LỊCH SỬ THIỀN TÔNG NHẬT BẢN
Biên dịch: Nguyễn Nam Trân
Chương
2 : Thiền lan rộng và thẩm thấu
(thời
Muromachi và Azuchi Momoyama)
|
|
Tiết
1- Ngũ Sơn và lâm hạ
|
Mạc
phủ Muromachi thành hình và vững mạnh
Thiên hoàng Go- Daigo
(Hậu Đề Hồ, thứ 96, 1288-1339, trị vì 1318-39) đứng ra thân
chính sau cuộc trung hưng năm Kemmu, 1334-36, thế nhưng lại thực
thi một số chính sách không hợp thời, đã gây sự bất mãn
trong giới samurai. Tướng Ashikaga Takauji (Túc Lợi Tôn
Thị, 1305-58, tại chức Shôgun 1338-1358) [1]
chán ngán hành động của thiên hoàng, dấy binh làm phản.
Năm 1336, ông đánh bại phe trung thành với Go Daigo do Kusunoki
Masashige (Nam Mộc Chính Thành, 1294-1336) cầm đầu trong một
trận quyết định, chiếm lấy Kyôto. Sau đó ông phế thiên
hoàng cũ và lập Thiên Hoàng Kômyô (Quang Minh, trị vì 1336-48)
của Bắc Triều, định ra pháp lệnh gọi là Kemmu Shikimoku,
rồi lập mạc phủ ở vùng Muromachi (1336). Thế nhưng Go-Daigo
trốn thoát về vùng núi non Yoshino để lập ra Nam Triều, tiếp
tục chủ trường sự chính thống của hệ phái mình. Sử
Nhật bản gọi đó là giai đoạn Nam Bắc Triều (1336-1392).
Takauji được phong
shôgun
năm 1338 và tại chức 20 năm (1338-58) thế nhưng chưa gì đã
đối lập với em trai là Naoyoshi (Trực Nghĩa, 1306-52) để
xãy ra biến cố gọi là cuộc nhiễu nhương năm Kannô (Kannô
no jôran, 1350-52). Naoyoshi bị đầu độc chết. Nhưng tình huống
bất ổn cũng cáo chung vào thời shôgun thứ 3 là Yoshimitsu
(Nghĩa Mãn, 1358-1408, tại chức 1368-94). Từ đó, chính quyền
quân sự của dòng họ Ashikaga được củng cố và vững mạnh.
Bắt chước việc làm của các shikken họ Hôjô, mạc
phủ Muromachi cử một số gia thần thân tín về khắp các
địa phương để coi việc trị an giúp
shôgun. Đó là
những
shugo (hay sugo, thủ hộ) mà sau này, một khi đã
bành trướng thế lực sẽ lấn lướt các cấp hành chánh
sở tại để trở thành tầng lớp tiểu lãnh chúa (shugo daimyô).
Mạc phủ Muromachi lập một biệt phủ gọi là Kamakura kubô
(công phương, người đứng đầu thường là con của shôgun)
và dùng viên quan võ gọi là Kantô kanrei ("Quan Đông quản
lãnh", chức dành cho shugo mạnh nhất) đóng ở vùng Kamakura
để cai trị miền đông và như thế, chi phối được toàn
quốc.
Yoshimitsu muốn xây
dựng Kyôto thành một thủ đô lộng lẫy với nhiều hoa cỏ
(hana no gosho) (1378), đoạt lấy quyền cai trị lẫn ngoại giao
từ triều đình và làm giàu bằng cách phát triển kangô
bôeki (khám hợp mậu dịch) tức mậu dịch chính thức
với sự ưng thuận của nhà nước Trung Nhật đôi bên. Thế
rồi, với sức mạnh quân sự rất đáng kể làm hậu thuẫn,
ông đã cho dẹp tất cả các mầm mống nổi loạn của một
số shugo nhiều tham vọng như Toki Yasuyuki (?-1404), Yamana
Ujikiyo (1344-1391) và Ôuchi Yoshihiro (1356-99). (Năm 1390, loạn
của họ Toki,1391, loạn năm Meitoku và 1399, loạn năm Ôei).
Ông cũng là người hoàn thành việc thống nhất hai triều
đình Nam Bắc vào năm1392 và trở thành vị shôgun đầu
tiên lãnh chức daijô daijin (Thái Chính Đại Thần), quyền
cao nhất nước.
Đời Yoshimochi (Nghĩa
Trì, tại chức 1394-1432) làm chúa tương đối ổn định nhưng
tướng quân đời thứ 6 là Yoshinori (Nghĩa Giáo, 1429-1441) lại
tỏ ra muốn độc tài chuyên chế, gây ra sự bất mãn nên
bị một shugo có thế lực là Akamatsu Mitsusuke ám sát
chết (sử chép là cái loạn năm Kakitsu), làm cho quyền lực
của mạc phủ bị lung lay. Thế rồi khi shôgun đời
thứ 8 là Yoshimasa (Nghĩa Chính, 1436-90, tại chức 1449-73) thì
nhân chuyện rắc rối trong việc chỉ định người thừa kế,
phải chứng kiến cảnh xâu xé giữa hai bộ hạ là các shugo
Hosokawa Katsumoto (1430-73) và Yamana Mochitoyo (tự Sôzen, 1404-73).
Từ đó(1467) xảy ra cuộc tranh phong toàn diện có tên là cuộc
loạn năm Ônin (1467-77) mà các shugo toàn quốc không ai
mà chẳng vướng vào.
Anh
em Takauji, Yoshinao nhà Ashikaga và thiền sư Muusô Soseki
Người đã được
cả Ashikaga Takauji, shôgun khai sáng mạc phủ Muromachi
năm 1336, em ông là Naoyoshi, chức shikken cuối cùng họ
Hôjô là Takatoki lẫn Thiên hoàng Go-Daigo hết sức trọng vọng
không ai khác hơn là thiền sư Muusô Soseki (Mộng Song Sơ Thạch,
1275-1351). Những nhân vật quan trọng nói trên đều tìm đến
quy y với sư và nhờ ông chỉ bảo. Do đó, ông đã có nhiều
cơ hội đóng góp cho sự hưng thịnh của Phật giáo.
Trong những kế
hoạch được ông đề ra, trước tiên là việc xây một loạt
chùa thuộc tông Rinzai (Lâm Tế Nhật Bản) Ankokuji (An Quốc
Tự) và Rishôtô (Lợi Sinh Tháp) [2]
vào năm 1336. Mục đích của nó là để an ủi các vong linh
nạn nhân trong cuộc chiến tranh giành quyền lực dẫn tới
sự sụp đổ của chính quyền Kamakura cũng như cầu xin cho
thiên hạ từ nay thái bình. Trên nguyên tắc, sẽ có 60 chùa
và tháp như vậy trong toàn cõi nước Nhật. Nhiều chùa lớn
ở Nara và Heian (Kyôto) lại xây thêm những Rishôtô, chúng
được sự tiến cúng và ngoại viện của các shugo địa
phương, điều này tạo cơ hội để họ chứng tỏ lòng trung
thành với chính quyền trung ương. Mặt khác An Quốc Tự [[3]
ngày xưa đã được chỉ định đổi thành một tự viện
Thiền Tông phái Gozan (Ngũ Sơn Nhật Bản) cho nên đã giúp
phái này nới rộng ảnh hưởng của mình về các địa phương.
Thế rồi đến
lúc Thiên hoàng Go-Daigo băng, ông lại lập kế hoạch dựng
Tenryuuji (Thiên Long Tự), một ngôi chùa lớn làm nơi cúng tế
vong linh nhà vua. Để gây quĩ xây chùa, mạc phủ Muromachi,
từ năm 1342 trở đi, đã tổ chức nhiều chuyến thuyền buôn
gọi là Tenryuuji-bune. Đến năm 1345 thì chùa xây xong [4].
Muusô
Soseki (Mộng Song Sơ Thạch),
thiền
sư và nhà viên nghệ.
Muusô Soseki
(Mộng Song Sơ Thạch)
Ông người vùng
Ise (tỉnh Mie bây giờ), tên thế tục là Sasaki. Năm lên 4,
theo cha mẹ về Kai (tỉnh Yamanashi), đến năm 9 tuổi thì xuất
gia. Năm 18, thụ giới ở Tôdaiji. Ban đầu theo học phái Tendai
(Thiên Thai Nhật Bản), sau chuyển qua học Thiền, tu tại các
chùa lớn như Kenchôji, Kenninji, Engakuji...Trong thời gian đó,
giữ chức thủ tòa khi Issan Ichinei (Nhất Sơn Nhất Ninh, 1247-1317)
về trụ trì ở Kenchôji nhưng chưa nhận được pháp tự.
Kể từ năm 1303 trở đi, ông theo học Kôhô Kennichi (Cao Phong
Hiển Nhật, 1241-1316) ở Manjuji (Vạn Thọ Tự), rốt cuộc,
nhận được pháp tự của thầy. Sau đó, ông sống đời ẩn
tu ở Ryuuzan.an (Long Sơn Am) vùng Kai (Yamanashi), Kokeian (Hổ Khê
Am, sau này trở thành Kokeizan Eihoji = Hổ Khê Sơn Vĩnh Bảo
Tự) vùng Mino (Gifu), Kyuukôan (Hấp Giang Am) vùng Tosa (Kôchi),
Taikôan (Thoái Canh Am) vùng Kazusa (Chiba). Đến năm 1325, Thiên
hoàng Go-Daigo giáng chỉ gọi ông về trụ trì Nanzenji (Nam Thiền
Tự). Sau đó, ông còn trụ trì Engakuji (Viên Giác Tự) nữa.
Thời Kemmu no shinsei (1333) tức tân chính quyền thời Kemmu,
ông tái nhiệm ở Nanzenji và được vua ban danh hiệu quốc
sư. Lại được đón về khai sơn hai chùa Rinsenji (Lâm Xuyên
Tự) và Saihôji (Tây Phương Tự) [5].
Trong Rinsenji có tháp (mộ) của ông, chùa trở thành bản sơn
của Rinsen-ha tức môn phái ông. Sau khi Thiên hoàng Go-Daigo băng,
anh em Takauji và Yoshinao tìm đến quy y với ông và nghe lời
ông khuyên mà cho xây dựng các Ankokuji-Rishôtô. Để an ủi
hương hồn Thiên Hoàng, ông xin lập Tenryuuji và là người
khai sơn chùa đó. Ông đào tạo được rất nhiều học trò
giỏi trong đó có Shunnoku Myôha (Xuân Ốc Diệu Ba), Gidô Shuushin
(Nghĩa Đường Chu Tín), Zekkai Chuushin (Tuyệt Hải Trung Tân)...Họ
sẽ là những nhân vật nồng cốt của phái Gozan (Ngũ Sơn
Nhật Bản). Vì được nhiều
đời thiên hoàng tôn kính
nên người ta goi ông là Shichidai Teishi (Thất Đại
Đế
Sư). Ông đã để lại các trước tác như Muusô Kokushi Goroku
(Mộng Song Quốc Sư Ngữ Lục, 1354), Muusô Mondô-shuu (Mộng
Song Vấn Đáp Tập, 1344), Kokukyô-shuu (Cốc Hưởng Tập, khoảng
1345), các tập tùy bút về tôn giáo như Seizan Yawa (Tây Sơn
Dạ Thoại) và đặc biệt Muuchuu Mondo-shuu (Mộng Trung Vấn
Đáp Tập) mà ông đã soạn ra để giảng đạo cho Ashikaga
Yoshinao. Đấy là tập pháp ngữ tiêu biểu nhất trong loại
viết bằng quốc âm kana và đã được phái Gozan đem ra in
lúc ông còn sinh thời. Nhân vì ông có viết về Jôdo-shuu (Tịnh
Độ Tông) trong đó nên Chi.en (Trí Viễn) của phái Chinzei (Trấn
Tây) thuộc Jôdo-shuu đã phê phán ông qua Muuchuu Shôfuu-ron (Mộng
Trung Tùng Phong Luận), xem như " bàn về tiếng thông reo trong
giấc mộng". Còn Kokukyô-shuu,"tiếng vọng trong hang" nói ở
trên không gì khác hơn là lời phản biện lại lập luận
của Chi.en. Tư tưởng Thiền của ông có quan điểm dung hòa,
gói trọn cả Tịnh Độ, Mật Giáo và nhiều ngành nghệ thuật,
là lý do lớn nhất để dễ được các giới quí tộc và
vũ sĩ (cũng có tính quí tộc) của mạc phủ Muromachi tiếp
nhận. Nhưng chính ra cũng vì thế mà những người như tăng
Lâm Tế Shuuhô Myôchô (Tông Phong Diệu Siêu, 1282-1337 tức Đại
Đăng Quốc Sư) và Thiên hoàng Kameyama (Quy Sơn, thứ 90, 1249-1305,
trị vì 1259-74, một người thông hiểu Phật giáo) đánh giá
là tư tưởng của ông vẫn còn chưa đạt đến bản lai của
Thiền nghĩa là dứt tuyệt khỏi lý luận.
Việc
xây Shôkokuji (Tướng Quốc Tự) và thiết lập ngũ sơn thập
sát
Năm 1382, Shôgun
Ashikaga Yoshimitsu nhân có phát nguyện xây một ngôi thiền tự
mới bàn bạc với Shunnoku Myôha (Xuân Ốc Diệu Ba, 1311-88),
Gidô Shuushin (Nghĩa Đường Chu Tín, 1325-88). Chùa Shôkokuji (Tướng
Quốc Tự) được xây lên và hoàn tất vào năm 1392. Đây là
nơi mà các shôgun nhà Ashikaga kế tiếp sẽ đến quy
y. Shunnoku nhường cho thầy mình (Muusô Soseki) đến khai sơn,
chỉ nhận làm đời thứ hai. Lúc đầu, chùa đặt ra nguyên
tắc mời sư thập phương đứng đầu mà thôi nhưng đến
khi Zekkai Chuushin (Tuyệt Hải Trung Tân, 1336-1405) đến trụ
trì thì vì Yoshimitsu quá tín nhiệm ông, chùa đã đổi qui
chế để cho một phái của Muusô được tương thừa (thập
phương trụ trì chế đổi qua đồ đệ viện chế).
Thập phương
trụ trì chế (Jippô juujisei) và Đồ đệ viện (Tsuchi.en)
Theo chế độ
thập phương trụ trì, không được ủy thác một ngôi chùa
cho môn phái của người khai sơn mà tuyển chọn chức trụ
trì từ trong đám tăng sĩ thập phương, bất luận môn phái
nào. Ngược với nó là chế độ đồ đệ viện. Ngôi chùa
nào chỉ do người cùng một môn phái (nhất lưu đồ đệ)
đời đời thay nhau trụ trì được gọi là "nhất lưu tương
thừa sát". Chế độ thập phương trụ trì đã được áp
dụng ở các chùa nhà nước (quan tự) bên Trung Quốc, và cùng
với qui chế ngũ sơn, đã được du nhập vào nước Nhật.
Nó được chấp hành nghiêm chỉnh dưới thời Kamakura. Ở
Nanzenji, ngôi chùa do Thiên hoàng Kameyama thiết lập, chế độ
này cũng được tuân thủ.Thế nhưng Tôfukuji (Đông Phúc Tự),
tiếng là ngôi chùa được liệt vào ngũ sơn nhưng vì còn
là chùa riêng của dòng họ Fujiwara nữa nên đã được họ
đó ủy thác như đồ đệ viện của môn phái Tôfuku Enni (muốn
làm trụ trì phải có văn thư của gia đình quan sesshô-kampaku
tức người họ Fujiwara (gọi là migyôsho (ngự giáo thư)) lẫn
mệnh lệnh của Thiên Hoàng cho phép (gọi là kujô (công thiếp).Theo
tiền lệ đó, việc trụ trì chùa Shôkoku kể từ đời Zekkai
cũng được giao phó cho mỗi đồ đệ viện của Muusô. Riêng
các chùa danh tiếng như Kenchôji, Engakuji, Nanzenji tương đối
còn duy trì mãi đến về sau chế độ thập phương trụ trì
nhưng ý thức về chùa của môn phái khai sơn cũng bắt đầu
để lại dấu ấn trong đầu các tăng sĩ qua hình thức các
tacchyuu (tháp đầu) [6]
tức là một hình thức đồ đệ viện của những môn phái
nổi tiếng. Hơn nữa, đối với nhiều chùa nằm trong thập
sát, người trụ trì tuy tiếng là có gốc thập phương nhưng
trên thực chất có khi chỉ là người của đồ đề viện.
Nói chung, ở Nhật, chế độ thập phương trụ trì không được
áp dụng đến nơi đến chốn.Hơn thế, sự liên hệ giữa
các chùa do nhà nước dựng ra (quan tự) và các đồ đệ viện
có ý nghĩa rất thâm sâu, ví dụ trường hợp của Daitokuji
(Đại Đức Tự). Lúc đầu, Daitokuji có liên quan mật thiết
với hoàng tộc, chùa này được thiên hoàng Go Daigo và thái
thượng hoàng Hanazono khoán cho đồ đệ viện của Shuuhô Myôchô
trụ trì. Thế nhưng đến năm 1386, chùa được phong làm một
trong thập sát cho nên muốn làm trụ trì không những phải
có sắc chỉ của triều đình mà còn phải có giấy phép của
mạc phủ nữa. Một ngôi chùa tìm cách trở thành chùa nhà
nước (quan tự) là vì muốn duy trì tự viện, nhưng nay nếu
tuân thủ luật lệ thì phải mời người phái khác về làm
trụ trì.Đặc biệt shôgun Ashikaga Yoshimochi (Túc Lợi Nghĩa
Trì, tại chức 1394-1423) tỏ ra muốn khuyến khích việc này
cho nên để tránh bị bẽ mặt, người trong chùa phải cam
đành mời một đồ đệ phái Đại Ứng, một chi lưu gần
gũi với họ, về làm trụ trì. Thiền sư Yôsô Sôi (Dưỡng
Tẩu Tông Hi, 1376-1458)vì không chấp nhận nỗi chế độ này
nên đã đệ đơn xin mạc phủ cho chùa mình thoát ly khỏi
hệ thống quan tự.Ông may mắn được chấp nhận và từ đó
chức trụ trì của chùa mới trở về với đồ đệ viện
của phái Đại Đăng của Đại Đăng Quốc Sư Tông Phong Diệu
Siêu (Daitô-ha của Daitô Kokushi Shuuhô Myôchô).Từ đó, Daitokuji
đã có một đường lối riêng khác với các chùa Gozan (Ngũ
Sơn Nhật Bản), và nhờ đó có dịp bành trướng ảnh hưởng
từ đời Sengoku (Chiến Quốc Nhật Bản, 1467-1568) cho đến
đầu thời cận đại (cuối thế kỷ 16, đầu 17).
Đến cuối đời
Kamakura,người Nhật đã mô phỏng chế độ "quan tự" của
nhà Tống mà đặt ra ngũ sơn. Sau cuộc trung hưng thời Kemmu
bước qua giai đoạn Nam Bắc Triều, chế độ này dần dần
thành hình. Đến khi Tướng Quân Yoshimitsu lên cầm quyền thì
sự phân biệt ngũ sơn (gozan), thập sát (jissetsu) và chư sơn
(shozan) đã rõ. Những ngôi chùa có tiếng từ thời Kamakura
như Kenninji, Kenchôji, Tôfukuji, Engakuji, Nanzenji cũng như các
chùa được họ Ashikaga cho dựng lên sau này như Tenryuuji, Shôkokuji
đều nằm trong thể chế này.Sau khi đã lập ra được hệ
thống ngũ sơn thập sát như các quan tự ở Trung Quốc rồi,
người ta bắt đầu đặt ra những phép tắc giống như bên
ấy ví dụ chế độ thăng tiến của các thiền sư. Có điều
là ở Nhật Bản, ý thức về môn phái và tông phong rất mạnh
cho nên một môn phái thường tiếp nối nhau trụ trì ở tự
viện mà mình có nhiều ảnh hưởng. Do đó con đường thăng
tiến trong một ngôi chùa Trung Quốc và một ngôi chùa Nhật
Bản không thể đánh giá cùng một kiểu được. Vào thời
đó, các thiền tăng Nhật Bản hãy còn sống trong thế giới
của tùng lâm, vượt lên trên khuôn khổ nhà nước.
Nhân
nói về ngũ sơn thập sát Nhật Bản
Chế độ Ngũ Sơn
bắt đầu được du nhập vào Nhật là do Hôjô Sadatoki (Bắc
Điều Trinh Thì, con trai Tokimune) dưới thời Kamakura. Về sau,
Thiên hoàng Go-Daigo mang nó áp dụng cho Kyôto. Đến đời Muromachi,
sau khi Tenryuuji đã xây cất xong, vào năm 1341, cách xếp đặt
Ngũ Sơn là như sau đây:
Ngũ Sơn đệ nhất:
(Kamakura): Kenchôji
(Kiến Trường Tự), (Kyôto): Nanzenji (Nam Thiền Tự).
