Lý
Thường Kiệt vốn có họ và tên thật là Ngô Tuấn,người
làng Bắc Biên,xã Phúc Xá (nay thuộc xã Ngọc Thụy,huyện
Gia Lâm,Hà Nội),sau ông dời nhà về định cư phường
Thái Hòa (nay thuộc nội thành Hà Nội).Ngô Tuấn tự là
Thường Kiệt,sau vì có công,được triều đình ban thưởng
rất trọng hậu,lại còn cho lấy theo họ của Hoàng Đế
nhà Lý,đương thời liền nhân đó ghép họ được ban
với tên tự mà gọi là Lý Thường Kiệt,mãi rồi thành
quen,khiến cho không ít hậu sinh quên mất cả họ lẫn tên
thật của ông.Ông sinh năm Kỷ Mùi (1019),mất năm Ất Dậu
(1105),hưởng thọ 86 tuổi.
Trong quân sự, Lý Thường
Kiệt là bậc đại danh tướng,là linh hồn của những
chiến công lớn nhất lịch sử nươc nhà trong thế kỷ thứ
XI ; Trong chính trị,Lý Thường Kiệt là đấng đại danh thần,là
chỗ dựa tin cậy và vững chắc của nhà Lý,nhất là dưới
thời trị vì của Hoàng Đế Lý Nhân Tông (1072-1127) ;
Trong lịch sử văn học,Lý Thường Kiệt là cây đại bút,tác
giả của Nam quốc sơn hà - áng hùng thi có giá trị thiêng
liêng như bản tuyên ngôn độc lập lần thứ nhất của nước
nhà.Trong bộ bách khoa toàn thư đồ sộ của mình là Lịch
triều hiến chương loại chí (Nhân vật chí),nhà bác học
Phan Huy Chú viết về Lý Thường Kiệt như sau :"Ông là
người giàu mưu lược lại rất có biệt tài làm tướng
súy,từng làm quan trải thờ đến ba đời Hoàng Đế (gồm
Lý Thái Tông : 1028-1254 ,Lý Thánh Tông : 1054-1072 và Lý
Nhân Tông : 1072-1127 - NKT), phá Tống,bình Chiêm,công lao
đức vọng ngày một lớn,được sủng ái,thật xứng là
người đứng đầu các bậc công hầu vậy ".
Năm 1069,Lý Thường Kiệt
được cùng với Hoàng Đế Lý Thánh Tông cầm quân đánh
thẳng vào Nam,trừng trị đích đáng hành vi quấy phá của
Chiêm Thành và bẻ gãy mưu đồ lợi dụng Chiêm Thành
mà nhà Tồng đã công phu chuẩn bị từ nhiều năm trước.Năm
1075,Lý Thường Kiệt là người trực tiếp vạch kế hoạch,đồng
thời cũng là tướng tổng chỉ huy quân đội Đại Việt,bất
ngờ tiến như vũ bão sang Trung Quốc,san bằng ba căn cứ
lớn ở Ung Châu,Khâm Châu và Liêm Châu,tiêu diệt một
phần tiềm năng quân sự rất quan trọng của nhà Tống.Năm
1077,một lần nữa,Lý Thường Kiệt vừa là người trực
tiếp vạch kế hoạch,lại cũng vừa là tướng tổng chỉ
huy quân dân Đại Việt trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ
đại chống quân Tống xâm lăng.Với trận đại thắng lẫy
lừng ở trận quyết chiến chiến lược Như Nguyệt (tháng
3 năm Đinh Tî - 1077),tên tuổi của Lý Thường Kiệt đã
trở nên bất diệt với lịch sử nước nhà.Dư âm của
trận Như Nguyệt vang khắp bốn phương,khiến cho các nhà tu
hành Phật Giáo lúc bấy giờ cũng không ngớt lời tán
thưởng.
Sau trận đại thắng ở
Như Nguyệt,Lý Thường Kiệt được bổ làm Tổng Trấn
Thanh Hoa (đất này từ thời Thiệu Trị mới vì lệ kî húy
mà đổi gọi là Thanh Hóa).Bấy giờ có thầy học của
Linh Nhân Hoàng Thái Hậu (tức bà Ỷ Lan - thân mẫu của
Hoàng Đế Lý Nhân Tông) là Sùng Tín Đại Trưởng Lão
từ Thăng Long vào chơi,Lý Thường Kiệt liền nhờ Sùng
Tín Đại Trưởng Lão tìm đất để dựng chùa và Sùng
Tín Đại Trưởng Lão đã chọn khu đất nằm ở phía Nam
núi Ngưỡng Sơn.Đất này xưa thuộc xã Ngọ Xá,huyện Vĩnh
Lộc,nay thuộc xã Hà Ngọc,huyện Hà Trung,tỉnh Thanh Hóa.Chính
Lý Thường Kiệt là người đã trực tiếp trông coi việc
xây cất ngôi chùa này.Sau bốn năm (1085-1089) thì khánh
thành,Lý Thường Kiệt đặt cho tên gọi là chùa là
Linh Xứng.
