
gian,
hình
ảnh
Đức
Di
Lặc
còn
tượng
trưng
cho
sự
may
mắn.
Trước
cửa
nhiều
ngân
hàng
của
người
Hoa
thường
có
tượng
Đức
Phật
Di
Lặc,
có
khi
là
hình
ảnh
nhà
sư
Bố
Đại
ngồi
cười
khoe
rún
với
các
trẻ
nhỏ
vây
quanh,
có
khi
đứng
đưa
cao
hai
tay
lên
trời
miệng
cũng
cười
toe
toét.
Đặc
biệt,
hầu
hết
các
sòng
bài
tại
Hoa
Kỳ,
nơi
có
đông
cư
dân
gốc
Á
Châu,
trước
cửa
thường
để
tượng
Phật
Di
Lặc
ngồi:
Người
ta
tin
là
lấy
tay
xoa
rún
Ngài
trước
khi
vào
sòng
bài
sẽ
gặp
nhiều
may
mắn.
Kinh
Phật
không
hề
dạy
như
vậy,
nhưng
niềm
tin
dân
gian
này
đã
thành
huyền
thoại
và
lây
sang
cả
nhiều
người
da
trắng.
Theo
một
bản
tin
trên
báo
O.
C.
Register
hai
năm
trước,
một
phụ
nữ
da
trắng
Hoa
Kỳ
trúng
số
độc
đắc
đã
giải
thích,
mỗi
khi
mua
vé
số
tại
tiệm
tạp
hóa
quen
thuộc
ở
Huntington
Beach,
Quận
Cam,
bà
luôn
luôn
lấy
tay
xoa
bụng
tượng
Phật
Di
Lặc
trên
quầy
tiệm
này.
Không
hề
gì,
Phật
Di
Lặc
không
hề
kỳ
thị
tôn
giáo.
Kính
chúc
độc
giả
cũng
hưởng
một
Mùa
Xuân
Di
Lặc,
đầy
bình
an,
may
mắn,
với
đủ
ý
nghĩa
của
chữ
Từ
Thị
-
lòng
yêu
thương
chúng
sinh
vô
lượng.