Ngũ Sơn đệ nhị:
(Kamakura): Engakuji
(Viên Giác Tự), (Kyôto): Tenryuuji (Thiên Long Tự).
Ngũ Sơn đệ tam:
(Kamakura): Jufukuji
(Thọ Phúc Tự)
Ngũ Sơn đệ tứ:
(Kyôto): Kenninji
(Kiến Nhân Tự)
Ngũ Sơn đệ ngũ:
(Kyôto): Tôfukuji
(Đông Phúc Tự).
Chuẩn Ngũ Sơn:
(Kamakura): Jôchiji
(Tịnh Trí Tự)
Sau đó Tướng Quân
Ashikaga Yoshiakira (Túc Lợi Nghĩa Thuyên, tại chức 1358-67) nâng
cấp chùa Jôchiji ở Kamakura lên hàng Ngũ Sơn và đặt nó vào
cùng một vị trí với Manfukuji (Vạn Phúc Tự) ở Kyôto. Đến
đời Yoshimitsu (tại chức 1368-94), lúc chùa Shôkokuji (Tướng
Quốc Tự) được dựng xong thì Kamakura và Kyôto, mỗi vùng
đều có Ngũ Sơn riêng. Trên tất cả 10 chùa ấy là Nanzenji.
Ngũ Sơn chi thượng:
(Kyôto): Nanzenji (Nam Thiền Tự).
Ngũ Sơn đệ nhất:
(Kyôto): Tenryuuji
(Thiên Long Tự), (Kamakura): Kenchôji (Kiến Trường Tự).
Ngũ Sơn đệ nhị:
(Kyôto): Shôkokuji
(Tướng Quốc Tự), (Kamakura): Engakuji (Viên Giác Tự).
Ngũ Sơn đệ tam:
(Kyôto): Kenninji,
(Kiến Nhân Tự): (Kamakura): Jufukuji (Thọ Phúc Tự).
Ngũ Sơn đệ tứ:
(Kyôto): Tôfukuji
(Đông Phúc Tự), (Kamakura): Jôchiji (Tịnh Trí Tự).
Ngũ Sơn đệ ngũ:
(Kyôto): Manjuji
(Vạn Thọ Tự), (Kamakura): Jômyôji (Tịnh Diệu Tự).
Thể chế sau hoàn
thành vào năm 1386. Nhân vì Nanzenji được xem tương đương
với Dairyuushô Shuukeiji (Đại Long Tường Tập Khánh Tự) bên
Trung Quốc nghĩa là ngôi chùa đặt lên hàng cao nhất cho nên
người trụ trì được chọn đến ở đó phải từng là một
trụ trì của chùa Ngũ Sơn. Vào đời Edo, có tập quán là
người trụ trì Kenchôji trong tương lai sẽ được cất nhắc
lên thành trụ trì Nanzenji. Chỉ đến đời Meiji (1868 về sau),
sự ngăn cách về thứ bậc giữa các chùa Ngũ Sơn mới hoàn
toàn mất đi. Ngoài ra lại có chuyện Manfukuji, một trong ngũ
sơn Kyôto, vì bị hỏa tai cho nên vào năm 1434 đã được chuyển
vào khuôn viên của Tôfukuji, trở thành một "tháp đầu" (tacchuu)
của chùa ấy tuy danh nghĩa Ngũ Sơn của nó hãy còn đó.
Nếu Ngũ Sơn tập
trung ở hai vùng Kyôto và Kamakura thì thập sát được rãi
ra trên toàn quốc. Tuy với thời gian có sự thay đổi nhưng
nếu tính vào thời điểm năm 1379 thì thập sát là những
chùa sau:
1) Tôjiji (Đẳng
Trì Tự, Kyôto).
2) Zenkôji (Thiền
Hưng Tự, Sagami, Kamakura).
3) Shôfukuji (Thánh
Phúc Tự, Chikuzen, Fukuoka).
4) Tôshôji (Đông
Thắng Tự, Sagami)
5) Manjuuji ( Vạn
Thọ Tự, Sagami)
6) Chôrakuji (Trường
Lạc Tự, Ueno, Gunma).
7) Shinnyoji (Chân
Như Tự, Kyôto).
8) Ankokuji (An Quốc
Tự, Kyôto).
9) Manjuuji (Vạn
Thọ Tự, Hôgo, Oita).
10) Seikenji (Thanh
Kiến Tự, Suruga, Shizuoka).
Thế nhưng đến
lúc đó lại có thêm chế độ "chuẩn thập sát" (junjissetsu)
tức thập sát thứ yếu và 6 ngôi chùa như Rinsenji (Lâm Xuyên
Tự) ở vùng Kyôto đã được liệt vào hạng này. Tiền lệ
này tạo ra việc "thập sát" không cần dừng lại ở
con số 10. Trên thực tế, con số 10 đó không còn ý nghĩa
gì nữa. Như ta sẽ dần dần nhận ra, kể từ năm 1386 trở
về sau, trên toàn quốc nhưng đặc biệt ở vùng Kamakura, mỗi
nơi đã có những qui định khác nhau. Điều đó làm cho đến
cuối đời trung cổ [7],
con số đó lên đến trên 60 và những ngôi chùa cấp dưới
gọi là "chư sơn" còn nhiều hơn nữa. Chư sơn cuối thời
trung cổ đã có tới 230 chùa. Trụ trì Ngũ Sơn gọi là tôdô
(đông đường), trụ trì thập sát và chư sơn gọi là seidô
(tây đường). Như thế, con số chùa nhà nước (quan tự) đã
tăng lên với một nhịp điệu nhanh chóng bởi vì một mặt,
nhờ tổ chức như thế mà mức thu nhập của mạc phủ được
bảo đảm và chư tăng lại được thêm danh dự. Hai bên do
đó đều có mối lợi riêng. Tuy nhiên, các chùa phái Gozan
(Ngũ Sơn Nhật Bản) nhưng không đạt được danh hiệu "quan
tự" cũng không phải là ít. Con số ấy được suy định có
đến cả nghìn. Cũng cần chú ý là vào thời ấy còn đặt
ra các chùa sư nữ gọi là "Ni Ngũ Sơn" ở vùng Kyôto và Kamakura.
Liên
hệ giữa Mạc phủ Muromachi và phái Gozan (Ngũ Sơn Nhật Bản)
Lúc đầu, Mạc
phủ Muromachi đặt ra Zenritsu-kata (Thiền Luật Phương [8]),
một tổ chức có mục đích kiểm soát tổ chức và nhân sự
Thiền Tông và Luật Tông. Đến năm 1379, để đưa phái Ngũ
Sơn vào khuôn khổ, shôgun Yoshimitsu lại lập chức "tăng
lục" [9] và bổ nhiệm Shunnoku
Myôha (Xuân Ốc Diệu Ba) vào địa vị này. Năm 1382, chức
đó được dành cho người của Rokuon.in (Lộc Uyển Viện)
với tư cách "tháp đầu" của chùa Shôkokuji (Tướng Quốc
Tự) (về sau đây là nơi có đặt tháp cho Yoshimitsu). Nhân
vì viện chủ Lộc Uyển Viện kiêm nhiệm chức tăng lục cho
nên ông ta được gọi là Rokuon Sôroku (Lộc Uyển Tăng Lục).
Ông sẽ là người có khả năng nâng cấp một ngôi chùa lên
hàng quan tự, giữ độc quyền cấp kujô
(công thiếp),
một loại công văn (kumon) bổ nhiệm chức trụ trì cho một
quan tự cũng như tuyển chọn người điền vào chức đó.
Ông còn là người kiểm soát sự tu hành và qui chế sinh hoạt
trong chùa, trông coi an ninh cho khu vực nhà chùa, tài phán những
cuộc tranh chấp cũng như soạn thảo văn thư ngoại giao.
Về sau, trong thư
viện của Rokuon.in - gọi là Inryôken (Âm Lương Hiên) hay Hiên
Bóng Mát - có đặt chức tăng sĩ thường trực gọi là Inryôkenshuu
(Âm Lương Hiên Chủ) hay Inryôshôku (Âm Lương Chức). Vì người
này còn giữ nhiệm vụ liên lạc với
shôgun cho nên
ông ta trở thành người phụ tá cho chức sôroku luôn.
Dần dần Rokuon.Sôroku nắm thực quyền và minh định được
chỗ đứng của mình. Chức Rokuon Sôroku hầu như được các
thiền tăng phái Muusô (của Mộng Song Sơ Thạch) đảm nhận,
còn như Inryô-shoku thì phần lớn là đồ tôn của phái Issan
(của Nhất Sơn Nhất Ninh). Các chức nói trên đã để lại
nhiều cuốn nhật ký tức là loại Rokuon Nichiroku (Lộc Uyển
Nhật Lục) và Inryôken Nichiroku (Âm Lương Hiên Nhật Lục)
mà trong đó, nổi tiếng nhất là Kuuge Nichiyô Kuufushuu (Không
Hoa Nhật Dụng Công Phu Tập) của Gidô Shuushin (Nghĩa Đường
Chu Tín) và Gaun Nikkenroku (Ngọa Vân Nhật Kiện Lục) của Zuikei
Shuuhô (Thụy Khê Chu Phượng). Đó là những tư liệu mà người
nghiên cứu về lịch sử Thiền Tông của giai đoạn này bắt
buộc phải đọc.
Như thế, cơ quan
cai quản phái Ngũ Sơn đã được chính quyền đặt ở chùa
Tướng Quốc với sự tham gia của đồ đệ viện phái Muusô.
Các "tháp đầu" đều có đặt điện thờ (bodaisho = bồ đề
sở) của shôgun và trong trường hợp ấy, tháp có tên
là kubô tacchuu (công phương tháp đầu) [10].
Do đó chùa Tướng Quốc trở thành chùa thờ (bodaiji = bồ
đề tự) của dòng họ Ashikaga. Phái Musô trở thành thế lực
trung tâm quản chưởng ngũ sơn, được nhiều con nhà quí tộc
nhập môn cho nên dần dần câu kết chặt chẽ với thế lực
chính trị. Sức mạnh ấy trong Ngũ Sơn, không chùa nào sánh
kịp.
Chế độ Ngũ Sơn
cũng như quan tự tức các chùa nhà nước tất cả đều phỏng
theo mô hình Trung Quốc, với mục đích làm chỗ trước là
thờ phượng, nguyện cầu cho quốc gia, gia đình thiên hoàng
và tướng quân (là những đàn việt đặc biệt) được an
thái, sau làm nơi hành lễ như tống táng, cầu đảo, cầu
siêu cho họ. Để thực hành những nghi thức hành lễ đó,
một tăng sĩ tên Tenrin Fuuin (Thiên Luân Phong Ẩn (năm sinh năm
mất không rõ) đã soạn ra Sho Ekô Shingi (Chư Hồi Hướng Thanh
Quy (1566). Nhờ làm những "dịch vụ" cho nhà nước như vậy
mà các chùa trở nên giàu có. Ngoài ra, qua việc nâng cấp
chùa thành quan tự và cấp phát các công thiếp, họ thu được
cho nhà nước một thứ thuế (quan tiền) gọi là shakusen
(tá tiền). Khi các
shôgun có dịp đến viếng chùa (gọi
là onari) thì mượn tiếng cúng kiến để hoàn lại. Do đó
các quan tự đóng vai trò trụ cột trong hoạt động tài chánh
của mạc phủ.
Za-kumon (Tọa
công văn)
Nếu là chùa
nhà nước thuộc nhóm Ngũ Sơn, người lãnh đạo nó phải
có giấy phép gọi là công thiếp (kujô) của mạc phủ mới
có quyền trở thành trụ trì (juuji) thế nhưng về sau, dù
đã có công thiếp, trên thực tế, người ấy vẫn chưa có
quyền nhập tự mà chỉ có tư cách "tiền trụ" (zenjuu) thôi.
Công thiếp cấp phát trong dịp này gọi là "tọa công văn"
(za-kumon) hay là "cư thành công văn" (inari-kumon). Nó giống như
một chứng chỉ hành nghề. Còn như trên thực tế, muốn được
vào chùa đàng hoàng thì trong tay phải có "nhập viện công
văn" (nyuuin-kumon) tuy rằng về mặt nội dung thì những văn
bản này không hề khác nhau. Tuy nhiên, để được tấm công
thiếp, tăng lữ bắt buộc phải đóng thuế (quan tiền). Cứ
mỗi lần trao đổi giấy tờ như vậy, nhà nước lại có
thêm thu nhập. Mặt khác, giới tăng sĩ muốn rút ngắn thời
gian các giai đoạn thăng tiến (gọi là thăng trụ) từ chư
sơn, qua thập sát, ngũ sơn đến Nanzenji là chỗ cao nhất)
nên cũng hoan nghênh chế độ trao đổi za-kumon này. Họ chịu
khó chi những món tiền cực lớn cho những việc đó. (Trên
thực tế, có trụ trì đi chăng nữa, thời kỳ trụ trì thường
rất ngắn nghĩa là "tam niên nhị hạ" (ba năm hai mùa hạ).
Tuy nhiên, để làm cho thời gian trụ trì ngắn thêm nữa, loại
"nhập viện công văn" càng ngày càng được cấp phát nhiều
hơn). Tương tự "tọa công văn" còn có hình thức tiền mua
công đức hay"công đức thành" (kudoku-nari), thế nhưng khác
ở một điểm là tiền thu được sẽ không bỏ ngay vào ngân
khố của mạc phủ mà tạm thời dùng vào việc khác. Nhân
vì chế độ này dễ dàng đem tiền vào kho cho nên các giáo
đoàn lâm hạ [11] như
ở Daitokuji (Đại Đức Tự) cũng sử dụng nó như một phương
tiện gây quĩ xây cất hay tu sửa già lam. Tuy những món tiền
này lớn hơn cả tiền đóng góp cho Ngũ Sơn nhiều nhưng điều
ấy chỉ là bằng chứng các đàn việt muốn tặng cho người
thầy mà mình quy y danh hiệu "Tiền trụ Đại Đức Tự" (Daitokuji
senjuu) đó thôi.
Tùng
lâm Gozan (Ngũ Sơn Nhật Bản) biến dạng
Gozan lúc đầu cũng
sinh hoạt giống như tùng lâm Trung Quốc nghĩa là dựa trên
các nguyên tắc của Sắc Tu Bách Trượng Thanh Quy (Chokushuu
Hyakujô Shingi). Họ cũng hành động theo tư tưởng giáo thiền
nhất trí và tam giáo nhất trí. Thế nhưng cùng với thời
gian, lối sống ấy đã lần hồi thay đổi cho phù hợp với
một hình thức Phật giáo đặc thù mang màu sắc dân tộc.
Trước tiên, chế độ "nhất lưu tương thừa sát" của Tôfukuji
và Shôkokuji, hai chùa trong Gozan và đại biểu cho quan tự,
là một bằng chứng rõ ràng. Ở Trung Quốc, thật khó lòng
thực hiện được điều đó. Đặc điểm này cho ta thấy
Thiền Tông đã quay về với truyền thống Phật Giáo thời
Heian, trong một nước Nhật mà quan hệ giữa thầy trò và
môn phái được coi trọng, các chùa chiền hồi đó xem việc
trò nối nghiệp thầy là một việc bình thường và hợp lý [12].
Nếu đó là bản
sắc của người Nhật, đương nhiên nó cũng ảnh hưởng đến
cả hai chùa lớn ở Kyôto và Kamakura là Nanzenji và Kenchôji
vốn chọn chế độ "thập phương trụ trì". Những vị trụ
trì trong các chùa Gozan thường sống ở các am dựng trong khuôn
viên chùa (am cư) và sau khi họ chết đi rồi, họ vẫn còn
"hiện diện" mãi mãi dưới hình thức "tháp viện" (tôin) (còn
gọi là tacchuu = tháp đầu). Các tháp viện ấy có chức năng
điểm tựa tinh thần cho các đồ đệ trong môn phái của họ.
Trong những chùa nổi tiếng, chùa nào cũng đầy dẫy tháp
đầu của các danh môn. Trong mỗi tháp đầu lại thường có
mộ tháp của người khai sơn ra tháp đầu, chiêu đường (shôdô)
để hành lễ cúng tế, khách điện (kyakuden), nhà kho, thư
viện, cổng vào...Trung tâm sinh hoạt của thiền tăng đã di
chuyển từ bản tự (thất đường già lam) về tháp đầu.
Nếu già lam (chùa) xây dựng theo lối Thiền Tông (Zenshuu-yô)
nghĩa là kiến trúc đời Tống (vì kiến trúc đã theo chân
Tống Thiền vào đất Nhật) thì tháp đầu xây dựng theo kiểu
thuần Nhật (Wa-yô) gọi là "nhà kiểu thư trai" (shoinzukuri
= thư viện tạo) [13], vô
cùng thích hợp với lối sống của người Nhật.
Thế nhưng, một
khi "tháp đầu" phát triển, nó kéo theo sự suy thoái của già
lam. Con số tháp đầu cứ thế mà tăng lên trong khi già lam
thì chậm trễ trong việc tu sửa nhất là khi hành lang hay tăng
đường bị hỏa hoạn, việc tái thiết thường gặp nhiều
khó khăn.Việc tu hành tập thể ở tăng đường hầu như không
ai làm nữa, nơi này dần dần mất ý nghĩa tồn tại. Người
trong chùa có gặp nhau đông đủ thì cũng chỉ vào dịp cần
cử hành một nghi thức nào đó ở phật điện hay pháp đường.
Một khi sinh hoạt đã Nhật hóa thì tư tưởng cũng Nhật hóa
theo, nghĩa là sẽ dẫn đến khuynh hướng thiền mật tham (missan-zen).
Theo đà đó, lần
hồi trong chùa thấy xuất hiện những sở thích có tính văn
nhân. Vào thời đại ấy, sự qua lại của tăng sĩ hai nước
Nhật Trung rất thường xuyên. Đáng kể có Đông Lăng Vĩnh
Dư ( Tôryô Eiyo, 1285-1365) thuộc tông Tào Động phái Hoằng
Trí từ Trung Quốc sang Nhật năm 1351 theo lời mời của Ashikaga
Naoyoshi. Ngoài ra còn có Tesshuu Tokusai (Thiết Chu Đức Tế,
? -1366, về Nhật khoảng năm 1344), Ryuuzan Tokuken (Long Sơn Đức
Kiến, 1284-1358, về Nhật 1350). Zekkai Chuushin (vào đất Minh
năm 1368), Chyuuhô Chuushô (Trọng Phương Trung Chính, 1373-1451,
vào đất Minh năm 1401) cũng từ bên đó lần lượt trở về.
Các tăng sĩ này đã đem theo rất nhiều sách vở cũng như
văn hóa phẩm. Những món "hàng ngoại quốc" gọi là karamono
(Đường vật) [14] này trở
thành đối tượng cho mọi ước mơ của những người trợ
giúp họ tức là giới vũ tướng quí tộc của Mạc phủ Muromachi.
Sở thích Trung Quốc của giới này đã được thỏa mãn khi
họ tiếp xúc với giới tăng lữ du học đầy kiến thức
Hán Văn và Chu Tử Học mà họ tôn sùng. Do đó, các thiền
tăng Gozan đóng vai trò nhà văn hóa nhiều hơn là nhà tôn giáo.
Thế rồi, để nới rộng quan hệ xã giao, người trong tháp
đầu tổ chức các buổi bình thơ và nơi đó trở thành địa
điểm cho thiên hạ có dịp trổ tài.
Không đến tăng
đường để tu hành nữa thì đương nhiên không có cách đạt
được thể nghiệm khai ngộ. Tuy nhiên phái Gozan có dưới
tay rất nhiều chùa chiền, việc cung cấp người trụ trì
cho những nơi đây là việc cần thiết. Do đó mới có lệ
là người đi tu sau một thời gian dài học với thầy, cho
dầu chưa được khai ngộ và sức chỉ dừng ở chỗ hiện
đang có thôi, cũng có thể nhận pháp tự của thầy. Khuynh
hướng ấy hình như đã bắt đầu từ giữa thế kỷ 14. Thiền
sư Chuugan Engetsu (Trung Nham Viên Nguyệt, 1300-75, trở lại Nhật
năm 1332) sau khi về nước nhà, vì đã cho biết mình là pháp
tự của Đông Dương Đức Huy (người tiền bán thế kỷ 14),
một người nhận ấn khả ở Trung Quốc, thế mà bị các
đồ đệ của người thầy cũ của mình như Tômyô E.nichi
(Đông Minh Huệ Nhật, 1272-1340, đến Nhật năm 1308) xem như
kẻ khi sư bội đạo và chực hãm hại nhiều lần.
