LỊCH SỬ THIỀN TÔNG NHẬT BẢN
Biên dịch: Nguyễn Nam Trân
Chương
4 : Phát triển của Thiền thời tiền cận đại (thời
Edo)
|
Tiết
1- Thiền vào giai đoạn Nhật Bản thống nhất
(từ
thời Momoyama bước qua thời Edo)
|
Từ
thống nhất xứ sở cho đến an định nội tình
Thời Sengoku kéo
dài trên một thế kỷ (1467-1568). Vị lãnh chúa gồm thu được
địa phương Owari (phía tây Nagoya bây giờ) là Oda Nobunaga (Chức
Điền, Tín Trường, 1534-82) sau khi phá quân của kình địch
là Imagawa Yoshimoto (1519-1560) trong trận Okehazama (1560) đã nhập
kinh vào năm 1568, đặt được Ashikaga Yoshiaki (1537-1597) vào
chức vụ shôgun và thành công trong việc đổi chác quyền
lực với triều đình. Oda lại đánh bại hai lãnh chúa khác,
Asai Nagamasa (1545-1573) và Asakura Ashikage (1533-73), qua năm sau,
phóng hỏa đốt chùa Enryakuji trên Hieizan, rồi lại đuổi
Ashikaga Yoshiaki khỏi chức vụ (1573), dứt nghiệp Mạc phủ
Muromachi. Năm 1575, đánh bại con của Takeda Shingen là Katsuyori
trong trận Nagashino. Thế rồi, đến năm 1580 lại bình định
được loạn Ikkô Ikki của tín đồ phái Tịnh Độ Chân Tông
(chùa Ishiyama Honganji) nổi lên chống lại chế độ quản lãnh
của các lãnh chúa. Tuy nhiên, chính Oda Nobunaga, người mở
màn cho công cuộc thống nhất Nhật Bản đã bị cận thần
của mình là Akechi Mitsuhide mưu phản và tập kích, đến nổi
phải bỏ mình ở Honnôji, một ngôi chùa trong nội thành Kyôto.
Người tiếp tục
sự nghiệp của Oda Nobunaga và thành tựu trong việc thống
nhất đất nước là Toyotomi Hideyoshi (Phong Thần Tú Cát, 1537?-1598).
Năm 1585, triều đình phong Hideyoshi chức kampaku, đại
thần có quyền nghe thay vua mọi việc tâu bẩm. Ông ban mệnh
lệnh
sôbujirei (tổng vô sự) tức lệnh đình chiến
trên toàn quốc, đặt mọi cuộc tranh chấp dưới sự xử
lý của chính quyền mình. Điều này có nghĩa là ông mượn
danh nghĩa lệnh ấy đem binh bình định các lãnh chúa ở các
vùng Ôu, Shikoku và Kyuushuu còn chưa chịu phục tùng. Thêm vào
đó là các lệnh
kenchi (kiểm địa) để nắm tình hình
sản xuất nông sản và katanagari (đao thú) nhằm ruồng
bắt võ khí còn cất giấu,
hitobarai (nhân tảo) để
bắt mọi người thuộc giai cấp nào phải giữ vị trí đó,
chế độ phân chia giai cấp (mibun) như thế đã được thành
lập. Hideyoshi lại nuôi chí chinh phục bán đảo Triều Tiên
nên đã hai lần xuất binh xâm lấn (chiến dịch năm Bunroku
1592 và chiến dịch năm Keichô 1596).
Oda Nobunaga đối
xử nghiệt ngã đối với Phật Giáo. Ông đã từng đốt rụi
chùa Enryakuji trên Hieizan (1571) để phô trương uy thế và công
phá chùa Honganji, dẹp loạn tín đồ Tịnh Độ Chân Tông.
Thế nhưng lúc đó với đạo Ki-Tô, ông hãy còn tỏ ra rộng
rải. Chẳng bao lâu sau, Toyotomi Hideyoshi, người kế vị ông,
đã ban hành bateran tsuihôrei tức lệnh đuổi giáo sĩ
(bateran) (1587) rồi đến năm 1596 thì nghiêm khắc hơn, xử
hình 26 giáo sĩ và tín đồ.