Từ khi có thêm chùa
Linh Xứng , Phật Tử vốn dĩ đã rất nể trọng Lý Thường
Kiệt lại càng có phần nể trọng hơn.Thiền Sư Thích Pháp
Bảo (tức Giác Tính Hải Chiếu Đại Sư) là người có cơ
may được chứng kiến sự kiện khá đặc biệt này.Theo
ghi chép của các thư tịch cổ như : Vĩnh Lộc huyện phong
thổ chí lược, Ái Châu bi ký,Thanh Hóa tịnh chí,àv.v. thì
sau khi Lý Thường Kiệt qua đời,chính Thích Pháp Bảo là
người đã có vinh dự được giao việc soạn bài văn
bia cho chùa Linh Xứng.Và,Thích Pháp Bảo đã hoàn thành
xuất sắc nhiệm vụ khó khăn này.Khoảng đầu thế kỷ
XX,chùa Linh Xứng bị đổ nát hoàn toàn,tuy nhiên,tấm bia
trên đó có khắc bài Ngưỡng sơn Linh Xứng tự bi minh
(bài minh khắc trên bia để tại chùa Linh Xứng ở Ngưỡng
Sơn) do Thích Pháp Bảo soạn thì vẫn còn.Đó thực sự
là một trong những tác phẩm văn học sáng giá của thế
kỷ thứ XI.Bài này khá dài,vì thế,chúng tôi chỉ xin trích
dịch và giới thiệu với bạn đọc vài ba trích đoạn ngắn
mà thôi.
Thứ nhất là trích đoạn
kể về việc xây dựng dựng chùa Linh Xứng : " Thế
là cùng nhau phát hết những bụi cỏ rậm,bạt hết những
tảng đá to ; Thầy phong thủy thì xét hướng,thợ lành
nghề thì vẽ kiểu,các quan thì góp tiền,sĩ dân khắp nơi
cũng cùng nhau kéo tới ; Bấy giờ,ai kém sức thì bào
hoặc gọt,ai giỏi nghề thì dựng hoặc xây ; Chùa Phật rộng
thênh thang nằm ở giữa còn phòng chay rộng rãi thì ở
hai bên ; Phía sau chùa có tháp Chiêu An cao chót vót những
chín tầng.Chùa mở cửa bốn bên và cửa nào cũng có
song tiện,phía trong lại có rèm the.Tiếng gió rung chuông
bạc quyện với tiếng chim rừng ; Nắng soi tháp báu,sắc
vàng điệp lung linh ; Quanh lan can trồng đầy hoa cỏ à đúng
là cảnh thức tỉnh hồn mê,xua tan mọi nỗi niềm tục lụy
".
Đoạn thứ hai là những
lời ca ngợi công đức của Lý Thường Kiệt,chân thành,thắm
thiết và cũng thật là cảm động :"Lúc còn trẻ,Thái
Úy (chức của Lý Thường Kiệt - NKT) được chọn vào
cấm đình, hầu Thái Tông Hoàng Đế chưa đầu một kỷ
(một kỷ là mười năm - NKT) mà tiếng thơm đã nức nở
khắp hoàng cung. Đến khi Thánh Tông Hoàng Đế nối ngôi
trị nước,Thái ÚÔy lại hết lòng phò tá, là người
luôn ra sức siêng năng,thật là nổi bật trong hàng tả
hữu,cho nên mới được gia phong hàm Kiểm Hiệu Thái Bảo.Khi
nước Phật Thệ (tức Chiêm Thành - NKT) khinh nhờn phép
tắc,chẳng chịu vào chầu,vương sư liền rầm rộ tiến đánh.Thái
Úy thao lược hơn đời,được vào cấm cung để nhận mưu
chước,ước chế quân luật thật nghiêm để đánh quân
thù.Hoàn Vương (chỉ vua Chiêm Thành -NKT) hết đường chạy
trốn,đành phải tự bó tay mà chịu cắt tai ".