Nguyên lai, trong
Thiền Tông, việc nhận pháp tự từ người thầy nào có ảnh
hưởng tới mình nhiều nhất (hay khai ngộ cho mình) là chuyện
đương nhiên. Hành động của Chuugan Engetsu (Trung Nham) không
đáng bị chê trách. Hiện tượng này đã xảy ra tại vì thời
đó thiên hạ cứ suy nghĩ là nếu tu hành với môn phái nào
đó trong một thời gian thì mặc nhiên đã nhận pháp tự từ
môn phái ấy rồi. Nói cách khác, người ta hình như muốn
tách việc nhận pháp tự ra khỏi thể nghiệm khai ngộ. Nếu
đứng ở lập trường của Thiền Tông xưa nay xem sự khai
ngộ mới là quan trọng thì chắc phải nói là cách đối xử
với Chuugan Engetsu của những người đồng đạo ấy đã chệch
khỏi đường lối. Tinh thần Thiền của Gozan thành ra đã
bước giật lùi về hướng Phật Giáo truyền thống xưa nay.
Tuy nhiên vì có
sức mạnh kinh tế đáng kể, Gozan đã thực hiện đầy đủ
vai trò chấn hưng văn hóa. Chỉ tiếc nó ỷ lại quá nhiều
vào thế lực của mạc phủ nên mất đi sức mạnh tinh thần.
Vì lý do đó, đến thời Sengoku (Chiến Quốc Nhật Bản, 1467-1568)
khi thế lực mạc phủ thoái hóa để rồi suy tàn, ngay cả
các chùa con của Gozan ở các địa phương cũng bị những
phái khác lấn chiếm.
Tháp Đầu
(Tacchuu)
Tháp đầu là
một viện nhỏ nằm trong khuôn viên một ngôi chùa, còn có
tên là tháp viện (tôin). Các cao tăng sau khi trụ trì xong ở
một danh sát rồi thường rút lui về sinh sống ở một cái
am nhỏ trong khu vực đất của chùa. Trung Quốc từng có nguyên
tắc những người tiền trụ tức là kẻ đã có kinh nghiệm
trụ trì ra hai bên đông đường, tây đường tức những ngôi
nhà cất cho chư tăng ở để sinh hoạt cùng nhau. Đến đời
sau, có sự thay đổi, trong các quan tự đã thấy xuất hiện
những cái am nhỏ (tiểu am) mà trên nguyên tắc chỉ có thiền
tăng đó được phép sử dụng trong đời mình mà thôi.Phong
tục ấy cũng được truyền đến Nhật Bản nhưng bắt đầu
chỉ có những "tháp viện" (ở Trung Quốc cũng có tiền lệ
như thế) tức là ngôi mộ của danh tăng đã có công lớn
đối với nhà chùa như khai sơn chẳng hạn và là chỗ được
xây cất vĩnh viễn. Đây là nguồn gốc của tháp đầu cung
cách đặc biệt Nhật Bản. Điều đó có nghĩa là sau khi một
thiền sư ra ở am qua đời thì người ta sẽ xây mộ tháp
cho ông. Tháp ấy sẽ có một số thí chủ, đất chùa riêng
và những thứ đó là tài sản các môn đệ được quyền
thừa kế.Như thế, tháp đầu trở thành một ngôi chùa nhỏ
nhưng độc lập nằm giữa lòng một ngôi chùa lớn và nổi
tiếng (semi-independent sub-temple). Khi môn phái phát triển về
địa phương thì lại đẻ ra các chùa con của môn phái gọi
là các "mạt tự"(chùa ngọn), ngôi chùa nhỏ nhưng độc lập
(chùa nhánh) sẽ đóng vai trò thống suất môn phái. Tuy nhiên
người trụ trì của danh sát (bản tự hay chùa gốc)thường
là nhân vật được tuyển chọn từ trong đám trụ trì những
chùa nhánh trong khuôn viên chùa gốc cho nên người ấy không
thể nào hoàn toàn độc lập với bản phường (tháp đầu
của mình). Như thế,đa số các chùa lớn trong ngũ sơn đều
có nhiều tháp đầu lập san sát bên nhau. Ví dụ ở Engakuji,
có tháp đầu của phái Thánh Nhất, phái Đại Chuyết, phái
Ngột Am (tức phái Tông Giác), phái Mộng Song, phái Đại Giác,
phái Đại Thông, phái Hoằng Trí, phái Phật Nguyên, phái Hoàng
Long... Riêng ta còn thấy tháp đầu của phái Mộng Song ở
các chùa khác như Tenryuuji (Thiên Long Tự), Shôkokuji (Tướng
Quốc Tự), Kenninji (Kiến Nhân Tự) nữa. Do đó, trong cùng
bản tự,có khi thấy có sự tranh chấp giữa các tháp đầu
về cách quản trị nhà chùa, ngược lại, giữa những chùa
khác nhau lại có sự giao lưu thên mật giữa các tháp đầu
vì cùng môn phái. Tình trạng này không phải là điều đáng
mong muốn cho lắm cho nên Mạc phủ Muromachi đặt ra qui chế
bắt các nhóm tăng sĩ phải xin phép nhà nướctrước khi cho
xây tháp đầu. Thế nhưng trên thục tế, chế độ này không
đạt được hiệu quả bao nhiêu.
Sự
mở mang của các giáo đoàn lâm hạ (ngoài hệ thống quan tự)
Những quan tự (chùa
nhà nước) như ngũ sơn thập sát đóng một vai trò phò tá
Mạc phủ Muromachi nhưng trong giáo đoàn Thiền Tông vẫn có
những bộ phận không nằm trong hệ thống quan tự. Những
tiểu giáo đoàn như nhóm tín đồ thuộc phái Triệt Ông (Tettô-ha)
của chùa Daitokuji hay nhóm tín đồ tông Tào Động (Sôtô-shuu)
đã phát triển theo hướng độc lập. Những nhóm này được
gọi bằng một cái tên chùng là
ringe (lâm hạ: dưới
bóng rừng). Riêng tiểu giáo đoàn của Daitokuji và Myôshinji
vì nằm giữa thành phố Kyôto tức địa điểm trung tâm của
Gozan nên không thể gọi là ringe mà được đặc biệt
mang tên là sanrinha (sơn lâm phái). Lại nữa, trong số
các tín đồ tông Tào Động hãy còn có người trụ trì ở
Gozan như trường hợp ngoại lệ của Tokuô Yuuei (Đắc Ông
Dung Vịnh), một người sống vào quảng giữa thế kỷ 15.
Một môn phái phát triển ở vùng Kyuushuu tên là Kangan (Hàn
Nham), lại có quan hệ mật thiết với nhóm Gozan.
Chùa Daitokuji, nhờ
ở Thiên hoàng Go-Daigo, đã có địa vị cao ngang ngửa với
Nanzenji nhưng đến đời Muromachi thì nó bị gạt ra ngoài hệ
thống quan tự (1341) và bị mạc-phủ làm khó dễ mọi thứ.
Chuyện cũng dễ hiểu vì Daitokuji trung thành với Nam Triều
trong quá trình chống đối lại một Bắc Triều vốn được
mạc phủ ủng hộ. Thế nhưng sau đó nó không bị phế tuyệt
mà còn được phục hồi thành ngôi chùa thứ 9 trong thập
sát (1386). Tuy vậy mạc phủ vẫn tăng cường sự kiểm soát
ví dụ shôgun Ashikaga Yoshimochi (tại chức 1386-1428) đòi
hỏi Daitokuji phải theo chế độ thập phương trụ trì dành
cho quan tự và phủ nhận vai trò "nhất lưu tương thừa danh
sát" của nó. Đến đời Yôsô Sôi (Dưỡng Tẩu Tông Hi, 1379-1458)
nhân đó mới xin phép mạc phủ cho nó đứng ra ngoài hệ thống
quan tự (1431).
Trong cuộc nội
loạn năm Ônin (Ứng Nhân), chùa Daitokuji gánh chịu nhiều thiệt
hại nhưng nhờ sự tận tâm của Yôsô Sôi và bạn đồng
học của ông với thầy Kesô Sôdon (Hoa Tẩu Tông Đàm) là
Ikkyuu Sôjun (Nhất Hưu Tông Thuần, 1394-1481) mà được phục
hưng. Ikkyuu là người từng công kích mạnh mẻ khuynh hướng
thế tục hóa tùng lâm của Yôsô Sôi, bạn mình, nhưng bản
thân ông lại có lắm hành tung kỳ dị. Nhưng cũng vì thế,
dân địa phương Sakai, một thành phố nổi tiếng về buôn
bán gần Kyôto, rất yêu mến ông vì nhân cách độc đáo của
một "bồ tát bị đọa". Mãi đến bây giờ, người ta hãy
còn nhắc nhỡ nhiều đến ảnh hưởng của ông đối với
sự hình thành và phát triển của loại hình văn hóa mới
của Nhật Bản, trong đó phải kể đến Sadô (trà đạo)
và tuồng Nôgaku (tuồng Nô).
Ikkyuu Sôjun
(Nhất Hưu Tông Thuần)
Tăng Rinzai (Lâm
Tế Nhật Bản), tự là Ikkyuu, thụy hiệu Sôjun. Người ta
đồn ông là con rơi của Thiên hoàng Go-Komatsu (Hậu Tiểu Tùng,
thứ 100, trị vì 1382-1412). Năm 6 tuổi, xuất gia ở Ankokuji,
sau khi đã học thi ca mới thờ Kennô Sôi (Khiêm Ông Tông Vi,
? - 1414) làm thầy. Khi ông này mất,lại theo học thiền với
Kesô Sôdon (Hoa Tẩu Tông Đàm). Năm 27 tuổi, một hôm nghe quạ
kêu mà đại ngộ. Ông được thầy nhận làm pháp tự nhưng
nghe nói ông đem đốt quách giấy chứng nhận ấn khả thầy
cho. Sau đó, ông sống đời lang bạt ở các vùng Kyôto, Settsu,
Izumi. Lúc về già, nhân Daitokuji bị chiến tranh tàn phá thành
ra hoang phế, ông về đấy hợp sức trùng tu và trở thành
người trụ trì đời thứ 48. Chùa phục hưng xong, ông mất
vào năm 1481, thọ 88 tuổi. Ikkyuu hiệu là Kyôunshi (Cuồng Vân
Tử), Muukei (Mộng Khuê), đã trứ tác Kyôun-shuu (Cuồng Vân
Tập), Jikai-shuu (Tự Giới Tập) cũng như tập pháp ngữ viết
bằng kana là Ikkyuu Ôshô Kana Hôgo (Nhất Hưu Hòa Thượng Giả
Danh Pháp Ngữ) vv...Thường vung kiếm gỗ trên đường phố
thị trấn Sakai, lại làm thơ mô tả chuyện tình của mình
với một người thị giả tên là Shinjisha, đúng là một người
tính tình ngông cuồng, sống cuộc đời tùy hứng, hành tung
kỳ dị. Những chuyện đáng kinh ngạc về ông sau này đã
trở thành đề tài cho các tiểu thuyết thông tục như Ikkyuu
Tonchi-banashi (Nhất Hưu Đốn Trí Đốt) [15].
Ikkyuu lại chơi thân với các văn nhân nghệ sĩ như nhà thơ
renga [16] chuyên nghiệp
Sugihara Sôi (Sâm Nguyên Tông Y, 1418-85), cha con ông cháu soạn
giả tuồng Nô (nogakushi) Konparu Zenchiku (Kim Xuân Thiền Trúc,
1405-70), Sôchiku (Tông Quân) [17]
và Zenbô (Thiền Phượng), trà đạo gia Murata Juukô (Thôn Điền
Châu Quang, 1432-1502)...Ông ảnh hưởng đến lối suy nghĩ của
họ rất nhiều. Trên quan điểm về liên hệ giữa Thiền Tông
đối với văn hóa Nhật Bản, Ikkyuu đã thực sự có một
đóng góp rất đáng kể.
Mặt khác, lúc đó
bên phía Sôtô - shuu (tông Tào Động) xuất hiện hai thiền
sư tên tuổi: Myôhô Sotetsu (Minh Phong Tố Triết, 1277-1350) và
Gazan Shôseki (Nga Sơn Thiều Thạc, 1276-1366). Hai ông đều là
môn hạ của Keizan Jôkin (Oánh Sơn Thiệu Cẩn). Myôhô trụ
trì ở Daijôji (Đại Thừa Tự) và Eikôji (Vĩnh Quang Tự) còn
Gazan trụ trì Sôjiji (Tổng Trì Tự). Họ đều đào tạo được
nhiều học trò ưu tú. Đặc biệt Gazan có 5 đệ tử giỏi
gọi là "ngũ triết": Taigen Sôshin (Thái Nguyên Tông Chân, ?
-1370), Tsuugen Jakurei (Thông Huyễn Tịch Linh, 1323-1391), Mutan
Sokan (Vô Đoan Tổ Hoàn, ?-1387), Daitetsu Sôrei (Đại Triệt Tông
Lệnh, 1333-1408), Jippô Ryôshuu (Thực Phong Lương Tú, ?-1405)
có những hoạt động lừng lẫy. Mỗi người trong bọn đều
dựng được am riêng ở Sôjiji (đó là Phổ Tạng Viện, Diệu
Cao Am, Động Tuyền Am, Truyền Pháp Am và Như Ý Am) tức "ngũ
viện" (sẽ bị phế bỏ vào năm 1875 để nhập tất cả vào
bản tự). Gazan đã đặt ra qui định là việc trụ trì ở
Sôjiji sẽ do năm viện chủ luân phiên đảm nhận (thế nhưng
có thuyết cho rằng qui tắc ấy chỉ có sau khi ông viên tịch).
Trong các chùa thuộc
tông Sôtô (Tào Động) như Eikôji (Vĩnh Quang Tự), chế độ
thay phiên nhau trụ trì (luân trụ chế = rinjuusei) nói trên
được đem ra áp dụng là vì nó giúp cho môn phái khỏi bị
chia rẽ. Ngoài ra nó còn có điểm son là hun đúc cho những
người trụ trì tương lai tinh thần trọng danh dự và ý hướng
thi đua trong nghĩa vụ bảo vệ bản tự cũng như duy trì và
phát triển giáo đoàn. Tuy nhiên các chùa Sôtô khác với các
chùa Rinzai (Lâm Tế) ở điểm là các tacchuu (tháp đầu)
không được phát triển bao nhiêu và cho đến về sau, thất
đường già lam vẫn tiếp tục là trung tâm sinh hoạt của
họ (vì lý do đó cho nên có nhiều tự viện còn giữ được
lâu dài khu vực tăng đường và hành lang) [18].
Tuy nhiên trong khi
giáo đoàn Sôtô phát triển ra bên ngoài thì bên trong, những
đặc điểm Nhật Bản của một tông phái được xây dựng
bởi Dôgen đã hoàn toàn bị lãng quên. Trên thực tế, thời
này , chẳng thấy có ai nhìn lại Shôbô Genzô (Chính Pháp Nhãn
Tàng) của ông và hầu như không thấy có một công trình nghiên
cứu nào lấy nó làm đề tài.
Dôgen tỏ ra rất
nghiêm khắc đối với tông Lâm Tế nhưng Keizan Jôkin có vẻ
hòa hoãn hơn. Khuynh hướng này ngày càng được đẩy mạnh,
đến đời của "ngũ triết" thì việc các tăng Tào Động
đến học với thầy phái Lâm Tế là chuyện thường. Ta có
thể kể đến trường hợp tiêu biểu của người như Sekioku
Shinryô (Thạch Ốc Chân Lương, 1345-1423), đệ tử của một
trong ngũ triết Tào Động là Tsuugen Jakurei (Thông Huyễn Tịch
Linh). Sekioku đã theo học nhiều thầy nhiều phái: phái Đại
Giác như Jakushitsu Genkô (1290-1367), phái Phật Quang như Môzan
Chimyô (Mông Sơn Trí Minh, đệ tử của Kian Soen tức Quy Am
Tổ Viên) và Shizan Myôzai (Thử Sơn Diệu Tại, học trò Kôhô
Kennichi tức Cao Phong Hiển Nhật), phái Pháp Đăng như Koken
Chinô (Cổ Kiếm Trí Minh, đệ tử của Kohô Kakumyô tức Cô
Phong Giác Minh), phái Đại Huệ như Chuugan Engetsu (Trung Nham
Viên Nguyệt), phái Huyễn Am như Daisetsu So.nô (Đại Chuyết
Tổ Năng, 1273-1337).
Vì lẽ đó nên
không lạ gì tông Tào Động cũng lấy "thiền công án" làm
chủ lưu, khiến cho khó thể phân biệt chỗ khác nhau giữa
tông phong của họ đối với tông Lâm Tế. Cái gọi là "căn
cước" của mình mà tông Tào Động vẫn thường đưa ra là
thuyết "ngũ vị" [19]. Thế
nhưng lý luận này buổi đầu đã sớm được thiền sư tông
Lâm Tế là Thạch Sương Sở Viên (986-1039) cải biên thành
Thạch Sương Ngũ Vị. Mãi về sau, thầy trò tăng Nhật Bản
phái Thái Nguyên là Kettô Nôshô (Kiệt Đường Năng Thắng,
1355-1427) và Nan.ei Kensuu (Nam Anh Khiêm Tông, 1387-1457) mới phục
hồi nguyên hình "Tào Động Ngũ Vị" xưa kia qua tác phẩm Tôjô
Ungetsu-roku (Động Thượng Vân Nguyệt Lục) của họ.
Việc
xây dựng Myôshinji (Diệu Tâm Tự). Ảnh hưởng đến các giáo
đoàn lâm hạ
Trong thời đại
này, việc xây dựng ngôi thiền viện gọi là Myôshinji (Diệu
Tâm Tự) đã có ảnh hưởng vô cùng quan trọng đối với
giáo đoàn gọi là "lâm hạ" (ringe) nghĩa là những ngôi chùa
cấp dưới nằm ở địa phương. Chùa này đã được Thái
thượng hoàng Hanazono hạ lệnh xây cất vào năm 1337 để đón
Kanzan Egen (Quan Sơn Huệ Huyền, tức Vô Tướng Đại Sư, 1277-1360),
cao đồ của Sôhô Myôchô (Tông Phong Diệu Siêu), đến khai
sơn. Nhân vì Thái thượng hoàng cho phép chùa trở thành một
"nhất lưu tương thừa sát" của phái Kanzan cho nên khi Kanzan
mất rồi, đệ tử của ông là Juuhô Shôhitsu (Thụ Ông Tông
Bật, 1296-1380) đã kế thừa thầy. Thế rồi đến đời đệ
tử của Sôhitsu là Muin Sôin (Vô Nhân Tông Nhân, 1326-1410) thì
mọi sự đã vào qui củ. Tuy nhiên, nhân vì bị buộc tội
đã đứng về cánh tướng Ôuchi Yoshihiro trong cuộc nội loạn
năm Ôei [20] (Ứng Vĩnh, 1399)
nên ông bị Shôgun Ashikaga Yoshimitsu bách hại, chùa và đất
nhà chùa bị tịch thu, phế bỏ (trong khoảng thời gian 1399-1473).
Trong thời gian đó, tăng nhân thuộc phái Kanzan phải về Chính
Nhãn Viện trong Nanzenji cũng như các chùa ở địa phương duy
trì pháp mạch. Sau đó, phái này nhờ nỗ lực của Nippô Sôjun
(Nhật Phong Tông Thuấn, 1368-1448), người khai sơn chùa Suisenji
(Thụy Tuyền Tự) ở Inuyama (thuộc Owari tức vùng Nagoya bây
giờ) và đệ tử của ông là Giten Genshô (Nghĩa Thiên Huyền
Chiếu, 1393-1462) cũng như sự hỗ trợ của chức kanrei [21]
là Hosokawa Katsumoto (Tế Xuyên, Thắng Nguyên) mới hưng thịnh
trở lại. Katsumoto đã vận động tích cực để Nippô (Nhật
Phong) được trụ trì ở Daitokuji, lập ra tiền lệ cho nhà
tu xuất thân ở Myôshinji được thăng tiến lên (tấn trụ)
hàng lãnh đạo của Daitokuji. Ngoài ra cũng vì Giten mà ông
cho xây thêm Ryôanji (Long An Tự) nghĩa là giúp đỡ tận tình
để giáo đoàn Myôshinji tìm lại địa vị. Tuy Myôshinji bị
cháy trong cuộc loạn Ônin (1467-77) nhưng đệ tử của Giten
là Sekkô Sôshin (Tuyết Giang Tông Thâm, 1408-1486) đã tận lực
phục hưng nó. Dù sao, giáo đoàn của bản tự Myôshinji cũng
vẫn èo uột cho nên để tìm ra sinh lộ, phái này đã phải
dồn sức để mở mang về địa phương.