Năm 1598, khi Hideyoshi
chết thì địa vị của Tokugawa Ieyasu (Đức Xuyên Gia Khang),
người lãnh đạo thế lực miền đông, càng lúc càng mạnh.
Các tướng như Ishida Mitsunari (1560-1600) tôn Môri Terumoto (1553-1625)
làm minh chủ các đạo quân miền tây để đối chọi lại
nhưng thảm bại trong trận quyết chiến ở cánh đồng Sekigahara
(1600). Năm 1603, Ieyasu lãnh chức Chinh Di Đại Tướng Quân tức
shôgun
(tại chức 1603-05) và khai sáng mạc phủ Tokugawa ở Edo tức
Tôkyô bây giờ.
Năm 1615, mượn
cớ bài minh khắc trên chuông chùa Hôkôji (Phương Quảng Tự)
có ý nguyền rủa mình [1]
, Ieyasu mở lại cuộc tấn công mùa đông và mùa hạ vào căn
cứ nhà Toyotomi là thành Ôsaka và dứt tuyệt dòng họ ấy.
Sau đó, Ieyasu cùng con là là shôgun đời thứ hai Tokugawa
Hidetada (tại chức 1605-1623) củng cố cơ sở của mạc phủ
bằng cách đặt ra nhiều chế độ và luật lệ cũng như phân
bố, thay đổi đất phong (kaieki = cải dịch) các lãnh chúa.
Đến đời thứ ba là Iemitsu (tại chức 1623-51) thì thể chế
mạc phủ đã vững mạnh.
Mạc phủ đặt
ra các bộ luật hành chính (hattô = pháp độ) như Buke Shohatto
(1635), Kinchuu Narabini Kuge Shohattô (1615), Jiin Shohattô (1601-16)
để quản lý lãnh chúa, triều đình, công khanh và chùa chiền.
Đối với đạo Kitô thì buổi đầu, họ còn làm ngơ cho hoạt
động nhưng năm 1612 đã ban hành lệnh cấm đạo, đến năm
sau lại bắt buộc tất cả tín đồ trong nước phải bỏ
đạo (kaishuu =cải tông). Qua năm 1637, xảy ra cuộc loạn Shimabara
(1637-38), vì nó có liên hệ tới nhiều tín hữu, nên Ki-Tô
Giáo trở thành mối lo ngại mới cho nhà nước. Mậu dịch
với Trung Quốc và Hòa Lan từ đó bị hạn chế trong phạm
vi Deshima (thuộc Nagasaki), kỳ dư các cảng trên toàn quốc
đều đóng cửa (sakokurei hay lệnh tỏa quốc, 1641).
Chính
sách Phật giáo của chính quyền Tokugawa
Mạc phủ Edo không
giống với các mạc phủ đời trước ở Kamakura và Muromachi
nghĩa là họ không trọng Phật Giáo bằng Nho Giáo, đặc biệt
Chu Tử Học. Lý do là Chu Tử Học lấy đại nghĩa danh phận
làm nòng cốt, coi trọng trật tự xã hội, cho nên không gì
phù hợp hơn với nguyên lý trị nước của một quốc gia
mới vừa thống nhất.