"Đầu niên hiệu Thái
Ninh (niên hiệu của Hoàng Đế Lý Nhân Tông,dùng từ năm
1072 đến năm 1076 - NKT) đức kim thượng Minh Hiếu Hoàng
Đế (chỉ Lý Nhân Tông - NKT) lên ngôi,Thái Úy với tư
cách là Y Doãn,Hoắc Quang (hai danh thần của Trung Quốc
đời nhà Thương và đời nhà Hán đã có công phò tá
Hoàng Đế Trung Quốc lúc còn tuổi ấu thơ,đây chỉ việc
Lý Thường Kiệt là Phụ Chính Đại Thần của Lý Nhân
Tông - NKT) được Hoàng Thượng giao quyền nhiếp chính và
gửi gắm công việc xã tắc.Bỗng chốc,quân biên ải của
nhà Tống dòm ngó nước ta,Thái Úy sẵn mưu chước của
triều đình,thống lĩnh quân sĩ,tràn sang diệt hết cả ba
châu (chỉ Ung Châu,Khâm Châu và Liêm Châu - NKT) và bốn
trại (chỉ bốn trại lính lớn của nhà Tống ở Ung Châu
là Hoành Sơn,Thái Bình,Vĩnh Bình và Cổ Vạn - NKT)dễ dàng
như bẻ cành gỗ mục.Chẳng bao lâu sau,giặc lại ồ ạt kéo
đến sông Như Nguyệt,sục sôi quyết chí trả thù cho ba
châu, Thái Úy liền cầm quân ra chống trả".
"Thái Úy vào trong
thì sáng suốt khoan hòa,ra ngòi thì nhân từ giản dị,đổi
dời phong tục nào có quản công,việc gì cũng siêng năng,sai
bảo dân thì ôn hòa,cho nên,đời được cậy nhò chẳng
phải ít".
"Thái Úy tuy thân vướng
việc đời mà lòng vẫn luôn hướng về Tam Thừa (chỉ
Tiểu Thừa,Trung thừa và Đại Thừa,tức là Phật Giáo
nói chung - NKT) có lẽ vì Hoàng Thượng và Thái Hậu thực
tâm tôn sùng giáo lý nhà Phật chăng? Cho nên,vâng theo
ý chỉ của Hoàng Thượng và Thái Hậu,Thái Úy không ngừng
nâng đỡ Phật Giáo .Nhân lúc rảnh việc triều đình,
"thầy của Thái Hậu là Sùng Tín Đại Trưởng Lão mới
từ kinh sư đi vào,mở mang giáo hóa, khơi thông tập tục
mới lạ,răn điều ác,trọng việc thiện,khác nào cây
cỏ được nhuần thấm trận mưa rào,cho nên,không ai là
không vui tươi hớn hở." Kết thúc Ngưỡng Sơn Linh Xứng
tự bi minh là phần văn vần khá dài,lời lẽ giản dị
mà hùng tráng,vùa tỏ được cái tâm khả kính của người
tu hành,lại cùng vừa ngời sáng niềm kiêu hãnh của một
thần dân trước sự nghiệp phi thường của bậc vĩ nhân
Lý Thường Kiệt.Xin được giới thiệu một trích đoạn
ngắn như sau :
Việt
hữu Lý công,
Cổ
nhân chuẩn thức.
Mục
quận ký ninh,
Chưởng
sư tất khắc.
Danh
dương hàm hạ,
Thanh
chấn hà vực.
Tông
giáo quy sùng,
Cảnh
phúc thị thực.
Nghĩa
là :
Nước
Việt có tướng công người họ Lý,
Noi
theo đúng thể thức của người xưa.
Trị
dân thì dân được yên,
Xuất
quân thì tất thắng.
Tên
tuổi vang lùng khắp cõi,
Tiếng
thơm nức bốn phương.
Thuận
theo và tôn sùng Phật Giáo,
Giữ
gìn phúc đức quả là đây.
Trong thư tịch cổ,hình như
viết về danh nhân Lý Thường Kiệt,hiếm thấy tác phẩm
nào có lời lẽ cảm động như Ngưỡng Sơn Linh Xứng tự
bi minh . Văn bia còn,cái tâm mhời sáng của Thích Pháp
Bảo cũng mãi còn với "vạn cổ thử giang sơn"
(muôn đời non nước này).
Source: Tuần
Báo Giác Ngộ, số Xuân Tân Tî - 2001