Ngoài ra, nhiều
môn phái trở thành độc lập. Họ lập ra cứ điểm ở địa
phương và không phụ thuộc vào một quan tự (chùa nhà nước
nào). Có thể kể đến chùa Kôgenji (Cao Nguyên Tự, xây năm
1325) ở Namba (Kyôto) thuộc phái Enkei (Viễn Khê) của Enkei
Soô (Viễn Khê Tổ Hùng, 1286-1344), Kokutaiji (Quốc Thái Tự,
1299) ở Ecchyuu (Toyama) thuộc phái Jiun (Từ Vân) của Jiun Myôi
(Từ Vân Diệu YÙ, 1274-1345), Hôunji (Pháp Vân Tự, 1354) ở
Hitachi (Ibaragi) thuộc phái Fukuan (Phục Am) của Fukuan Sôki (Phục
Am Tông Kỷ, 1280-1358), Eigenji (Vĩnh Nguyên Tự, 1361) ở Ômi
(Shiga) thuộc phái En.ô (Viên Ứng) của Jakushitsu Genkô (Tịch
Thất Nguyên Quang, 1290-1367), Kôgakuji (Hướng Nhạc Tự, 1380)
ở Kai (Yamanashi) thuộc phái Bassui (Bạt Đội) của Bassui Tokushô
(Bạt Đội Đắc Thắng, 1327-1387), Hôkôji (Viễn Phương Tự,
1384) ở Tôtoumi (Shizuoka) thuộc phái Seikan (Thánh Giám) của
Mumon Gensen (Vô Văn Nguyên Tuyển, 1323-90), Buttsuuji (Phật Thông
Tự, 1397) ở Aki (Hiroshima) thuộc phái Buttoku (Phật Đức) của
Guchuu Shuukyuu (Ngu Trung Chu Cập, 1323-1409), Ryuusenji (Long Tuyền
Tự) ở Ueno (Gunma) thuộc phái Hyakugai (Bạch Nhai) của Hyakugai
Hôshô (Bạch Nhai Bảo Sinh, 1343-1414). Với sự hậu viện của
các lãnh chúa địa phương, họ đã có thể phát triển môn
phái của mình theo cách riêng.
|
Tiết
2 - Văn hóa Thiền thành hình và phát triển
|
Văn
học Gozan (Ngũ Sơn Nhật Bản) và các văn bản Gozan
Hoạt động văn
hóa của nhóm Gozan bao gồm nhiều lãnh vực nhưng trung tâm
của nó vẫn là hoạt động văn học. Như ta đã thấy qua
ví dụ của hai thiền sư Trung Quốc là Cổ Lâm Thanh Mậu (1262-1329)
và Tiếu Ẩn Đại Hân (1284-1344), vị trí của văn học cũng
rất quan trọng trong hoạt động của Thiền Tông bên ấy.
Từ khi các tăng nhập Nguyên trở về đem theo thiền phong của
những thiền sư kiêm văn nhân nói trên thì ở Nhật Bản,
khuynh hướng gây dựng một nền văn học tùng lâm đã trở
thành cao trào. Huống chi các tăng nhân Gozan là những người
phụ trách việc từ hàn ngoại giao cho mạc phủ, và trong giai
cấp võ sĩ thượng lưu cũng có những người trân trọng các
tài năng biết làm thơ và soạn pháp ngữ bằng lối văn tứ
lục. Do đó, các tăng sĩ trong nhóm Gozan, muốn được danh
phận với đời, thay vì chỉ chuyên tâm tu hành, lại dồn
hết tâm trí vào việc trau dồi tài năng văn học. Nhờ đó
mà thời ấy có nhiều tác phẩm được ra đời, và như thế,
văn học Gozan đã thành hình.
Người tiên khu
của văn học Gozan là thiền sư nhà Nguyên Nhất Sơn Nhất
Ninh (Issan Ichi.nei, 1247-1317), người đã đến Nhật năm 1299
vào thời Kamakura. Sau đó, sự nghiệp văn chương của ông
đã được nối tiếp suốt giai đoạn Kamakura bước qua Muromachi
bởi các tên tuổi như Kokan Shiren (Hổ Quan Sư Luyện, 1278-1346),
Trúc Tiên Phạm Tiên (Chikusen Bonsen, 1292-1348, sang Nhật năm
1329), Jakushitsu Genkô (Tịch Thất Nguyên Quang, 1290-1367, du học
Nguyên, về Nhật năm 1326), Sesson Yuubai (Tuyết Thôn Hữu Mai,
1290-1346, về Nhật năm 1329), Betsugen Enshi (Biệt Nguyên Viên
Chỉ, 1294-1364, về Nhật năm 1330), Chuugan Engetsu (Trung Nham Viên
Nguyệt, 1300-1375, về Nhật năm 1332) ...Có lẽ khi shôgun
Ashikaga
Yoshimitsu cầm quyền, văn học Gozan đang đi đến chỗ tòan
thịnh. Lúc đó đã xuất hiện Ryuushuu Shuutaku (Long Tưu Chu
Trạch, 1308-88), Shunnoku Myôha (Xuân Ốc Diệu Ba, 1311-88), Gidô
Shuushin (Nghĩa Đường Chu Tín, 1325-88), Zekkai Chuushin (Tuyệt
Hải Trung Tân, 1366-1405, về Nhật năm 1378), Taihaku Shingen (Thái
Bạch Chân Huyền, ? - 1415). Sau đó dòng văn học này hãy còn
nối tiếp với Ishô Tokugan (Duy Tiếu Đắc Nham, 1360-1437), Kôsei
Ryôha (Giang Tây Long Phái, 1375-1446), Zuikei Shuuhô (Thụy Khê
Chu Phượng, 1391-1473), Genryuu Shuukô (Ngạn Long Chu Hưng, 1458-1492),
Ten.in Ryôtaku (Thiên Ẩn Long Trạch, 1423-1500), Banri Shuuku (Vạn
Lý Tập Cửu, 1428 - ? ), Ôsen Keisan (Hoành Xuyên Cảnh Tam, 1429-1493),
Keijo Shuurin (Cảnh Từ Chu Lân, 1440-1518), Gesshuu Jukei (Nguyệt
Chu Thọ Quế, 1460-1533), Sakugen Shuuryô (Sách Ngạn Chu Lương,
1501-1579), Seishô Shôtai (Tây Tiếu Thừa Duyệt, 1548-1607) ...và
kéo dài mãi đến thời tiền cận đại (thời kỳ Edo, thế
kỷ 17 trở đi).
Về những thi văn
tập tiêu biểu của giai đoạn này, có thể nhắc đến Minga-shuu
(Mân Nga Tập) của Sesson Yuubai, Tôkai Ichiô-shuu (Đông Hải
Nhất Âu [22] Tập, 1334) của
Chuugan Engetsu, Kuuge-shuu (Không Hoa Tập, 1359) của Gidô Shuushin,
Shôken-kô (Tiêu Kiên Cảo, 1403) của Zekkai Chuushin, Tôkai Keika-shuu
(Đông Hải Quỳnh Hoa Tập,) của Ishô Tokugan, Hantô-kô (Bán
Đào Cảo) của Genryuu Shuukô, Ho.an Kyôka-shuu (Bổ Am Kinh Hoa
Tập) của Ôsen Keisan, Kanrin Koro-shuu (Hàn Lâm Hồ Lô [23]
Tập) của Keijo Shuurin. Chúng đều được viết bằng chữ
Hán [24].
Sự hưng thịnh
của dòng văn học mà trung tâm là các tác phẩm chữ Hán này
sẽ kéo theo những hoạt động xuất bản rất đáng kể. Đặc
biệt từ giữa thế kỷ thứ 14 về sau, ở Kyôto, các cơ sở
như Tenryuuji Ungo.an (Thiên Long Tự Vân Cư Am) hay Rinsenji (Lâm
Xuyên Tự), Shunnoku Myôha và Tôkô Kikô (Đông Cương Hy Cảo)
đã xuất bản rất nhiều. Lại nữa, vùng Kamakura cũng có
Daiki Hôkin (Đại Hỷ Pháp Hân, ? -1368) và Isen Hôei (Vĩ Tiên
Phương Duệ, 1334-1414) ở Engakuji Zokutôan (Viên Giác Tự Tục
Đăng Am) là những nhà xuất bản đầy nhiệt tình. Họ là
những người đã có công rất lớn trong việc phổ biến thiền
tịch trên toàn quốc. Những văn bản được họ xuất bản
có cái tên chung là Gozanban (Ngũ Sơn bản). Phần lớn người
ta dùng những bản đời Tống và đời Nguyên được đem vào
đất Nhật như bản lót (để bản) cho nên về hình thức
chúng rất trung thành với bản gốc cho nên đều có giá trị
tư liệu rất cao.
Gozanban (Văn
bản Ngũ Sơn)
Gozanban là tên
để gọi những văn bản các sách vở về Thiền thịnh hành
ở Trung Quốc dưới hai triều Tống, Nguyên và được đem
về Nhật và in lại bởi các tự viện trong hệ thống ngũ
sơn Nhật Bản. Văn bản được in sớm nhất là Thiền Môn
Bảo Huấn đã được in ở chùa Kenchôji (ở Kamakura) vào năm
1287.Sau đó, vào năm 1288, ở chùa Sanshôji (Tam Thánh Tự) ở
Yamashiro (Kyôto), Tôzan Tanshô (Đông Sơn Đam Chiếu, 1231-91)
đã cho in lại Hổ Khâu Long Hòa Thượng Ngữ Lục. Thế rồi
nhà sư Trung Quốc Trức Tiên Phạm Tiên (Chikusen Bonsen, 1292-1348),
người đến Nhật năm 1329, đã cho xuất bản tác phẩm Thập
Di Kệ Tụng Tập của thầy mình là Cổ Lâm Thanh Mậu. Đến
thời Muromachi thì Shunnoku Myôha đã lần lượt in nhiều thiền
tịch Nhật-Trung khác. Chủ yếu là Viên Ngộ Tâm Yếu (1341)
nói về Viên Ngộ Khắc Cần, Mộng Trung Vấn Đáp Tập (1344)
của Muusô Soseki, Cảnh Đức Truyền Đăng Lục (1348), Phụ
Giáo Biên (1351), Thiền Nguyên Chư Thuyên Tập Đô Tự (1358),
Bồ Thất Tập (1359), Ngũ Đăng Hội Nguyên (1368), Phật Giám
Thiền Sư Ngữ Lục (tức ngữ lục của Vô Chuẩn Sư Phạm,
1370), Phật Quang Quốc Sư Ngữ Lục (ngữ lục của Vô Học
Tổ Nguyên, 1370), Tông Kính Lục (1371), Nguyên Hưởng Thích
Thư (1377), Sơ Tổ Tam Luận (Đạt Ma Đại Sư Tam Luận, 1387),
Thiếu Thất Lục Môn (thế kỷ 13-14)... Về ngoại điển tức
là những sách vở ngoài phạm vi Phật giáo thì có Luận Ngữ,
Luận Ngữ Tập Giải, Mao Thi Trịnh Tiên, Đại Học Chương
Cú. Tuy Kyôto đã trở thành trung tâm xuất bản của nhóm Ngũ
Sơn Nhật Bản nhưng tăng sĩ am Zokutô chùa Engakuji ở Kamakura
cũng chứng tỏ họ rất năng nỗ.
Công việc xuất
bản của Gozan qua hết thời toàn thịnh dã bắt đầu xuống
dốc trong khoảng niên hiệu Ôei (1394-1428). Từ khi có cuộc
loạn năm Ônin (1467-77) hầu như không còn hoạt động xuất
bản nào đáng kể. Ngoài ra, một sự kiện đáng lưu ý khi
bàn về vai trò tiên khu trong ngành xuất bản là trước khi
các Gozanban đầu tiên ra đời (1287), Dainichi Nô.nin (thế kỷ
12-13) đã cho in Quy Sơn Cảnh Sách (của đại thiền sư Quy
Sơn Linh Hựu) vào năm 1198. Tông Tào Động (Sôtô-shuu) cũng
không phải kém phần quan tâm đối với việc xuất bản. Bằng
cớ là do lời phát nguyện của một đàn việt chùa Hôkyôji
(Bảo Khánh Tự) là Ijira Tomofuyu, các kinh sách như Nghĩa Vân
Hòa Thượng Ngữ Lục, Học Đạo Dụng Tâm Tập (1357), Vĩnh
Bình Nguyên Hòa Thượng Ngữ Lục (ngữ lục của Dôgen, 1358)
đều đã được xuất bản.
Đương thời, văn
chương chữ Hán là một vốn liếng cần thiết mà các thiền
tăng bắt buộc phải trang bị cho mình nhưng họ cũng hiểu
rằng nguyên lai, Thiền không hề đòi hỏi ở họ một điều
như vậy. Tuy cảm thấy có cái gì không ổn khiến cho họ
có chút ngần ngại nhưng rồi họ cũng nhắm mắt tin theo lý
luận "thi thiền nhất vị" (thơ và thiền cũng cùng ý nghĩa)
du nhập từ Trung Quốc mà tiếp tục đi vào hoạt động sáng
tác. Lúc ấy, trong chốn tùng lâm, người ta thường hay kể
câu chuyện nhan đề Độ Đường Thiên Thần (Totôtenjin = Ông
Tenjin sang nhà Đường). Đó là một câu chuyện vô căn cứ
về phương diện lịch sử, theo đó, văn hào, đại thần và
Phật tử Sugawara no Michizane (Quản Nguyên Đạo Chân, 845-903,
gọi là Tenjin = Thiên thần, người được sùng bái như ông
tổ của học vấn) đã sang nhà Tống và đến Kính Sơn học
đạo với Vô Chuẩn Sư Phạm (1177-1249). Tuy chuyện đó hoàn
toàn hoang đường vì nhầm lẫn cả thời gian lẫn không gian
nhưng nhiều người lại xem nó có tính cách "công án". Trong
khung cảnh tư tưởng "thi thiền nhất vị" và "tam giáo nhất
trí" của Ngũ Sơn đang được rao giảng rộng rãi, đôi khi
xuất hiện những bức tranh vẽ cảnh Sugawara no Michizane (tức
Tenjin) đến Trung Quốc học Thiền (Độ Đường Thiên Thần
Tượng). Người như Kise Reigan (Quý Thế Linh Ngạn, 1403-1488)
còn làm những bài thơ ca ngợi Sugawara no Michizane kiểu San
Kitano Shinkun-shi (Tán Bắc Dã Thần Quân Thi) [25]
vv...
Văn học Gozan bắt
đầu chỉ đóng khung trong sự sáng tác thơ phú những kể
từ sau cuộc loạn Ônin (1467-77) thì có khuynh hướng chuyển
qua nghiên cứu học thuật. Sở dĩ họ đi theo đường nghiên
cứu bởi vì để có thể viết những bài văn tứ lục, thể
văn yêu chuộng của thiền gia, họ cần phải đào sâu kiến
thức về thành ngữ điển cố. Họ bắt đầu thực hiện
điều đó bằng cách đọc các kinh kệ và thiền tịch, thế
rồi cũng vì ảnh hưởng của tư tưởng "tam giáo nhất trí",
xoay ra học hỏi các sách vở đạo Nho (Chu Tử Học), bách
gia chư tử và sử truyện. Ngoài những tuyển tập thi văn
đồ sộ như Kokucho (Khắc Chử) [26]
của Suikei Shuuhô (Thụy Khê Chu Phượng), lại còn có nhiều
sách chú thích, trong đó phần lớn là sách viết bằng tiếng
Nhật với cái danh hiệu là shômono (sao vật 抄
物 hay 鈔
物 ).
Tiêu biểu cho loại
sách chú thích này là Hoshitsu-shuu Chuushaku (Bảo Thất Tập
Chú Thích) của Chuugan Engetsu, Sôji Kensai Kugi-shô (Trang Tử
Kiền (?) Trai Khẩu Nghĩa Sao) của Ishô Tokugan, Hekiganroku Fuji-shô
(Bích Nham Lục Bất Nhị Sao), Chuuhô Kôku Fuji-shô (Trung Phong
Quảng Lục Bất Nhị Sao, 1420), Ninden Ganmoku Fuji-shô (Nhân Thiên
Nhãn Mục Bất Nhị Sao) của Kiyô Hôshuu (Khi (?) Dương Phương
Tú, tức Bất Nhị Đạo Nhân, 1361-1424), Hyakujô Shingi-shô (Bách
Trượng Thanh Quy Sao) của Unshô Ikkei (Vân Chương Nhất Khánh,
1386-1463), Kôko Fuugetsushuu -chuu (Giang Hồ Phong Nguyệt Tập Chú,
1494-1504) của Tôyô Eichô (Đông Dương Anh Triều, 1428-1504),
Untôshô (Vân Đào Sao), Tôgen Zuisen Hitsuroku (Đào Nguyên Thụy
Tiên Bút Lục, 1459-62), Shiki-shô (Sử Ký Sao, 1476-80), Hyakunô.ô
(Bách Nạp Áo, sách giải thích Chu Dịch, 1474-77) của Tôgen
Suisen (Đào Nguyên Thụy Tiên 1430-1489), Hoshitsushuu-shô (Bồ
Thất Tập Sao) và Shikishô (Sử Ký Sao) của Gesshuu Jukei. Về
phía tông Sôtô thì cũng có Ninden Ganmoku shô (Nhân Thiên Nhãn
Mục Sao) của Sensô Esai (Xuyên Tăng Huệ Tế, ? -1475) và Hekigan
Daikuu-shô (Bích Nham Đại Không Sao, 1489-92) của Daikuu Genko
(Đại Không Huyền Hổ, 1428-1505).
Kiyô Hôshuu (Khi
Dương Phương Tú) được biết đến như người đầu tiên
trong tùng lâm Nhật Bản đã giảng nghĩa Tứ Thư Tập Chú
của Chu Hy. Còn Keian Genju (Quế Am, Huyền Thọ, 1427-1508) thì
lại được gia đình họ Tsushima, cai quản vùng Satsuma trên
đảo Kyuushuu, mời đến để giảng Nho Học và sau đó trở
thành ông tổ của Satsunan Gakuha (Sát Nam học phái) tức học
phái ở phía nam vùng Satsuma [27].
Keian đã cho ấn hành Đại Học Chương Cú (1481) với những
chú thích mới của Chu Hy. Riêng về Tứ Thư Tập Chú sau khi
được "huấn điểm" (trình bày cách đọc theo lối Nhật và
giải nghĩa) bởi Kiyô Hôshuu đã được Keian Genju bổ chính,
sau đó Bunshi Genshô (Văn Chi Huyền Xương, 1555-1620) cải chính
(công trình gọi là Bunshiten = Văn Chi điểm). Từ ấy, sách
đã trở thành một tác phẩm cơ sở cho người thời tiền
cận đại để đọc và hiểu Tứ Thư. Cần nói thêm rằng
Zenrin Kushuu (Thiền Lâm Cú Tập) của Tôyô Eichô vẫn còn được
phổ biến rộng rãi trong tùng lâm cho đến ngày nay.
Hội
họa Thiền Tông
Về mặt hội họa,
trong số hàng hóa và văn nghệ phẩm các chuyến tàu từ Trung
Quốc qua, có những bức tranh độc đáo vẽ theo phong cách
Thiền Tông. Đó là các bức "đỉnh tướng" (chinzô) [28]
tức chân dung của các bậc đại sư và các bức đồ họa
(người và phong cảnh) như Đạt Ma Đồ, Thập La Hán Đồ.
Các họa gia Nhật Bản đã mô phỏng theo phong cách hội họa
thiền lâm đời Tống mà sáng tác. Một chứng cứ trong buổi
đầu còn giữ lại được là một bức tranh có kèm theo lời
tán của Nhất Sơn Nhất Ninh. Vì loại tranh này là món đồ
rất cần thiết cho cơ cấu tổ chức của tùng lâm cho nên
phải tìm ra những tăng sĩ chuyên môn cho công việc chế tạo.
Kissan Minchô (Cát Sơn Minh Triệu, 1352-1431), điện chủ trong
chùa Tôfukuji (Đông Phúc Tự) là một thí dụ điển hình.
Riêng về một hình
thức hội họa khác, được coi như lấy việc vẽ vời làm
thú tiêu khiển (mặc hí), lấy cảm hứng từ "văn nhân họa"
(bunjinga) [29] của Trung Quốc
cũng đã được các tăng nhân du học đem về Nhật. Kaô Sônen
(Kha Ông Tông Diễn, ? - 1345, về Nhật năm 1326) và Tesshuu Tokusai
(Thiết Chu Đức Tế) là những người trong bọn họ. Hai ông
đã vẽ những bức trúc, lan, mai, thạch xương bồ, nho... và
chúng đã trở thành mẫu mực cho những người đi sau như
Sessô Fumin (Tuyết Song Phổ Minh, thế kỷ 13-14), Shitei Sohaku
(Tử Đình Tổ Bách, thế kỷ 13-14), Nikkan Shion (Nhật Quan Tử
Ôn, ? - 1293). Tuy không có kinh nghiệm du học nhưng Gyokuen Bonbô
(Ngọc Uyển Phạm Phương, 1348 - ? ), cũng rất nổi tiếng trong
lãnh vực hội họa này.
Trong thời buổi
ấy, các thiền viện không chỉ là nơi các thiền tăng dùng
để tu hành. Nó còn là địa điểm gặp gỡ, trao đổi với
các samurai thượng lưu của Mạc phủ Muromachi nữa. Các
trao đổi này phần lớn là về thi văn nhưng hội họa cũng
là phương tiện để họ có thể diễn đạt. Thi văn (thường
là thơ chữ Hán) được họ đem đề lên chỗ trống ở phần
trên những bức tranh cuốn (có trục hai đầu, đem treo lên
được) và các tác phẩm đó gọi là thi-họa-trục (shigajiku).