Vì nho gia còn bài
xích cả Phật Giáo nữa cho nên mạc phủ mới qui định Jiin
Shohatto (Tự viện chư pháp độ, 1601-16) để kiểm tra giáo
đoàn Phật giáo một cách nghiêm ngặt (thế nhưng cũng nên
thấy khía cạnh tích cực của nó vì nhờ đó mà chùa chiền
yên ổn hơn và kiến thiết tu tạo tốt hơn). Cái tên Jiin
Shohattô dùng để gọi tổng quát các luật lệ về các loại
chùa chiền, chứ riêng về Thiền Tông thôi cũng đã có Sôtô-shuu
Hatto (Tào Động Tông pháp độ, 1612), Chokkyo Shie Hatto (Sắc
hứa tử y pháp độ, 1613), Gozan Jissetsu Shohatto (Ngũ sơn thập
sát chư sơn pháp độ), Myôshinji Hatto (Diệu Tâm Tự pháp độ),
Eiheiji Hatto (Vĩnh Bình Tự pháp độ), Daitokuji Hatto (Đại Đức
Tự pháp độ), Sôjiji Hatto (Tổng Trì Tự pháp độ, cả ba
đều ban hành vào năm 1615). Đặc biệt là với Gozan Jissetsu
Shozan Hatto thì các định chế cũ như chức Lộc Uyển Tăng
Lục (Rokuon Sôroku)và Âm Lương Chức (Inryoshoku) thời trước
đặt ra đều bị bải bỏ. Thay vào đó, từ thời Edo trở
đi có đặt ra chức Tăng Lục (Sôroku) còn gọi là Konchiin
Sôroku (Kim Địa Viện Tăng Lục) và đầu tiên cử (1619) một
nhà sư thân tín vốn xuất thân từ Nanzenji là Ishin Suuden (Dĩ
Tâm Sùng Truyền (Truyện), 1569-1633) đảm nhiệm chức ấy để
cai quản chư tăng. Mục đích của nhà nước là thế nhưng
sức cai quản của tăng lục không ra khỏi phạm vị của các
chùa Ngũ Sơn (Gozan) tức chùa nhà nước. Sau khi Sôden chết
rồi thì công việc cai quản chùa chiền rơi vào tay viên
jisha
bugyô (tự xã phụng hành, chức này được lập ra từ
1635) Quyền hạn của các chùa sau đó lại còn bị thu hẹp
lại, cơ bản họ chỉ đứng ra làm đầu đàn (furegashira =
xúc đầu; xúc = tiếp xúc) để điều hành hoạt động các
chùa thuộc phái Ngũ sơn mà thôi.
Bằng các đạo
luật mang tên Jiin Shohatto ấy, mạc phủ thống trị được
giới tăng lữ, cùng lúc thông qua hai chế độ (seido) khác
gọi là
terauke (tự thỉnh) và honmatsu (bản mạt)
họ triệt để kiềm chế Phật giáo. Terauke seido đòi
hỏi mỗi chùa chiền phải chứng minh được ai là đàn việt
của mình. Chế độ này trước tiên lập ra để bài trừ
tín đồ Ki-Tô Giáo, theo đó, mỗi người dân Nhật bắt buộc
phải là đàn việt trực thuộc một ngôi chùa. Chùa ấy có
trách nhiệm dìu dắt chỉ dạy đàn việt của mình và như
thế, giáo đoàn Phật Giáo đã được phó thác một phần
công việc của cơ cấu thống trị mà mạc phủ dựng nên.
Còn chế độ
honmatsu
thì
nhắm vào việc đặt các giáo đoàn trong khuôn khổ của hệ
thống honji (bản tự) và matsuji (mạt tự) tức
là chùa gốc (chùa chính) và chùa ngọn (chùa chi nhánh), giúp
cho nhà nước kiểm soát các giáo đoàn dễ dàng hơn. Muốn
được như thế thì bắt buộc cố định hóa sự liên hệ
giữa các chùa và không để cho bất luận ngôi chùa nào tồn
tại mà không phụ thuộc vào một chùa gốc. Cho nên đến
năm 1631, mạc phủ không cho phép xây thêm chùa mới. Thế rồi
từ năm 1632 trở đi, nhà nước các chùa gốc nổi tiếng gọi
là "danh bản sơn" (các chùa ngũ sơn thường được xếp vào
loại này) phải thường thuyên phúc trình lên họ tờ khai
gọi là
matsujichô
(mạt tự trướng) hay danh sách các
chùa ngọn của mình. Do đó, để phù hợp với đòi hỏi của
mạc phủ, các chùa nổi tiếng ở địa phương cũng phải
liên kết vớii một chùa gốc (bản sơn) nào đó, dù có khi
chỉ là trên hình thức. Nhờ vậy, mạc phủ đã kiểm soát
được Phật giáo thông qua chức furegashira tức các chùa
đứng đầu trách nhiệm điều hành các chùa khác, có trụ
sở ở Edo. Mạc phủ phân chia các giáo đoàn Thiền Tông làm
4: phái Gozan, phái Daitokuji, phái Myôshinji, phái Sôtô, sau đó
thêm Ôbaku-shuu (Hoàng Bá (Bích) Tông) nữa là thành ra 5. Còn
phái gọi là Shômon (Tiểu Môn) không đứng chung với 5 phái
này thì được tính gộp với Gozan.