Người nổi danh hơn cả về loại tranh này là Taikô Josetsu
(Đại Xảo Như Chuyết, sống vào thế kỷ 14-15) của chùa
Shôkokuji (Tướng Quốc Tự) và Tenshô Shuubun (Thiên Chương
Chu Văn, người tiền bán thế kỷ 15). Tranh sơn thủy Nhật
Bản đã phát triển từ hình thức shigajiku "tranh cuốn
có trục để treo lên" như thế. Người đã hoàn chỉnh được
thể loại này là Sesshuu Tôyô (Tuyết Chu Đẳng Dương, 1420-1506),
đệ tử của Shuubun. Sesshuu còn để lại nhiều kiệt tác
như "bức tranh cuốn vẽ cảnh bốn mùa" Shiki Sansui Zukan (Tứ
Quí Sơn Thủy Đồ Quyển, tức Sơn Thủy Trường Quyển, 1486),
Shuutô Sansuizu (Thu Đông Sơn Thủy Đồ), Amanohashidate-zu (Thiên
Kiều Lập Đồ). Ảnh hưởng của ông vô cùng to lớn và vẫn
là một mục tiêu cho những họa gia đời sau noi dấu.
Sau thời Sesshuu,
họa gia tên tuổi nhất có lẽ là Kenkô Shuukei (Hiền Giang
Tường Khải, còn gọi là Keishoki, Khải Thư Ký, người hậu
bán thế kỷ 15), hoạt động trên địa bàn Kamakura. Người
cũng hoạt động ở miền Đông như Shuukei nhưng có một họa
phong độc đáo là Sesson Shuukei (Tuyết Thôn Chu Kế, sống giữa
thế kỷ 16). Xuất hiện trước sau Sesson một chút là Oguri
Sôtan (Tiểu Lật Tông Đam (Trạm), 1413-81) và Bokukei (Mặc Khê,
giữa thế kỷ 15), Soga Jasoku (Tô Ngã Xà Túc, tức Fusen Sôjô
= Phu Tuyền Tông Trượng, hậu bán thế kỷ 15), ba người cùng
có tên là Ami (San-ami): Nôami (Năng A Di, 1397-1471), Gei-ami (Nghệ
A Di, 1431-1485), Sôami (Tướng A Di, ? -1525), hai cha con họa sư
Kanô Masanobu (Thú Dã Chính Tín, 1434-1530) và Tomonobu (Nguyên
Tín, 1476-1559). Gia đình Kanô [30]
là những họa sư đứng đầu các nhà hội họa tục nhân.
Địa vị của các họa sư tăng nhân dần dần bị lu mờ trước
họ. Oguri Sôtan (đệ tử của Shuubun) và Kanô Masanobu trở
thành họa sư chuyên môn, phục vụ dưới trướng Shôgun (với
danh hiệu
goyô eshi = ngự dụng hội sư). San-ami, ba họa
sư cùng tên Ami là dôbôshuu
(đồng bằng chúng 同
朋 衆 ) tức là chức tùy
tùng phục vụ bên cạnh
shôgun. Riêng Gei-ami còn được
biết tới như là thầy của Juukei (Tường Khải). Bokukei cũng
là học trò của Shuubun (Chu Văn), cả ông lẫn Soga Jasoku đều
trụ trì ở Daitokuji (Đại Đức Tự), một nơi mà nhờ Ikkyuu
Sôjun, đã nổi tiếng như một trung tâm văn hóa lớn của
Nhật Bản.
Bút
tích (mặc tích = bokuseki)[31]
Các tăng sĩ du học
Trung Quốc cũng đem về nước phong cách viết chữ (thư phong)
thịnh hành đương thời bên đó là "viết lối Thiền Tông"
(Zenshuu-yô). Xưa nay, người Trung Quốc vốn xem thi-thư-họa
là ba nghệ thuật tao nhã mà người trí thức muốn tu dưỡng
tinh thần cần phải theo đuổi. Đặc biệt đối với các
thiền sư thì bút tích do thầy mình viết để lại (gọi là
bokuseki = mặc tích) - nhất là "ấn khả trạng" (giấy chứng
nhận đạt được trình độ thầy cấp cho học trò) - là
một vật hết sức quan trọng. Những thiền sư Trung Quốc
sang Nhật truyền giáo như Lan Khê Đạo Long (1213-78) và Nhất
Sơn Nhất Ninh viết chữ rất đẹp, thế nhưng, trong thời
kỳ cuối của Mạc phủ Kamakura bước qua giai đoạn đầu
Mạc phủ Muromachi, trong số các thiền sư Nhật Bản, cũng
thấy xuất hiện nhiều người có nét bút tinh xảo, ví dụ
Muusô Soseki (Mộng Song Sơ Thạch), Kokan Shiren (Hổ Quan Sư Luyện),
Shuuhô Myôchô (Tông Phong Diệu Siêu). Nhìn chữ họ viết, có
thể suy đoán là họ chịu ảnh hưởng của thư phong Hoàng
Đình Kiên (1045-1105) và Trương Tức Chi (1186-1266), hai văn nhân
Bắc Tống.
Trước hay sau một
chút khoảng thời gian các nhân vật nói trên hoạt động,
nhiều lưu học tăng như Sesson Yuubai (Tuyết Thôn Hữu Mai) và
Jakushitsu Genkô (Tịch Thất Nguyên Quang) cũng từ Trung Quốc
trở về. Họ truyền bá thư pháp của một văn nhân bên đó
là Triệu Mạnh Phủ (tự Tử Ngang, 1254-1322), người từng
giao du thân thiết với cao tăng đời Nguyên là Trung Phong Minh
Bản (1263-1323). Đặc biệt có giai thoại kể rằng khi vào
đất Nguyên, có lần Sesson Yuubai được cơ hội diện kiến
Triệu Mạnh Phủ và đã biểu diễn lối viết kiểu Lý Ung
làm cho ông ta phải kinh ngạc. Thế nhưng đến thời nhà Minh
thì sự đi lại giữa Trung Quốc và Nhật Bản trở nên khó
khăn. Ở Nhật người ta mới chọn một giải pháp chiết trung
là tạo ra một thư phong vừa chịu ảnh hưởng của cách viết
Thiền Tông (Zenshuu- yô = Thiền Tông-dạng) vừa nhận ảnh
hưởng cách viết bản xứ (Wa-yô = Hòa-dạng). Đó là "lối
viết Gozan" hay Gozan-yô (Ngũ Sơn - dạng). Những thư gia giỏi
về lối này có Gidô Shuushin (Nghĩa Đường Chu Tín), Zekkai
Chuushin (Tuyệt Hải Trung Tân), Chuuhô Chuushô (Trọng Phương
Trung Chính). Chuushô là người có được cơ hội nhập Minh.
Về ông, có giai thoại là nhờ viết chữ đẹp nên đã được
người Trung Quốc mời viết chữ kiểu để đúc đồng tiền
Vĩnh Lạc Thông Bảo.
Tạo
vườn (tác đình = sakutei)
Bên Trung Quốc,
các chùa Thiền thường được xây ở những nơi phong cảnh
đẹp đẽ, hiểm tuấn nên có khi ở vị trí chênh vênh, cheo
leo. Đó cũng là vì trong tư tưởng nhà thiền có tư tưởng
ẩn dật của Lão Trang chen vào. Đến đời Tống thì thiền
viện trở thành nơi tăng nhân giao lưu với sĩ đại phu. Khi
sự gặp gỡ giữa hai bên ngày càng thường xuyên thì các
nhà tu phải nghĩ đến chuyện sửa sang cảnh quan cho nhà chùa
cho đẹp mắt.Thế rồi, sau khi một ngôi chùa có qui củ của
tu viện Thiền Tông bên Trung Quốc là Kenchôji (Kiến Trường
Tự) đã được kiến tạo ở Nhật thì phong trào đó đã
lan ra khắp nơi. Ví dụ Tenryuuji (Thiên Long Tự), Shôkokuji (Tướng
Quốc Tự) và Nanzenji (Nam Thiền Tự) cũng bắt đầu tuyển
chọn 10 phong cảnh tiêu biểu nhất của chùa và gọi chúng
là "thập cảnh" (juukei).
Không chỉ có thế
mà thôi. Các thiền tăng vốn am tường nghệ thuật đã trực
tiếp ra tay tạo nên những cảnh vườn (sakutei = tác đình)
với những hòn giả sơn, ao hồ, cây, đá. Người nổi tiếng
nhất trong đám họ là thiền sư Muusô Soseki (Mộng Song Sơ
Thạch). Ông còn lưu lại các vườn cảnh (đình viên = teien),
tác phẩm của mình ở Eihoji (Vĩnh Bảo Tự, tỉnh Gifu, năm
1313), Saihôji (Tây Phương Tự, thành phố Kyôto bây giờ, năm
1339) và Tenryuuji (Thiên Long Tự, Kyôto, năm 1340). Ngoài ông
ra, các thiền tăng khác như Tessen Sôki (Thiết Thuyền Tông
Hi, sống giữa thế kỷ 15) tu ở Ryuuanji (Long An Tự), Seshuu
Tôyô (Thiết Chu Đẳng Dương, nhà danh họa đã nhắc đến
bên trên) cũng như Kogaku Sôkô (Cổ Nhạc Tông Cắng, 1465-1548)..cũng
đều là người sáng tạo đình viên có tiếng.
Những đình viên
có thể sánh vai với tác phẩm của Muusô Soseki là "cảnh sơn
thủy trơ trụi" (karesansui = khô sơn thủy) mà Kogaku Sôkô đã
để lại trong đình viên của thư viện của Daien-in (Đại
Tiên Viện) chùa Daitokuji (Đại Đức Tự, vào năm 1509) cũng
như vườn đá (thạch đình = sekitei) ở chùa Ryuuanji (Long An
Tự, khoảng thế kỷ 16) do một tác giả vô danh sáng tác.
Đặc biệt "vườn đá" Ryuuanji với cách phối trí 15 khối
đá trong một khu vườn rải sỏi trắng bằng phẳng đã tạo
nên thế hài hòa, cân đối. Tính cách trượng trưng và ý
nghĩa trừu tượng cao độ của cách sắp xếp đó đã làm
cho tên tuổi khu vườn được cả thế giới biết đến.
Thiền
đã ảnh hưởng đến văn hóa như thế nào?
Một trong những
đặc điểm của phái Gozan là sự thiên trọng về văn học
nghệ thuật. Điều đó có thể đã khiến cho họ tách rời
tư thế cố hữu của một giáo đoàn nhưng không làm ngạc
nhiên quần chúng Nhật Bản thời đó, vốn hết sức ngưỡng
mộ văn hóa Trung Quốc. Nhân vì nền văn hóa này đã được
xây dựng trong bối cảnh tùng lâm, dĩ nhiên nó phản ánh đậm
đà sắc thái Thiền Tông. Tuy nhiên, vì có sự giao lưu giữa
các thiền tăng và giới samurai
thượng lưu cho nên ảnh
hưởng của nó đã lan rộng ra ngoài xã hội. Vào thời đại
của Shôgun Ashikaga Yoshimitsu, văn hóa chủ lưu là văn hóa Kitayama
(Bắc Sơn) [32], qua đến
thời Yoshimasa, đó là văn hóa Higashiyama (Đông Sơn). Vào thời
kỳ này, kiến trúc nhà cửa dinh thự đều lấy cảm hứng
từ lối xây cất của Thiền Tông (Zenshuu-yô) và sau đó, nó
sẽ trở thành hình dạng nguyên thủy của lối kiến trúc
độc đáo của người Nhật có tên là shoin-zukuri (lối
cất nhà kiểu thư trai). Thế rồi, không chỉ có kiến trúc
mà cả đến nghệ thuật uống trà (kissa) với phong vị nhà
thiền, cũng như trò chơi tôcha (đấu trà) [33]
và những cuộc hội họp thưởng thức trà gọi là
cha-yoriai
(họp nhau uống trà) cũng được phổ biến rộng rãi.
Mặt khác, nếu
tham khảo tác phẩm Kôun Kuden (Canh Vân Khẩu Truyền, 1408) [34]
của Kazan-in Nagachika (Hoa Sơn Viện Trường Thân, 1346? - 1429)
và Sasamegoto (Thì thầm với nhau, 1463) của tăng sĩ và nhà
thơ
renga là Shinkei (Tâm Kính, 1406-75), ta sẽ thấy phương
pháp bình luận về thơ waka và thơ renga trong thời
kỳ này cũng đã chịu ảnh hưởng của Thiền. Ảnh hưởng
ấy còn lan qua cả lãnh vực sân khấu nếu ta đọc tác phẩm
lý thuyết về tuồng Nô của Zeami Môtkiyo (Thế A Di Nguyên
Thanh, 1363?-1443?) hay Konparu Zenchiku (Kim Xuân Thiền Trúc, 1405-70).
Hơn nữa, nếu nói về văn chương quốc âm thì được biết
một nhà thơ waka nổi tiếng thời ấy, Shôgetsu Shôtetsu
(Chiêu Nguyệt Am Chính Triệt, 1380-1458) chính là một thiền
tăng từng giữ chức thư ký ở chùa Tôfukuji (Đông Phúc Tự).
Còn như Eiho Eiyuu (Anh Phủ Vĩnh Hùng, 1547-1602), ông tổ của
thể thơ gọi là kyôka [35]
thời tiền cận đại không ai khác hơn là một cao tăng đã
có thời trụ trì ở Nanzenji (Nam Thiền Tự).
Giao lưu giữa
Zeami, Konparu và các thiền tăng
Liên hệ của
Zeami (Thế A Di), nhà soạn vở và kịch sĩ lỗi lạc của tuồng
Nô, đối với thiền giới, có thể tóm tắt qua vài sự kiện:
1) Giao lưu giữa
ông với tăng sĩ phái Tào Động là Chikusô Chigan (Trúc Song
Trí Nghiêm, ? -1423), nguyên là trụ trì đời thứ hai của Fuganji
(Bổ Nham Tự) ở vùng Yamato (Nara ngày nay) sau về chỉ đạo
ở Sôjiji (Tổng Trì Tự) và chính ông, trước năm 1422 cũng
đã xuất gia ở Sôjiji với đạo hiệu là Shiô Zenhô (Chí
Ông Thiện Phương).
2) Quan hệ của
ông với Kiyô Hôshuu (Khi Dương Phương Tú) chùa Tôfukuji. Ông
thường đến tham vấn về Thiền với bậc đại sư học giả
này.
Trên thực tế,
trong khi viết lý luận về tuồng Nô, Zeami hay dùng từ ngữ
nhà thiền như "công án" "niệm lung" (đồng âm nenrô với "niêm
lộng"), "ấn khả" vv...Chẳng những thế, khi nói về những
tâm cảnh khi học tập nghệ thuật Nô, ông đưa ra thuyết
"cửu vị" (kyuu.i) nói về 9 giai đoạn phải đi trên con đường
đó. Ông lý luận rằng khi đạt tới đỉnh cực cao, người
diễn Nô phải biết trở lại với cách diễn (waza) sơ đẳng
nhất. Đó là tư tưởng "lại trở về" (kyakurai =khước lai),
rõ ràng ông đã chịu ảnh hưởng lối suy nghĩ của Thiền
Tông qua câu nói "ngộ liễu đồng vị ngộ" (thấu hiểu cũng
tựa như chưa thấu hiểu). Riêng từ "cửu vị" đã được
trích dẫn từ Lục Ngưu Đồ của Jitoku Eki (Tự Đắc Huệ
Huy, 1097-1183), người đã viết một tập ngữ lục được
xem như văn kiện chủ yếu của tông Tào Động, đã được
phổ biến rộng rãi. Như thế, thật khó lòng phủ nhận ảnh
hưởng của Thiền Tông trong phong cách và sự nghiệp của
Zeami.
Còn như Konparu
Zenchiku (Thiền Trúc) thì người ta biết ông từng đi lại
thân thiết với thiền tăng kiêm nhà thơ waka tên Shôgetsuan
Shôtetsu (Chiêu Nguyệt Am Chính Triệt) cũng như Nankô Sôkan
(Nam Giang Tông Nguyên, 1381-1459), một bóng dáng lớn trong văn
phái Gozan.Lúc về già, ông gần gũi với thiền sư và thi nhân
Ikkyuu Sôjun. Zenchiku đã để lại tập lý luận về tuồng
Nô nhan đề Rokurin Ichiro no Ki (Lục Luân Nhất Lộ Ký), trong
đó, ảnh hưởng của tư tưởng nhà thiền hiện ra rất rõ.
Liên hệ của Ikkyuu đối với Zenchiku không dừng lại trong
lúc Zenchiku sinh tiền mà, sau khi ông mất đi, còn duy trì đến
đời con ông là Sôkin (Tông Quân, 1432-80) và cháu ông là Zenhô
(Thiền Phượng, 1454-1532?). Qua đó,mới thấy tư tưởng của
Ikkyuu đã ảnh hưởng rất lớn đối với nghệ thuật Nô
nói chung. Còn về nội dung của tư tưởng Zenchiku,ta thấy
nó trộn lẫn vừa lý thuyết của Thần Đạo, Mật Tông cùng
với Tịnh Độ Tông. Khuynh hướng này cũng có thể nhìn thấy
trong Sasamegoto của tăng Shinkei (Tâm Kính), học trò về waka
của Shôtetsu. Những điều nói trên giúp ta ta thấy các nhà
nghệ thuật đã tiếp thu tư tưởng Thiền Tông như thế nào,
cùng lúc, trả lời được câu hỏi tại sao Thiền tự nó
đã biến chất như thế.
|
Tiết
3 - Lâm hạ bành trướng về địa phương. Khuynh hướng mật
tham
|
Mạc
phủ suy yếu. Thiền truyền bá về địa phương
Sau cuộc loạn năm
Ônin, Shôgun Ashikaga Yoshitane (Túc Lợi Nghĩa Thực, 1466-1523,
tại chức 2 lần: 1490-93 và 1508-21) bị chức kanrei là
Hosokawa Masamoto (Tế Xuyên, Chính Nguyên, 1466-1507) bức bách
(chính biến năm Meiô, 1493), quyền lực trung ương của mạc
phủ rơi vào tay họ Hosokawa. Sau đó quyền lực lại chuyển
qua gia thần của dòng họ ấy là Miyoshi Nagayoshi (1522-64). Miyoshi
lại bị buộc phải nhượng quyền cho gia thần của mình là
Matsunaga Hisahide (1510-77). Masahide dồn shôgun đời thứ
13 là Yoshiteru (Nghĩa Huy, 1536-65) đến chỗ phải tự sát. Đó
là một thời đại chính trị cực kỳ đen tối, thần hạ
bên dưới lấn lướt chủ quân (gọi là gekokujô = hạ khắc
thượng). Ở địa phương cũng vậy, các chức thủ hộ (sugo)
ủy thác lãnh địa cho người đại diện (sugodai) cai quản
để rảnh tay lên kinh đô làm quan với mạc phủ. Thế nhưng
vì ảnh hưởng của cuộc loạn Ônin mà các "đại diện cho
sugo" (sugodai) và giới samurai địa phương dần dần nắm
được thực quyền.Nhân vì mạc phủ hoàn toàn không còn uy
tín gì nữa nên chính quyền địa phương kiếm cách thoát
khỏi ảnh hưởng của trung ương.
Thử điểm mặt
những thế lực địa phương thời đó: Ở miền Kantô (phía
đông đảo Honshuu), Hôjô Sôun (Bắc Điều Tảo Vân, 1432-1519)
nắm quyền bá chủ, ở vùng Chuugoku (phía tây đảo Honshuu)
Ôuchi Yoshitaka (Đại Nội Nghĩa Long, 1507-1551) khống chế. Ngoài
ra còn có Mori Motonari (Mao Lợi, Nguyên Tựu, 1497-1571), người
đã thay thế Ôuchi, Imakawa Yoshitomo (Kim Xuyên Nghĩa Nguyên, 1519-60)
cai quản từ Suruga đến Mikawa, Takeda Shingen (Vũ Điền Tín
Huyền, 1521-73) giữ vùng Kai, Uesugi Kenshin (Thượng Sam Khiêm
Tín, 1530-78) giữ vùng Echigo. Đó là những người xuất thân
sugo
hay sugodai mà sau đó đã chiếm lĩnh các vùng địa phương,
tranh hùng để mục đích thống nhất Nhật Bản dưới quyền
mình. Đó là những lãnh chúa (daimyô) thời Chiến Quốc (Sengoku
Jjidai, 1467-1568), một giai đoạn chiến tranh không ngừng dài
trên một thế kỷ.
Cuộc nội loạn
Ônin kéo dài 10 năm, Kyôto điêu tàn hoang phế, làm cho các
học giả, cao tăng và nghệ sĩ như Ichijô Kanera (Nhất Điều
Kiêm Lương, 1402-1481) [36],
Sesshuu Tôyô Tuyết Chu Đẳng Dương), Keian Kenjuu (Quế Am Huyền
Thụ), Banri Shuukyuu (Vạn Lý Thập Cửu), Gesshuu Jukei (Nguyệt
Chu Thọ Quế), Sakugan Shuuryô (Sách Ngạn Chu Lương)...phải
bỏ kinh đô về địa phương, gửi thân nơi các lãnh chúa.
Những người này vốn ngưỡng mộ văn hóa của kinh đô từ
lâu nên đã tiếp nhận họ một cách niềm nở. Như thế,
chiến tranh đã vô tình đem văn hóa nghệ thuật truyền bá
về các vùng xa xôi.
Vào thế kỷ thứ
15, chức kanrei quản lĩnh vùng Kantô là Uesugi Kanezane
(Thượng Sam, Kiến Thực, 1410-66) đã cho phục hồi Ashikaga
Gakkô (Túc Lợi học hiệu), một hình thức trường đại học
dạy Nho, Phật...do họ Ashikaga thành lập và một thời suy
vi. Đến hậu bán thế kỷ 16, trường đổi tên thành Bandô [37]
Gakkô (Bản Đông học hiệu), rất phồn thịnh, đào tạo được
nhiều nhân tài. Ngoài ra, các trí thức như Kiyohara no Nobukata
(Thanh Nguyên Tuyên Hiền, 1475-1550), Gesshuu Jukei, Asukai Masayasu
(Phi Điểu Tỉnh Nhã Khang, 1436-1509) đến nương nhờ gia đình
Asahara ở lãnh địa của họ tức thành Ichijôdani ở Echizen
(tỉnh Fukui ngày nay). Ở Yamaguchi, đất của họ Ôuchi, có
tăng sĩ và nhà thơ Sôki, họa gia Sesshuu Tôyô, thiền sư Sakugan
Shuuryô ... Đặc biệt thủ lãnh họ Ôuchi, Ôuchi Yoshitaka (1507-51),
là một người có nhiệt tâm với văn hóa và có công xuất
bản
nhiều thư tịch (gọi theo tên người hay tên đất thành ra
Ôuchi-ban hay Yamaguchi-ban).
Sự
phát triển của các giáo đoàn hai chùa Daitokuji (Đại Đức
Tự) và Myôshinji (Diệu Tâm Tự)
Vào thời Sengoku,
giáo phái Gozan cũng suy thoái dần cùng một nhịp độ với
mạc phủ. Để thay thế vào vị trí của Gozan, các chùa "lâm
hạ" [38] tức các chùa thứ
yếu "dưới bóng rừng" mới ra sức bành trướng thế lực
của mình. Họ không được sự bảo trợ của mạc phủ nên
thường gặp khó khăn về mặt kinh tế. Để tìm cách sinh
tồn, họ phải di chuyển địa bàn hoạt động về địa phương.
Với nhiệt tình truyền đạo của họ, chẳng mấy chốc các
chùa lâm hạ đã xâm thực được lãnh thổ của cựu Phật
giáo và phái Gozan, làm cho sức mạnh tôn giáo (giáo thế) của
mình ngày một tăng thêm.
Những kẻ bảo
trợ cho phái Gozan ở các địa phương là chức "thủ hộ"
(sugo) sở tại nhưng ác chùa "lâm hạ" không chọn đối tượng
đó. Họ tiếp cận các "đại diện thủ hộ" (sugodai) và tầng
lớp thổ hào là những samurai cấp thấp. Sau cuộc loạn
Ônin (1467-77), khi các "thủ hộ" suy vong thì các phó tướng
của họ, "đại diện thủ hộ" mới nắm lấy thực quyền
rồi thực sự trở thành lãnh chúa chiến quốc (sengoku-daimyô) [39].
Ảnh hưởng của Gozan từ đó bị ngừng lại ở ngưỡng cửa
địa phương, nhờ đó ảnh hưởng của các "giáo đoàn lâm
hạ" có cơ hội bung ra. Võ khí của họ trong việc truyền
giáo và bành trướng thế lực là những buổi lễ tang, giỗ
kỵ, cầu siêu...cũng như các buổi hội họp có tên là kôkoe
(giang
hồ hội, một pháp hội nửa đạo nửa tục) hay
juukaija
(thọ giới hội) để truyền thụ pháp môn cho các đệ tử
tại gia (gọi là kechimyaku denju = huyết mạch truyền thụ)
và ban phát ấn khả một cách dễ dàng cho những người đó.
Hệ phái đứng
ra chủ trì việc kinh dinh Daitokuji là của Yôsô Sôi (Dưỡng
Tẩu Tông Di). Pháp hệ của Yôsô được truyền từ đệ tử
của ông là Shunpo Sôki (Xuân Phủ Tông Di, 1416-96) đến Jitsuten
Sôshin (Thực Truyền Tông Chân, 1434-1517). Môn hạ của Jitsuten
có hai người: Kogaku Sôkô (Cổ Nhạc Tông Cắng, 1465-1548) và
Tôkei Sôboku (Đông Khê Tông Mục, 1454-1517). Đệ tử của mấy
người đó mới mở hai tháp đầu là Daisen.in (Đại Tiên Viện)
và Ryuugen.in (Long Nguyên Viện) làm trung tâm để truyền bá
về địa phương. Phái của Kogaku gọi là bắc phái (hoppa),
còn phái của Tôkei gọi là nam phái (nanpa). Họ tiến về Suufukuji
(Sùng Phúc Tự) ở Fukuoka (Chikuzen) và Zentsuuji (Thiền Thông
Tự) ở Izumi (phủ Ôsaka), hai chùa của phái Đại Ứng và
phái Gozan, biến nó thành chùa ngọn (mạt tự) của mình để
bành trướng thế lực của mình xuống đến vùng đó. Vì
lý do đó, việc quản lý chùa Daitokuji vào thời ấy đã chuyển
từ "lưỡng ban" (đông tây đường) đến tay người đại
diện của tháp đầu, có danh xưng là "tháp chủ" (tossu) và
đứng đầu một nhóm thành viên chủ yếu gọi là "chúng bình"
(shuuhyô).
Trong tầng lớp
ủng hộ giáo đoàn của Daitokuji có những lãnh chúa chiến
quốc (Sengoku daimyô) đang mong muốn móc nối với triều đình
và những
samurai muốn đi tìm một điểm tựa tinh thần
giữa thời chiến loạn . Ngoài ra còn có đám con buôn ở các
đô thị thương mãi như Sakai và Hakata, ví dụ Tsuda Sôkyuu
(Tân Điền, Tông Cập), Yamaoka Sô.mu (Sơn Cương Tông Vô, ?
-1595) và Kamiya Sôtan (Thần Cốc Tông Đam (Trạm), 1551-1635),
kể cả những bậc thầy chuyên nghiệp trong làng thơ
renga
như
Sôki (Tông Kỳ), Sôchô (Tông Trường), Shôha (Thiệu Ba, 1525-1602),
những soạn giả tuồng Nô hay lương y như Kanze và Konparu.
Đặc biệt Sôchô đóng một vai trò trọng yếu, ông nổi tiếng
vì đã xây cất ba cổng (tam môn) cho Daitokuji (1525-26).
Một trong những
lý do mà giáo đoàn Daitokuji thu hút được các nhân vật có
thể nói là ở một trình độ văn hóa khá cao như vậy vì
họ biết tích cực "phó pháp" (truyền thụ đạo pháp) cho
giới cư sĩ tại gia.Những người này muốn học hỏi về
Thiền Tông để thỏa mãn nhu cầu tri thức của mình. Khi phó
pháp như thế, họ nhận được lễ vật hậu hỉ, rồi khi
nhân vật đó chết đi, họ cũng được thừa hưởng ruộng
đất cúng dường để có phương tiện cúng kiến mãi mãi
cho vong linh thí chủ. Phó pháp kiểu này chính ra đi ngược
với tinh thần xưa nay của Thiền Tông nhưng trong trường hợp
của Daitokuji, xét ra nó thật được việc vì giúp cho chùa
phát triển. Chúng ta đã biết Ikkyuu Sôjun đã nghiêm khắc
chỉ trích hòa thượng Yôsô Sôi cũng vì hình như lý do là
Yôsô và môn đệ đặc biệt có khuynh hướng đi sâu vào con
đường này. Muốn biết trên thực tế, Yôsô và môn đệ
đã hành động như thế nào, có thể tham khảo nội dung tác
phẩm nổi tiếng Daitokuji Dawa (Đại Đức Tự Dạ Thoại),
bản do Đại học Ryuukoku [40]
tàng trữ.
Thầy trò Yôsô
đã thuyết phục mọi người về sự cần thiết của việc
tham cứu công án. Họ rao rằng Hottô Kokushi (Pháp Đăng Quốc
Sư) phải tham cứu 108 tắc, còn Tettô (Triệt Ông) và Yôsô
(Dưỡng Tẩu) phải học xong 80 công án rốt cuộc mới giác
ngô. Nhân đó, đối với tín đồ, họ nhấn mạnh đến việc
tham cứu công án như con đường để đi tìm chân lý. Như
vậy, tư thế của môn phái Yôsô có khuynh hướng tiến về
hình thức mật tham.
Sự giao lưu giữa
các tăng nhân Daitokuji và con buôn ở Sakai đã hình thành được
"trà đạo" (đọc là chadô, sadô) hay wabicha [41].
Người mở đường của trà đạo là Murata Jukô (Điền Thôn,
Châu Quang, 1423-1502) một đệ tử của Ikkyuu Sôjun (Nhất Hưu).
Thế nhưng vào thời đại này cũng đã thấy xuất hiện các
nhân vật có công đưa vị trí của trà đạo lên cao như Takeno
Jôô (Vũ Dã Thiệu Âu, 1502-1555), môn đệ của ông là Sen no
Rikyuu (Thiên Lợi Hưu, 1522-91), Tsuda Sôkyuu (Tân Điền Tông
Cập) và Imai Sôkyuu (Kim Tỉnh Tông Cửu, 1520-1593). Từ thời
Murata Juukô (Châu Quang) trở đi, Thiền vẫn được coi như
điểm tựa tinh thần của trà đạo. Điều này được trình
bày qua phương châm "Trà Thiền nhất vị" (trà và thiền có
cùng một vị, cùng một ý nghĩa). Takeno Jôô là người đã
nhận pháp tự từ thiền sư Dairin Sôtô (Đại Lâm Tông Sáo,
1480-1568), còn Sen no Rikyuu đã tham học công án dưới trướng
Shôrei Sôkin (Tiếu Lãnh Tông Hân, 1490-1568). Điều đó chứng
tỏ rằng đối với người chuyên tâm đến nghệ thuật uống
trà (gọi là chajin =trà nhân) thì việc tham thiền là điều
kiện tất yếu.
Trà đạo giúp cho
người ta tu dưỡng được ý thức thẩm mỹ đặc biệt qua
những dụng cụ uống trà như bát gốm uống trà (chawan), chổi
con bằng trúc đánh cho bột trà lên bọt (chasen) và thìa nhỏ
(chashaku) bằng trúc, gỗ sơn, ngà hay kim loại để đong lượng
bột trà vào bát, tranh cuốn (kakemono) treo bên chỗ ngồi uống
trà (chaseki) và hoa trưng bày (rikka) trong phòng. YÙ thức thẩm
mỹ đó cũng liên quan đến sự sáng tạo kiến trúc phòng
uống trà (chashitsu) và sắp xếp quang cảnh vườn nhà của
nó (cha-niwa, thường gọi là roji). Tóm lại, tư tưởng Thiền
Tông thông qua trà đạo đã ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực
văn hóa. Liên hệ giữa trà đạo và chùa Daitokuji hãy còn
tiếp tục mãi về sau. Các bức tranh cuốn do tăng sĩ chùa
ấy vẽ là những mặc tích (boseki) đặc biệt được ca tụng
như dấu ấn của một truyền thống..
Riêng về Myôshinji
(Diệu Tâm Tự), trong chiều hướng phát triển về địa phương,
việc chùa đã được gánh vác bởi 4 người pháp tự do Sekkô
Sôstan (Tuyết Giang Tông Thâm) đào tạo. Đó là Keisen Sôryuu
(Cảnh Xuyên Tông Long, 1426-1500), Gokei Soton (Ngộ Khê Tông Đốn,
1416-1500), Tokuhô Zenketsu (Đặc Phương Thiền Kiệt, 1419-1506)
và Tôyô Eichô (Đông Dương Anh Triều, 1426-1504). Đặc biệt
Sôshin (Tông Thâm) vào năm 1475 đã định lệ cho 4 đệ tử
cứ 3 năm một thay nhau giữ nhiệm kỳ trụ trì của Myôshinji.
Qui tắc này đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển của
môn phái Kanzan (Quan Sơn) [42].
Lý do là vì các môn phái dù là Ryuusen.am (Long Tuyền Am), Tôkaian
(Đông Hải Am), Seitakuan (Thánh Trạch Viện), Reiun.in (Linh Vân
Viện) đều lấy tacchuu (tháp đầu) của phái mình làm trung
tâm để triển khai các hoạt động bố giáo. Như vậy, sau
đó 4 phái Ryuusen, Tôkai, Seitaku và Reiun mang tên các "tháp đầu"
đã được thành lập. Các chùa ngọn (mạt tự) hay tháp đầu
được thiết lập hay được thu nhận sau đó bắt buộc lệ
thuộc vào một trong 4 hệ thống kể trên.
Cách phát triển
của Myôshinji về địa phương thường qua cách thức lợi
dụng sự suy yếu của một phe phái khác mà gửi ngay người
của mình về trụ trì ở chùa địa phương có vấn đề.
Như thế, những ngôi chùa có tiếng trong "ngũ sơn thập sát"
như Seikenji (Thanh Kiến Tự) vùng Suruga (tỉnh Shizuoka), Erinji
(Đại Lâm Tự) vùng Kai (tỉnh Yamanashi), Ankokuji (An Quốc Tự)
vùng Ise (tỉnh Mie), hay chùa bản sơn các phái khác như Kôgenji
(Cao Nguyên Tự) ở Tanba (tỉnh Hyôgo), Kôkokuji (Hưng Quốc Tự,
phái Pháp Đăng) đều lọt vào tay họ. Câu chuyện nổi tiếng
vào thời này là việc Kaisen Shôki (Khoái Xuyên Thiệu Hỷ,
? - 1582) trước đã được lãnh chúa Takeda Shingen đất Kai
mời về trụ trì ở Erinji, vì ăn nói mếch lòng lãnh chúa
Oda Nobunaga, một trong ba người có công thống nhất Nhật Bản,
mà bị đem giết. Môn hạ của ông có những người như Nanke
Genkô (Nam Hóa Huyền Hưng, 1538-1604).
Chứng tỏ được
thực lực qua sự phát triển của giáo đoàn, vào năm 1509,
Myôshinji được nhà nước giáng chiếu chỉ "tử y sắc hứa"
(shie chokkyo), một vinh dự cao cả, đưa họ lên ngang hàng với
Daitokuji. Trước đó, tăng sĩ chùa Myôshinji khi trở thành trụ
trì Daitokuji thì được ban sắc chỉ và tử y, nhưng sau khi
nhận được vinh dự này, điều đó trở nên không cần thiết
nữa. Tuy nhiên, kể từ đó, hai chùa không còn thuận thảo
với nhau như trước, chẳng những thế, họ còn tuyệt đường
đi lại. (Để có thể giải tỏa những phức tâm này, phải
đợi mãi đến năm 1716, nghĩa là vào giữa thời Edo).
Tông
Tào Động (Sôtô-shuu) phát triển về địa phương
Sôtô-shuu tức tông
Tào Động Nhật Bản có những hoạt động truyền đạo hết
sức khởi sắc của giáo đoàn chùa Sôjiji (Tổng Trì Tự),
chủ yếu là do hệ phái của Taigen Sôshin (Thái Nguyên Tông
Chân) và Tsuugen Jakurei (Thông Huyễn Tịch Linh), đảm nhận.
Khởi đi từ hệ phái Taigen (Thái Nguyên), Nyôchuu Tengin (Như
Trọng Thiên Ngân, 1365-1440) đã thành lập 6 phân nhánh dưới
trướng Nyôchuu gọi là Nyôchuu ka roppa (Như Trọng hạ lục
phái). Cũng vậy, từ hệ phái Tsuugen (Thông Huyễn), môn đệ
là Ryôan Emyô (Liễu Am Huệ Minh, 1337-1411), có đến 16 phân
nhánh. Nhiều chùa thuộc Gozan xưa kia lần lượt cải tông
theo họ nên Sôtô-shuu đã nới rộng ranh giới của tông phái
mình.
Trước tình huống
mới này, Eiheiji (chùa Vĩnh Bình của Dôgen ngày xưa) vẫn còn
được duy trì bởi một phái có từ Jakuen (Tịch Viên, 1207-1299).
Một thời họ dã dược Thiên hoàng Go-Enyuu (Hậu Viên Dung,
thứ 5 trong hệ Bắc Triều, trị vì 1371-1382) sắc cho mấy
chữ (gọi là chokugaku = sắc ngạch) ghi trên biển của chùa
là "Nhật Bản Tào Động Đệ Nhất Đạo Trường" và đưa
lên hàng "xuất thế đạo trường" [43]
(shusse dôjô) vào năm 1372. Uy nghi lẫm liệt như thế nhưng
đến thế kỷ 15 thì Eiheiji đã trở thành hoang phế. Dù vậy,
nhờ công sức của các vị trụ trì được mời đến như
Gezô Gidon (Hoa Tạng Nghĩa Đàm, 1375-1455) phái Kangan (Hàn Nham)
và Don.ei Eô (Đàm Anh Huệ Ứng, 1424-1504) phái Gazan (Nga Sơn)
mà chùa được phục hưng. Năm 1539, chùa lại được Thiên
hoàng Go-Nara (Hậu Nại Lương, thứ 105, trị vì 1526-1557) ban
cho danh hiệu "xuất thế đạo trường" thêm một lần nữa
và từ đó xác định uy thế lãnh đạo tông môn của mình.
Tuy có mời những
nhà tu từ phái khác (Kangan, Gazan) đến "tấn trụ" (shinjuu)
như trên nhưng Eiheiji vẫn nằm dưới sự kiểm soát của một
phái Jakuen. Trên thực tế, cho đến thời đó, họ vẫn tiếp
tục thay nhau thừa kế và mỗi thế hệ, đều sinh ra lắm
chuyện tranh chấp lủng củng. Được biết cuốn sách mang
tên "Vĩnh Bình Khai Sơn Đạo Nguyên Thiền Sư Hành Trạng" (cuốn
sách xưa nhất chép chi tiết về thân thế và hành trạng của
Dôgen) do người trụ trì đời thứ 14 là Kenzei (Kiến Tê)
soạn ra cũng nhắm mục đích chứng minh tính chính thống của
phái Jakuen trong chùa Eiheiji.
Hoạt động của
Sôtô-shuu vì bao gồm cả những yếu tố có tính chất Mật
Giáo và tín ngưỡng địa phương, sau khi được dung nhận
bởi Keizan Jôkin (Oánh Sơn Thiệu Cẩn), nên gắn lền với
các hình thức phật sự pháp yếu. Thực tế này còn có thể
thấy qua hình thức truyện "thần nhân hóa độ" (shinjin kedo
setsuwa) còn truyền tụng ở các địa phương.Ngày nay, các
tự viện mà thiện nam tín nữ thường lui tới để khấn
nguyện, kỳ đảo phần lớn đều là những chùa Sôtô-shuu
và đấy là một lời giải thích minh bạch nhất. Ba chùa tiêu
biểu được mang danh hiệu "Động Tông Tam Kỳ Đảo Tự" (ba
chùa Tào Động để kỳ đảo) là Saijôji (Tối Thừa Tự,
Dôryôson, thành phố Minami-Ashigara, tỉnh Kangawa), Myôgonji (Diệu
Nghiêm Tự, Yoyokawa Inari, thành phố Toyokawa, tỉnh Aichi) và
Zenhôji (Thiện Bảo Tự, Ryuuô, thành phố Tsuruoka tỉnh Yamagata).
Trong các chùa này, nơi dùng để hành lễ cầu đảo (goi là
trấn thủ đường) có qui mô còn lớn hơn cả bản đường
(thế nhưng đây chỉ là chuyện xảy ra từ thời Edo về sau
lúc Sôtô-shuu hưng thịnh mà thôi). Nói chung việc coi trọng
sự cầu đảo thì cũng đều thấy ở các tự viện khác.
Pháp đường của tông Tào Động từ hồi ở Trung Quốc thường
là làm bằng đất nện đã đổi ra thành lát chiếu và đặt
các tượng Phật và bồ tát (honzon). Nguyên lai, pháp đường
là nơi mọi người đến nghe trụ trì thuyết pháp và dành
cho việc thực hành những nghi thức cầu đảo tu hành nay đã
biến thành hội trường và cùng lúc, chỗ để thực hành
các nghi thức cầu đảo.
Truyện "thần
nhân hóa độ"có nghĩa gì?