Hậu quả của các
chính sách mà mạc phủ đề ra đã triệt hạ cơ năng của
các "tháp đầu" (tacchuu) cũng như của các môn phái, những
tổ chức xưa nay vốn giữ vị trí trung tâm trong hoạt động
giáo đoàn. Với chế độ terauke, những tổ chức ấy
không còn có thể nới rộng phạm vi ảnh hưởng ra một cách
dễ dàng nữa. Còn chế độ honmatsu, một khi được
áp dụng, sẽ làm cho quyền lực tập trung vào tay các chùa
gốc (bản sơn) mà thôi. Thành ra từ đó về sau các giáo đoàn
phải hành động theo ý muốn của bản tự chứ không theo
ý kiến môn phái hay tháp đầu. Lại nữa, các chùa ngọn (hay
chi nhánh) có khuynh hướng trực thuộc vào các bản tự (tức
bản sơn) chứ không phải các tháp đầu. Cứ như thế, đến
thời cận đại thì việc này đã trở thành phổ biến và
ta có một cấu trúc lưỡng cực, một bên là bản tự (chùa
chính) và một bên là mạt tự (chùa chi nhánh).Đặc biệt
đáng chú ý là những tông phái như Sôtô (Tào Động) cũng
đã phát triển được qui mô rộng lớn của họ nhờ phương
thức này. Lý do là để cho tông môn của mình có tính độc
sáng, Sôtô cần phải lập ra môn học về chính họ (tông
học) và chỉ khi nào có cơ hội qui tụ được nhiều nhân
tài như thế thì mới thành công trong việc đó.
Vai trò của
furegashira đối với giáo đoàn Thiền Tông. Ba chùa lớn vùng
Kantô của tông Sôtô (Kansansetsu)
Các chùa đóng
vai furegashira (xúc đầu) [2]có
những nhiệm vụ như sau:
1) Truyền đạt
ý định của mạc phủ cho các chùa chi nhánh thuộc tông phái
mình.
2) Giải quyết
xử lý những cuộc tranh chấp nội bộ tông phái.
3) Trung gian để
đệ trình lên chức jisha bugyô (tự xã phụng hành, quan coi
về hoạt động các đền chùa) giấy tờ đơn trạng của
các chùa chi nhánh.
Các chùa được
mạc phủ giao nhiệm vụ làm furegashira của giáo đoàn Thiền
Tông là:
1) Tôkaiji (Đông
Hải Tự) ở Shinagawa cho các chùa phái Daitokuji (Đại Đức
Tự).
2) Bốn chùa vùng
Tôkyô có tên Edo Shikaji (Giang Hộ tứ cá tự) tức là Shôgenji
(Tùng Nguyên Tự), Tôzenji (Đông Thiền Tự), Rinshôin (Lân Tường
Viện), Kaizenji (Hải Thiền Tự), đại diện cho các chùa phái
Myôshinji (Diệu Tâm Tự). Về sau , năm 1738, khi Rinshôin rút
lui thì chỉ còn 3 nên gọi là "tam cá tự".
3) Ba chùa gọi
là Edo sankaji (Giang Hộ tam cá tự) tức Sôsenji (Tổng Tuyền
Tự), Seishôji (Thanh Tùng Tự), Sengakuji (Tuyền Nhạc Tự), đại
diện cho tông Tào Động.