Cấu tạo của
chúng có thể tóm tắt như dưới đây:
1) Có một thiền
sư đến địa phương nào đó để truyền đạo. Một vị
thần hiện ra mách cho ông nơi linh địa để trụ trì.
2) Thiền sư cho
thần được thụ giới, làm đệ tử của mình. Mỗi đêm,
thần đều dến học thiền và chẳng bao lâu, nhận được
ấn khả, nguyện hộ trì cho mảnh đất thiêng.
3) Người trong
vùng nghe đồn kéo đến xin qui y và cùng nhau ra sức xây dựng
chùa chiền miếu mạo, hào tộc địa phương cũng trở thành
đàn việt và xin tiến cúng.
Những mẫu chuyện
dưới hình thức đó đã kể lại mối quan hệ giữa thiền
tăng Gennô Shinshô (Nguyên Ông Tâm Chiêu, 1329-1400) với thần
Sesshôseki (Sát Sinh Thạch), Ryôan Emyô (Liễu Am Huệ Minh) với
Daisen Myôjin (Đại Sơn Minh Thần), Nyôchuu Tengin (Như Trọng
Thiên Ngân) với Hakusan Gongen (Bạch Sơn Quyền Hiện) [44],
Jôan Shuzen (Định Am Thù Thiền, 1373-1432) với Sumiyoshi Myôjin
(Trú Cát Minh Thần), Gekkô Shôbun (Nguyệt Quang Chính Văn, ?-
1462) với Hikawa Myôjin (Băng Xuyên Minh Thần) vv...Bằng lối
đó, Sôtô-shu đã có thể mở rộng thế lực về các địa
phương.Như thế, lòng tin của người dân vào thần thánh thổ
địa trong vùng đã biến thành lòng tin vào Thiền như một
tín ngưỡng. Sôtô-shuu đã biết lợi dụng phong tục tín ngưỡng
địa phương để bành trướng khu vực ảnh hưởng của mình
vậy.
Thái
độ các lãnh chúa thời Sengoku (Chiến Quốc Nhật Bản) đối
với Thiền Tông
Các lãnh chúa thời
Sengoku sở dĩ nể trọng Thiền Tông cũng vì những hoạt động
tích cực của các giáo đoàn "lâm hạ". Chính ra những hoạt
động này mang lại lợi ích cho các lãnh chúa vì bảo đảm
được việc cai trị, do đó, thái độ tỏ ra ưu ái đối
với tôn giáo vừa giúp họ thống suất được đám gia thần
bộ hạ, vừa thu phục được lòng dân. Đặc biệt hơn nữa,
các thiền sư đều là những nhân vật hấp dẫn vì có trình
độ văn hóa cao. Cả những khi đối phó với chiến tranh lẫn
trong chính trị thời bình, các lãnh chúa đều có thể trông
cậy vào sự cố vấn của các thiền sư, vốn có nhiều kiến
thức từ binh pháp, Nho giáo, tư tưởng Thiền Tông cho đến
Dịch học.
Những phái tuy chỉ
nằm ở trong hệ thống "lâm hạ" nhưng được nhiều lãnh
chúa Sengoku xin đến quy y là Tettô-ha (phái Triết Ông, giáo
đoàn Daitokuji)) và Kanzan-ha (phái Quan Sơn, giáo đoàn Myôshinji)
bởi vì các phái này vốn có liên hệ mật thiết với triều
đình. Các lãnh chúa muốn qua họ mà tiếp cận với triều
đình và nâng cao uy thế của mình. Quá trình nối kết giữa
hai giáo đoàn nói trên và nhóm lãnh chúa đã giúp các tháp
đầu phát triển. Trong khi các tháp đầu Gozan dần dần suy
vi trong giai đoạn cuối đời Sengoku (giữa thế kỷ 16) bước
qua đầu thời tiền cận đại (cuối thế kỷ 16) thì ngược
lại, tháp đầu của hai chùa Daitokuji và Myôshinji lại gia
tăng con số.
Những tháp đầu
(tacchuu) này đã mở các viện mang pháp danh của những người
bảo trợ cho nó. Tính cách chùa riêng dùng vào việc an táng
cúng dường (bodaisho = bồ đề sở) cho một dòng họ trở
thành mạnh mẽ và thiền tăng coi tháp đóng một lượt hai
vai trò. Trong những tháp đầu của Daitokuji chẳng hạn, đã
có Ryuugen.in (Long Nguyên Viện) của võ tướng thời Muromachi
là Hatakeyama Yoshitaka (1557-1574), Daisen.in (Đại Tiên Viện) của
Rokkaku Masayori (thế kỷ 15-16), Sôken.in (Tổng Kiến Viện),
Tenzuiji (Thiên Thụy Tự) của Toyotomi Hideyoshi (1536-98), Sangen.in
(Tam Huyền Viện) của gia thần Hideyoshi là Ishida Mitsunari (1560-1600),
Hôshun.in (Phương Xuân Viện) của một gia thần khác là Maeda
Toshinaga (1562-1614), Kôdô.in (Cao Đồng Viện) của Hosokawa Tadaoki
(1563-1646), một võ tướng làm quan trãi 3 triều và là nhà
thơ
waka dòng dõi.
Mỗi tháp đầu
đều xây bên trong khuôn viên mình mộ địa của người bảo
trợ và cử hành phật sự pháp yếu mỗi khi có mở những
cuộc cúng dường bồ đề. Mặt khác, để đền bù lại,
người chủ trì tháp thu hằng tháng món tiền gọi là tiền
từ đường trả công các pháp sự. Họ cũng nhận một số
đất đai gọi là "tự lãnh" được tiến cúng để có ngân
quỹ giữ gìn, tu sửa tháp. Nhờ sự chi viện của những người
bảo trợ mà các tháp đầu có được một cơ sở kinh tế
vững vàng, giúp cho họ có thể hoạt động bố giáo để
nâng cao uy tín môn phái, lập được nhiều chùa nhánh (mạt
tự) trong vùng lãnh chúa cai quản và cứ như thế mà nới
rộng mãi ra. Như vậy, nhờ có vai trò hết sức quan trọng
của các tháp đầu mà các giáo đoàn mới có thể phát triển
về địa phương.
Thế nhưng đến
cuối thời Sengoku, các giáo đoàn Thiền Tông vốn lấy việc
nới rộng thế lực môn phái làm chính cũng phải thay đổi
trong cách hành động. Các lãnh chúa đã nhận ra rằng phải
thiết lập một hệ thống cai trị trong lãnh địa của mình
vượt lên trên khuôn khổ một hệ phái tôn giáo.Các giáo
đoàn đều lập ra những
furegashira (xúc đầu) tức chùa
đứng đầu có nhiệm vụ giao dịch và truyền đạt mệnh
lệnh của cơ quan cai quản tôn giáo của nhà nước đến cho
mỗi đơn vị tự viện nhỏ. Giới quyền lực đã lợi dụng
mối quan hệ giữa chùa chiền và đàn việt có từ trước
để tiện bề cai trị. Ngoài ra, hoạt động của các giáo
đoàn từ đó đã bị kiểm soát chặt chẽ hơn. Thí dụ cụ
thể là chính sách của hai lãnh chúa Takeda Shingen (vùng Kai)
và Imagawa Yoshimoto (vùng Suruga, Mikawa) lúc đó và cũng là chính
sách đối với Phật giáo sẽ được tiếp nối bởi mạc
phủ Tokugawa về sau.
Sự
suy thoái của hoạt động tham thiền. Khuynh hướng mật tham
bành trướng
Đến khoảng giữa
thời Mạc phủ Muromachi (1333-1568) thì ở những danh sát vùng
Kyôto, bắt đầu với các chùa Gozan, hoạt động tham thiền
không còn được tổ chức nữa. Hết còn có chuyện lấy thể
nghiệm khai ngộ làm bằng chứng cơ bản để truyền giao pháp
tự. Việc kế tục ở các chùa bằng pháp tự theo pháp hệ
của già lam dần dần trở thành phổ biến. Mặt khác, trong
khi các chùa lâm hạ ở địa phương hãy còn có tục lệ "biến
tham" (đi học đạo ở nhiều chùa khác nhau), việc xem ấn
khả như bằng cớ của sự phó pháp vẫn còn tồn tại nhưng
nội dung đã có nhiều thay đổi. Lối giải thích công án
chịu ảnh hưởng của những cách thức truyền giao bí quyết
như "thiết chỉ tương thừa" (kirigami sôjô) [45]
của thần đạo và ca đạo, "cổ kim truyền thụ" [46]
(kokindenjuu) của thơ waka và cách thức thần chú của
Mật giáo mà trở thành một pháp môn khẩu truyền. Phương
pháp phó pháp hay trao pháp tự bằng khẩu quyết đã trở thành
phong trào. Lối tu thiền mới này có tên là missanzen
(thiền mật tham), nội dung bí mật của nó được ghi lại
trong những tư liệu mang tên
missanroku (mật tham lục).
Thế rồi, lối tu thiền mật tham dần dần được phổ biến
và các dòng thiền lâm hạ không kể là Rinzai (Lâm Tế) hay
Sôtô (Tào Động) đều trở thành thiền mật tham. Rốt cuộc,
phái Gozan cũn theo con đường đó. Tông Sôtô trở thành mật
tham kể từ thời Kaian Myôkei (Khoái Am Diệu Khánh, 1422-93)
đến khai sơn chùa Daichuuji (Đại Trung Tự) ở tỉnh Tochigi,
sau đó thì khuynh hướng này mới lan rộng ra.
Nhờ có phong trào
thiền mật tham mà một giáo đoàn trong hệ thống lâm hạ
là phái Genjuu (Huyễn Trú) mới có cơ hội hoạt động. Ngày
trước phái này xuất phát từ Trung Phong Minh Bản (hiệu Huyễn
Trú Am, 1263-1323), thiền sư đời Nguyên. Pháp ấy được truyền
đến vị tổ Nhật Bản của phái là Enkei Soô (Viễn Khê Tổ
Hùng, 1286-1344) ở chùa Kôgenji (Cao Nguyên Tự) trong xứ Tanba
(nay là vùng Kobe, tỉnh Hyôgo) nhưng nếu Genjuu có thể trở
thành một tông phái hẳn hoi là nhờ công lao của Ikke Sekiyuu
(Nhất Hoa Thạc Do, 1447-1507) thời Sengoku. Thời ấy, tuy họ
không có một ngôi chùa để làm cơ sở để thành lập giáo
đoàn nhưng nếu họ dựa được trên pháp hệ của già lam [47]
các phái khác thì cũng khó lòng phủ nhận sự tồn tại của
họ. Hơn nữa, họ có những hoạt động bố giáo và trao ấn
khả, hòa nhập được vào trong hoạt động Thiền Tông của
khác tông phái khác. Chỉ cần những phương pháp như vậy,
phái Genjuu cũng bành trướng được thế lực. Lần hồi, người
của họ đã trở thành trụ trì của các danh sát như Nanzenji
hay Kenninji, xâm lấn cả địa hạt của Gozan. Do đó, ta không
thể phủ nhận một điều là qua các hoạt động của mình,
phái Genjuu đã thúc đẩy khuynh hướng thiền mật tham và cũng
không thể nào quên rằng trong việc hình thành tông Rinzai (Lâm
Tế Nhật Bản) ngày nay, phái ấy đã đóng một vai trò cực
kỳ to tát.
Điều phải đề
cập đến trước tiên là phái Genjuu đã giúp giải tỏa các
sự đối lập về môn phái trong nhóm Gozan. Ở các chùa thuộc
nhóm Gozan, nhiều môn phái đã dùng những tháp đầu làm điểm
tựa và hoạt động theo ý mình. Thế nhưng dù là người thuộc
các môn phái khác nhau, họ đều có một liên hệ chung theo
hàng ngang với pháp hệ của phái Genjuu. Chính vì vậy họ
đã có những dịp hành động chung không với danh nghĩa một
môn phái nhưng với danh nghĩa một tự viện. Chẳng hạn việc
khai sơn một tự viện là một điều đáng tôn trọng, vượt
khỏi khuôn khổ một tông phái. Khuynh hướng này sẽ được
đẩy mạnh hơn dưới thời Edo nhờ ở chế độ gọi là honmatsu
hay "gốc và ngọn" (bản mạt chế độ) [48]
và là cơ sở sửa soạn cho việc tổ chức các giáo đoàn
như ngày nay.
Một điều khác
cũng không kém phần trọng yếu là trong nhóm chùa Gozan, bên
cạnh việc nhận pháp tự theo pháp hệ già lam của mình còn
có việc nhận ấn chứng để tự pháp theo cách của phái
Genjuu nữa cho nên đã nẩy sinh ra việc một pháp hệ có hai
cách tự pháp. Nếu tính từ thời tiền cận đại trở đi,
đã có trường hợp người tự pháp bằng ấn chứng như Kogetsu
Zenzai (Cô Nguyệt Thiền Tài, 1667-1751) và tự pháp theo pháp
hệ như Hakuin Ekaku (Bạch Ẩn Huệ Hạc, 1685-1768) đánh đổi
vị trí với nhau. Cách thức này vẫn còn được kế tục
cho đến ngày nay.
Mật Tham Lục
(Missanroku)
Missanroku là tên
gọi một nhóm các tư liệu (lục) ghi chép hình thái của thiền
mật tham (missanzen). Sôtô-shuu dùng chữ "môn tham" (monsan) thay
cho mật tham.Đây là những điều ghi chép về cuộc đối đáp
liên quan đến một công án.Đặc biệt kể từ thế kỷ thứ
15 trở đi, chúng được truyền thụ một cách bí mật trong
vòng các thiền tăng. Loại tư liệu này thường được viết
theo văn nói, bằng hệ thống chữ kana biểu âm của người
Nhật và có thể xem như một thứ "sao vật"(shômono) nghĩa
là sách chú thích. Sách còn được truyền lại nhiều nhất
là các cuốn do dòng Rinzai của chùa Daitokuji soạn và các cuốn
do người thuộc hệ phái của Ryôan Emyô (Liễu Am Huệ Minh)
phái Tsuugen (Thông Huyễn) tông Sôtô (gọi là phái Ryôan) soạn
ra.Ban đầu chúng chỉ được chú ý như những tư liệu văn
học nhưng sau đó, các nhà nghiên cứu về tư tưởng Thiền
Tông tin cậy chúng và dùng vào việc trám những lỗ trống
vì thiếu tư liệu. Nội dung của chúng thường phản ánh nét
đặc sắc của các môn phái được truyền thừa và hình như
chúng còn được coi như vật làm tin chính thức trong việc
truyền pháp nữa.
Ngoài ra, tuy không
liên quan gì đến những điều vừa kể, người ta nhận ra
rằng Sôtô-shuu, thường dùng giáo nghĩa bí mật (Mật giáo)
và ca đạo để truyền thụ bí mật . Đồng thời họ cũng
sử dụng rất nhiều thiết chỉ (kirigami)tức là các chứng
chỉ. Đến đời Edo thì tất cả đều truyền gộp lại làm
một và người ta có khi biên tập chúng thành tập sách.
Hệ
Phổ Thiền Nhật Bản (2)[49]
a- Chi lưu Nanpo
Jômin (Nam Phố Thiệu Minh, tăng Nhật du học Trung Quốc):
1 Tettô Gikô
(Triệt Ông Nghĩa Hưởng) -> 2 (Ngôn Ngoại Tông Trung) -> 3 Kesô
Sôdon (Hoa Tẩu Tông Đàm) -> 4 Yôsô Sôi
(Dưỡng Tẩu
Tông Di) -> 5 (Xuân Phố Tông Hi -> 6 (Thực Truyền Tông Chân)
-> 7 (Đông Khê Tông Mục) -> 8 (Duyệt Khê Tông Ngộ) -> .....(Ngọc
Trọng Tông Tú). Đồng 4 Ikkyuu Sôjun (Nhất Hưu Tông Thuần).
Đồng 7 Kogaku Sôkô (Cổ Nhạc Tông Cắng) -> 8 (Truyền Am Tông
Khí) -> 9 (Đại Lâm Tông Sáo) -> 10 (Tiếu Lãnh Tông Hân) ->
11 (Nhất Đông Thiệu Trích) -> Takuan Sôbô (Trạch Am Tông
Bành). Đồng 11 (Xuân Ốc Tông Viên) -> 12 (Ngọc Thất Tông
Phách) -> 13 (Chính Ẩn Tông Tri). Đồng 13 (Chính Nguyệt Tông
Ngoạn). Đồng 11 (Cổ Khê Tông Trần) ... (Đại Tâm Nghĩa Thống).
Đồng 1 Kanzan
Egen (Quan Sơn Huệ Huyền) ->2 (Thụ Ông Tông Bật) -> 3 (Vô
Nhân Tông Nhân) -> 4 (Nhật Phong Tông Thuấn) -> 5 (Nghĩa Thiên
Huyền Thừa) -> 6 Sekkô Sôshin (Tuyết Giang Tông Thâm)
-> 7 (Cảnh Xuyên Tông Long) -> 8 (Cảnh Đường Huyền Nạp)...(Mặc
Thủy Long Khí) -> Vạn Nguyên Sư Man. Đồng 7 (Đặc Phương
Thiền Kiệt) -> 8 (Đại Hưu Tông Hưu) -> 9 (Thái Nguyên Sùng
Phu) ->...Setsugan Dôen (Tiết Nham Đạo Viên). Đồng 9 (Quy
Niên Thiền Du) -> 10 (Trực Chỉ Tông Ngạc) -> ...(Đông Nguyên
Huệ Đẳng). Đồng 10 (Tuyết Phong Thiền Hội) ->...(Trúc Ấn
Tổ Môn) -> (Vô Trứ Đạo Trung). Đồng 7 Tôyô Eichô
(Đông Dương Anh Triều) ->...(Đông Tiệm Tông Chấn) -> (Dung
Sơn Cảnh Dung) -> Guudô Tôjitsu (Ngu Đường Đông Thực).
Đồng hạng với Cảnh Dung là (Nam Cảnh Tông Nham) -> ...Bankei
Eitaku (Bàn Khuê Vĩnh Trác). Đồng 7 (Ngộ Khê Tông Đốn)
-> 8 (Độc Tú Càn Tài) -> 9 (Nhân Do Tông Thọ) -> 10 (Khoái Xuyên
Thiệu Hỷ) -> 11 (Trạng Nguyên Tổ Quang) ->12 (Trí Môn Huyền
Tộ) -> 13 (Đại Ngu Tông Trúc). Đồng 11 (Bách Đường Cảnh
Sâm) -> 12 (Hư Am Huệ Hồng) -> 13 (Nhất Trụ Đông Mặc) ->
(Vân Cư Hy Ưng).
b- Chi lưu Nhất
Sơn Nhất Ninh (Issan Ichi.nei, tăng Trung Quốc sang Nhật):
1- Taisei Sôi
(Thái Thanh Tông Vị) -> 2 (Thái Bạch Chân Huyền). Đồng 2 (Thái
Truyện Hữu Thừa). Đồng 2 (Thúc Anh Tông Bá) -> 3 (Đại Khuê
Tông Giới) -> Banri Shuukyuu (Vạn Lý Tập Cửu). Đồng
3 (Quý Quỳnh Chân Nhụy) -> 4 (Quy Tuyền Tập Chứng) -> (Nhân
Như Tập Nghiêu).
c- Chi lưu Vô
Học Tổ Nguyên (Mugaku Sogen, tăng Trung Quốc sang Nhật):
1- Musô Soseki
(Mộng
Song Sơ Thạch) -> 2 (Vô Cực Chí Huyền) -> 3 (Không Cốc Minh
Ứng) -> 4 (Thúc Phố Tu) -> 5 (Văn Uyển Thừa Anh) -> 6 (Trung
Hoa Thừa Thuấn) -> 7 (Tây Tiếu Thừa Duyệt). Đồng 4 (Đàm
Trọng Đạo Phương) -> 5 (Hoành Xuyên Cảnh Tam), đồng 5 (Trọng
Phương Trung Chính).
Đồng 2 Shunnoku
Myôha (Xuân Ốc Diệu Ba) -> 3 (Nham Trung Chu Ngạc), đồng
3 (Ngọc Uyển Phạn Phương). Đồng 3 (Viên Giám Phạn Tương)
-> 4 (Xuân Lâm Chu Đằng) -> 5 Sesshuu Tôyô (Tuyết Chu Đẳng
Dương).
Đồng 2 (Thanh Sơn
Từ Vĩnh). Đồng 2 (Long Tưu Chu Trạch) ->3 (Tại Trung Trung Yêm)
-> 4 (Dụng Đường Trung Tài) -> 5 (Cảnh Từ Chu Lân).
Đồng 2 (Mặc Ông
Diệu Giới) ->3 (Đại Nhạc Chu Sùng) ->4 (Trúc Vân Đẳng Liên)
-> 5 (Tâm Ông Đẳng An) -> 6 (Sách Ngạn Chu Lương). Đồng 2
Đức Tẩu Chu Tá.
Đồng 2 Zekkai
Chuushin (Tuyệt Hải Trung Tân) -> 3 (Minh Viễn Tuấn Triết
) -> 4 (Đào Nguyên Thụy Tiên).
Đồng 2 Gidô
Shuushin (Nghĩa Đường Chu Tín). Đồng 2 (Đàm Phương Chu
Ứng). Đồng 2 (Vô Cầu Chu Trọng) -> 3 (Thụy Khê Chu Phượng).
Đồng 2 (Phương Ngoại Hoằng Viễn).
d- Chi lưu Enkei
Soô (Viễn Khê Tổ Hùng, tăng Nhật du học Trung Quốc):
1-Ikke Sekiyuu
(Nhất Hoa Thạc Do) -> 2 (Hồ Tâm Thạc Đỉnh) -> 3 (Tiêu Nham
Đỉnh Hổ) -> 4 (Tế Âm Huyền Quang). Đồng 3 (Di Trọng Thạc
Dưỡng) -> 4 (Tông Bá Thạc Hưng) -> 5 (Thiên Phủ Thạc Viên)
-> 6 (Tổ Giản Xương Khâm), đồng 6 (Sơn Thúc Xương Tú), đồng
6 Quan Thúc Thạc Tam, đồng 6 (Tụ Vân Huyền Đoan).
e- Chi lưu Eihei
Dôgen (Vĩnh Bình Đạo Nguyên, tăng Nhật du học Trung Quốc)
1-Myôhô Sotetsu
(Minh Phong Tố Triết) -> 2 (Kỳ Đà Đại Trí) (kế nghiệp tổ).
Đồng 2 (Chu Nham
Đạo Trân) -> 3 (Triệt Sơn Chỉ Quách) -> .....Hakuun Genteki
(Bạch Vân Huyền Trích) -> (Nguyệt Chu Tông Hồ) -> (Đức Ông
Lương Cao) và ((Vạn Sơn Đạo Bạch). Từ cửa Đạo Bạch
...(Mục Sơn Cẩn Anh) (Tây Hữu) -> Miên Phương Duy An (Ngạn
Trạch).
Đồng 2 (Tùng Ngạn
Chỉ Uyên), đồng 2 (Huyền Lộ Thống Huyền), đồng 2 (Nguyệt
Am Quang Anh), đồng 2 (Nghiêu Nhân).
1-Gazan Jôseki
(Nga Sơn Thiều Thạc) ->2 (Mai Sơn Văn Bản) ->3 (Thái Nguyên
Tông Chân) ->4 (Kiệt Đường Năng Thắng) ->5 (Nam Anh Khiêm Tông)
->...(Diên Sơn Thụy Phương) .Đồng 3 (Thái Sơ Kế Giác). Đồng
3 (Như Trọng Thiên Am) (?) ->4 (Thiên Quế Truyền Tôn) -> (Tượng
Sơn Vấn Hậu) và (Trực Chỉ Huyền Đoan). Tượng Sơn truyền
xuống (Huyền Lâu Áo Long) -> (Phong Ngoại Bản Cao). Trực Chỉ
truyền xuống (Si Cực Đại Khiêm) và (Vô Quách Thiết Văn).
Si Cực lại truyền xuống đến...(Đại Trung Kinh Xán) -> (Giác
Tiên Đàn Sơn) (Hara). Vô Quách truyền cho (Phụ Ấu Lão Noãn).
Đồng 3 (Liễu Đường
Chân Giác) -> 4 (Trúc Song Trí Nham). Đồng 4 (Thái Dung Phạm
Thanh).
Đồng 2 (Thực Phong
Lương Tú), đồng 2 (Vô Đoan Tổ Hoàng), đồng 2 (Nguyệt Tuyền
Lương Ấn), đồng 2 (Nguyên Ông Tâm Chiêu), đồng 2 (Đại
Triệt Tông Lệnh).
Đồng 2 (Thông Huyễn
Tịch Linh) -> 3 (Liễu Am Huệ Minh) -> 4 (Vô Cực Huệ Triệt)
-> 5 (Nguyệt Giang Chính Văn) -> 6 (Hoa Tẩu Chính Ngạc) -> 7 (Tuyệt
Phong Tổ Điều). Đồng 7 (Khoái Am Diệu Khánh), đồng 7 (Đại
Lâm Chính Thông) ->...(Mục Anh Thạch Thiền) (Arai). Đồng 6
(Nhất Châu Chính Y), đồng 6 (Thiên Am Huyền Bành) ->...(Lĩnh
Nam Tú Nhữ). Đồng 4 (Vô Cương Minh Tông) -> 5 (Ngô Bảo Tông
Xán), đồng 5 (Xuân Ốc Tông Năng) ->......(Phật Sơn Khoái Thiên).
Đồng 3 (Thạch Ốc Chân Lương) ->4 (Trúc Cư Chính Du), đồng
4 (Giác Ẩn Vĩnh Bản), đồng 4 (Định Am Thù Thiền), đồng
3 (Thiên Chân Tự Tính) -> 4 (Cơ Đường Trường Ứng) -> 5 (Tuyết
Song Nhất Thuần) -> ...(Chỉ Nguyệt Huệ Ấn) -> (Hạt Đường
Bản Quang).
Đồng 2 (Vô Ngoại
Viên Chiêu) ->3 (Vô Trứ Diệu Dung) -> 4 (Ngọc Ông Dung Lâm)
-> ...(Nguyệt Chu Tông Lâm) -> (Độc Am Huyền Quang) -> (Nghịch
Lưu Trinh Thuận) -> (Đam (Trạm) Nguyên Tự Trừng).
Địa Lý Thiền
Nhật Bản (2):
Trong thời kỳ (Sengoku)
này, các chùa Thiền vẫn tập trung ở đảo Honshuu. Vùng Đông
Bắc Honshuu, đảo Shikoku và Kyuushuu hãy còn thưa thớt.
Miền đông đảo
Honshuu:
Phía biển Nhật
Bản: Quốc Thái Tự, Tổng Trì Tự, Vĩnh Quang Tự, Đại Thừa
Tự, Vĩnh Bình Tự. Vùng nội địa: Túc Lợi (Ashikaga) Học
Hiệu, Tuyền Long Tự, Trường Lạc Tự (trong thập sát), Vĩnh
Nguyên Tự, Vĩnh Bảo Tự, THụy Tuyền Tự. Phía biển đông:
Pháp Vân Tự, Kim Trạch (Kanazawa) Văn Khố, Ngũ Sơn Kamakura
(Kiến Trường Tự, Viên Giác Tự, Thọ Phúc Tự, Tịnh Trí
Tự, Tịnh Diệu Tự), thập sát Kamakura (Thiền Hưng Tự, Đông
Thắng Tự, Vạn Thọ Tự), Thanh Kiến Tự (trong thập sát),
Phương Quảng Tự.
Miền tây đảo
Honshuu:
Vùng Kyôto: Ngũ
Sơn chi thượng: Nam Thiền Tự, Kyôto ngũ sơn (Thiên Long Tự,
Tướng Quốc Tự, Kiến Nhân Tự, Đông Phúc Tự, Vạn Thọ
Tự), Kyôto thập sát (Đẳng Trì Tự, Chân Như Tự, An Quốc
Tự), Kyôto chuẩn thập sát (Lâm Xuyên Tự, Muusô Soseki = Mộng
Song Sơ Thạch trụ trì, nơi phát hành các văn bản Gozan), (Tây
Phương Tự (Muusô cũng từng trụ trì), Kyôto lâm hạ (Đại
Đức Tự, Diệu Tâm Tự, Long An Tự (Genshô =Huyền Chiếu trụ
trì). Ngoài ra, còn có Cao Nguyên Tự, Phật Thông Tự, Bổ Nham
Tự (Chigan = Trí Nham trụ trì)
Miền bắc đảo
Kyuushuu:
Vùng Dazaifu: Thánh
Phúc Tự (trong thập sát), Thừa Thiên Tự, Sùng Phúc Tự. Ngoài
ra còn có Vạn Thọ Tự (trong thập sát).
Takuan
Sôhô (Trạch Am Tông Bành, 1573-1645),
kiếm
khách và thầy của đế vương.
-------------------
[1]
- Shôgun sáng nghiệp mạc phủ Muromachi (địa danh một khu vực
triong kinh đô Heian). Nguyên ông tên là Túc Lợi Cao Thị,
được thiên hoàng ban cho chữ
Tôn (cả hai chữ đều
có âm là Taka). Lúc đầu ủng hộ cuộc vương chính trung hưng
đời Kemmu, sau đổi thái độ, lập thiên hoàng Kômyô (Quang
Minh) của Bắc Triều. Được phong Chinh Di Đại Tướng Quân,
gọi tắt là Tướng Quân (Shôgun).
[2]
- Lợi sinh, trong ngôn ngữ nhà Phật, có nghĩa là làm lợi
cho chúng sinh, làm cho chúng sinh hạnh phúc.
[3]
- Ankokuji (An Quốc Tự) vốn là tên một tự viện tông Nichiren
(Nhật Liên) dựng lên vào thời mạc phủ Kamakura trên khu đất
cũ nơi tăng Nichiren (1222-82) giảng "rishô ankoku ron" (lập chính
an quốc luận) về đạo trị nước. Tư tưởng của Nichiren
sau sẽ đúc kết thành một văn bản cùng tên gửi cho shikken
Tokiyori họ Hôjô vào năm 1260. Việc đó làm ông bị nhà nước
lưu đày.
[4]
- Thiên hoàng Go-Daigo được họ Ashikaga trước ủng hộ sau
phản bội, phải lui vào rừng núi Yoshino lập chính quyền
Nam Triều và chết đi trong uất hận. Do đó, việc xây Tenryuuji
có mục đích an ủi vong linh thiên hoàng nhưng cũng để hòa
giải hai triều đình Nam Bắc và thống nhất dân tộc.
[5]
- Saihôji (Tây Phương Tự) nhưng "phương" ở đây viết với
thảo đầu, có nghĩa là hương thơm.Nguyên tên Saihôji là Tây
Phương Tự mà "phương" là phương hướng, đã được xây
từ năm Tenpyô (729-749) đời tăng Gyôki (Hành Cơ, 668-749). Nơi
đây, đến đời Muusô, ông đã cho dựng vườn cảnh nhiều
hoa cỏ, rêu phong nên còn có tên là Kokedera (Đài Tự) hay chùa
rêu.
[6]
- Tháp đầu hay Tatchuu nếu đọc theo âm đặc biệt của đời
Đường. Từ ngữ Phật giáo này được dùng để chỉ ngôi
chùa nhỏ nằm trong khuôn viên một ngôi chùa lớn. Nó còn
dùng để gọi nơi trú ngụ của các tăng sĩ (tăng phường)
bên cạnh cái tháp chôn di hài thầy họ nằm trong khu vực
chùa để tưởng nhớ ông ta, người thường là một cao tăng
từng đứng ra lãnh đạo chùa.
[7]
- Nếu ở Âu Châu trung cổ có nghĩa là thời kỳ từ thế
kỷ thứ 4 (khi tộc German di chuyển địa bàn hoạt động)
đến cuối thế kỷ 15 (kết thúc cuộc chiến tranh trên 100
năm giữa Anh và Pháp) thì theo quan niệm Nhật Bản, trung cổ
là giai đoạn cuối thế kỷ 12 (Mạc phủ Kamakura thành hình)
đến cuối thế kỷ 16 (Mạc phủ Muromachi diệt vong)
[8]
- Phương = kata, ở đây có nghĩa là "sở", "nhóm".
[9]
- Tăng lục (Sôroku): chức sắc quản hạt các chùa thiền từ
ngũ sơn, thập sát đến chư sơn. Người đầu tiên được
bổ vào chức ấy là Shunnoku Myôha, về sau dành cho các viện
chủ kế tiếp của Lộc Uyển Viện (Rokuon.in) chùa Tướng
Quốc (Shôkokuji) vì đây là đạo tràng tu thiền của Shôgun
Yoshimitsu.. Từ năm 1619 trở đi thì chức đó vào tay các viện
chủ của Kim Địa Viện (Konchiin) chùa Nam Thiền Tự (Nanzenji).
[10]
- Công phương = kubô, xưa để chỉ thiên hoàng, triều đình
hay mạc phủ. Đến đời Edo nó được dùng để nói về Shôgun.
[11]
- Lâm hạ = ringe. Tiếng chỉ chung thiền môn. Còn có nghĩa
là các chùa lớn nhưng ở địa phương chứ không thuộc vùng
Kyôto hay Kamakura.
[12]
- Một bằng chứng "phép vua thua lệ làng". Nếu theo chế độ
nhà nước mà mời người thập phương đến trụ trì thì
đường lối của nhà chùa sẽ mất cá tính và tùy thuộc
vào chính quyền nhiều hơn.
[13]
- Shoin-zukuri (thư viện tạo) là một hình thức thuần túy
kiến trúc Nhật Bản được phổ biến khắp nước từ đời
Muromachi cho đến đầu thời Edo và còn ảnh hưởng cho đến
ngày nay. Đặc biệt của nó là gian tiếp khách phải độc
lập và trang trọng, chỗ ngồi chính được đặt cao, cột
vuông vức, có sàn, giá để sách, lát chiếu dày. Giữa các
cột đặt cửa kéo bằng giấy thật mỏng cho sáng sủa, bên
ngoài có liếp che mưa...
[14]
- Trong tiếng Nhật, chữ kara tùy theo ngữ cảnh, có thể biểu
hiện bằng nhiều chữ Hán khác nhau. Ví dụ Hàn, Đường hay
Hán. Xưa karamono dùng để diễn tả những hàng hóa đến từ
nước ngoài.
[15]
- Đốn Trí Đốt: Đốn Trí hay Đốn Tri là làm theo hứng,
hành động theo cơ duyên. Đốt: chuyện đáng kinh ngạc.
[16]
- Renga (liên ca): hình thức thơ liên ngâm, do nhiều người
đọc nối với nhau mà thành. Đã trở thành một trò tiêu
khiển vào thời trung cổ và có những nhà thơ chuyên nghiệp,
mưu sinh được với nghề ấy.
[17]
- Quân: cật tre già. Có thể đọc là chiku (trúc).
[18]
- Trong nguyên văn chính ra viết là kairô (hồi lang) tức hành
lang chạy vòng chung quanh hiên chùa hay bao vây trung đình, nối
các ngôi đền lại với nhau.
[19]
- Xem thêm về lý thuyết này trong Lịch Sử Thiền Tông Trung
Quốc, phần nói về "ngũ vị".
[20]
- Cuộc phản loạn của tướng Ôuchi Yoshihiro (Đại Nội, Nghĩa
Hoằng, 1356-1399), một công thần, cử binh chống lại mạc
phủ ở vùng Sakai nhưng chóng bị tiêu diệt.
[21]
- Thời Muromachi, chức này (kanrei = quản lĩnh) tương đương
với chức shikken đời Kamakura, là người phụ tá shôgun về
chính vụ.
[22]
- Âu = 漚
bọt nước
[23]
- Hồ lô: bầu nậm.
[24]
- Xin đón xem Hán Thi Thiền Tăng Nhật Bản, một biên dịch
khác của Nguyễn Nam Trân.
[25]
- Khi chết đi, Sugawara no Michizane được thờ ở đền Kitano
Tenmanguu (Bắc Dã Thiên Mãn Cung) ở Kyôto như một bồ
tát hóa thân nên
Bắc Dã
Thần Quân là nói về ông vậy.
[26]
- "Chử" nghĩa cây dó dùng làm giấy. "Khắc chử" ý nói một
cách bóng bẩy sự viết lách.
[27]
- Cũng cần biết thêm là họ Tsushima và phiên Satsuma đã đóng
một vai trò tích cực trong chính trường trước thời Minh
Trị Duy Tân.
[28]
- Đỉnh tướng (Chinsô): Chin là cách đọc đặc biệt theo
âm đời Đường. Chữ dùng để chỉ loại tranh truyền thần
vẽ các đại sư Thiền, kèm thêm bài tán của các vị ấy,
thường do thầy ban cho học trò như bằng chứng của sự truyền
thừa pháp tự.
[29]
- Hội họa như một tài nghệ thứ yếu của khách văn nhân,
không chú trọng về kỹ xảo nhưng về cá tính và sự phong
nhã. Tuy đã có mặt từ xưa ở Trung Quốc nhưng chỉ hoàn
thành vào thời Minh mạt với họa phái chú trọng về tranh
sơn thủy gọi là Nam Tông của nhóm Đổng Kỳ Xương.
[30]
- Họa phái Kanô (Kanô-ha) bắt đầu với Kanô Masanobu. Họ
nổi tiếng suốt giai đoạn Muromachi hậu kỳ cho đến suốt
thời Edo. Họa phong được giai cấp quân nhân đặc biệt tán
thưởng.
[31]
- Mặc tích (bokuseki): dấu vết mực viết bằng bút lông trên
giấy hay vải. Còn gọi là thư tích hay bút tích nhưng mặc
tích là chữ dùng chính xác hơn cả để chỉ "nét chữ của
thiền tăng".
[32]
- Văn hóa Kitayama là văn hóa thời Muromachi sơ kỳ, khi các
shôgun Yoshimitsu và Yoshimochi tại chức. Yoshimitsu có biệt thự
trên Kitayama, một dãy núi phía bắc Kyôto.
[33]
- Tôcha (đấu trà): tranh đua với nhau xem ai biết phân biệt
hương vị và phẩm chất của trà (trà thật trà giả, trà
ngon trà dở) một cách chính xác.
[34]
- Nghĩa là "những lời Kôun để lại", một tập bình luận
về thơ. Kôun (Canh Vân) là biệt hiệu của Kazan-in Nagachika,
một nhà quí tộc, học giả và thi nhân thời Nam Bắc Triều,
sau khi ông xuất gia.
[35]
- Kyôka (Cuồng ca): một loại thơ waka hài hước và hạ cấp,
bắt nguồn từ dòng thơ trào lộng đời xưa và thịnh hành
từ thời Kamakura, Muromachi cho đến thời Edo trung kỳ.
[36]
- Ichijô Kanera là một nhà quí tộc cuối đời Muromachi, làm
quan cực phẩm, bác học đa tài, tinh thông cổ điển Nho, Phật
lại giỏi về Waka.
[37]
- Bản Đông chỉ chung các tiểu quốc miền đông.
[38]
- Có hai cách đọc: rinka và ringe. Ringe đặc
biệt là lối đọc Phật giáo.
[39]
- Chữ daimyô được dùng từ cuối đời Heian để chỉ
những ai (myôshu) = danh chủ) có quyền nhận một diện tích
đất đai nhà nước (công điền) có qui mô lớn (myôden =danh
điền) để khai khẩn và đóng thuế. Sau đó nó biến đổi
qua các thời để cuối cùng mang ý nghĩa lãnh chúa, chư hầu
cho Shôgun, trong một thể chế phong kiến "quân sự chỉ
huy".
[40]
- Đại học Ryuukoku (Ryuukoku Daigaku) là một tư thục vùng Kyôto,
thuộc hệ phái Tịnh Độ Chân Tông chùa Honganji, trở thành
đại học dưới thời Meiji (1888).
[41]
- Wabicha là một hình thức uống trà, lưu hành ở Nhật dưới
thời Momoyama (hậu bán thế kỷ 16, lúc đại thần Toyotomi
Hideyoshi cai trị). Tên Wabicha được gọi để phân biệt với
Shoincha (thư viện trà) của thời kỳ văn hóa gọi là Higashiyama.
(bắt đầu từ 1483, cuối thế kỷ 15, lúc Shôgun Ashikaga Yoshimasa
lập sơn trang trên núi cùng tên. Sơn trang ấy nay là Ginkakuji.
[42]
- Xin xem hệ phổ (2). Sôshin (Tông Thâm) là đồ tôn 5 đời
của Kanzan Egen (Quan Sơn Huệ Huyền).
[43]
- Chùa thiền ở địa vị cao, người trụ trì được gọi
là hòa thượng và được ban hoàng y, tử y. Xuất thế có
một nghĩa là "có danh với đời" hay "nở mày nở mặt".
[44]
- Myôjin (minh thần) và Gongen (quyền hiện) là các thứ bậc
của thần linh trong Thần Đạo.
[45]
- Thiết chỉ (kirigami) là "giấy cắt ra". Nói chung là hình
thức chứng minh thư có mục lục cho biết người theo học
đã học xong một bí quyết gì.
[46]
- Lời giải thích về những câu thơ trong Kokin Wakashuu (Cổ
Kim Hòa Ca Tập), một tập thơ cổ điển, mà thầy chỉ hé
lộ riêng cho học trò ruột có căn cơ.
[47]
- Già lam chỉ nơi thanh tĩnh để tu hành, sau dùng để nói
về các tu viện Phật giáo.
[48]
- Bản sơn (bản tự) và mạt sơn (mạt tự).
[49]
- Với mục đích giản dị hóa lối đọc, chỉ phụ chú âm
Nhật cho tên các thiền sư quan trọng, kỳ dư để theo âm
Hán Việt trong ngoặc kép để cho biết không phải là người
Trung Quốc.
|