4) Zuishôji (Thụy
Thánh Tự) và Kaifukuji (Hải Phúc Tự) đại diện cho tông Hoàng
Bá (Bích).
Vào năm 1612,
shôgun Tokugawa Ieyasu đã bổ nhiệm tông Tào Động (Sôtô) làm
chức Kantô Sôroku (Quan Đông Tăng Lục) cai quản hoạt động
các tông phái thông qua 3 chùa của họ là Sôneiji (Tổng Ninh
Tự), Daichuuji (Đại Trung Tự) và Ryuuonji (Long Ẩn Tự). Đó
là 3 chùa lớn vùng Kantô, gọi tắt là Kansansetsu (Quan Tam Sát).
Kansansetsu chia các chùa toàn quốc ra làm ba và thay nhau cai quản
hằng tháng. Người trụ trì của họ phải được mạc phủ
bổ nhiệm. Nhân vì có thông lệ là người trụ trì chùa Eiheiji
(Vĩnh Bình Tự của Dôgen) nổi tiếng sẽ được chọn từ
trong đám họ (Kansansetsu) cho nên quyền uy của họ đối với
tông môn càng được nâng cao. Riêng địa phương Shizuoka (khu
vực Tôkai, phía nam Tôkyô) vì là đất thang mộc của nhà
chúa Tokugawa cho nên lại được thuộc vào một hệ thống
riêng và chức Tôkai Sôroku (Đông Hải Tăng Lục) của vùng
Tôkai có quyền ngang ngửa với cả Kansansetsu.
Ngược lại, bằng
hai chế độ terauke và
honmatsu, mạc phủ đã bảo
đảm địa vị của các giáo đoàn và chùa chiền. Cũng nhờ
vậy mà cơ sở kinh tế của các chùa mới củng cố và đấy
là điều các chùa mong mỏi. Kể từ đó, các giáo đoàn mới
tập trung được vào việc học tập và phổ biến giáo lý
nhà Phật vào các tầng lớp bình dân. Cái gọi là tư tưởng
Thiền Tông Nhật Bản nhân vậy mới có được một khuôn
mặt thực sự. Đó là mặt tích cực mà hai chế độ này
đã mang lại. Tuy nhiên, không phải là không có những yếu
tố tiêu cực khó lòng phủ nhận. Ví dụ việc truyền giáo
kể từ ngày ấy đã mất đi nhiệt tình và tinh thần phê
phán, công việc nhà chùa luẩn quẩn trong vòng lễ nghi tang
tế, khuynh hướng tùy thuộc vào qui định của thể chế nhà
nước ngày càng mạnh thêm ra.
Để ngăn ngừa
những phần tử gây rối lọt vào trong giáo đoàn, mạc phủ
ngăn cấm những ai không có pháp tự trở thành trụ trì. Nhờ
đó mà các già lam đã chỉnh đốn được hình thức truyền
thụ pháp tự. Một số trong đám họ có khuynh hướng đi theo
phương pháp truyền thụ của phái Genjuu (Huyễn Trú) vốn đã
hoàn chỉnh. Hơn nữa, vì cần đệ trình cho mạc phủ xem xét,
các tông phái đều phải soạn ra hệ đồ truyền pháp (già
lam pháp tông phái đồ) của mình. Phái Tôfukuji (Đông Phúc
Tự) có Huệ Nhật Sơn Đông Phúc Thiền Tự Tông Phái Đồ
(1819), phái Daitokuji (Đại Đức Tự) có Chính Đăng Thế Phổ
(1708), Myôshinji (Diệu Tâm Tự) có Chính Pháp Sơn Tông Phái
Đồ (1660), tông Sôtô (Tào Động) có Nhật Bản Động Thượng
Tông Phái Đồ (1744). Sau đó chúng vẫn được thường xuyên
bổ túc.
Như thế, chính
sách Phật giáo của mạc phủ Edo đã làm cho các giáo đoàn
Phật giáo có bộ mặt hết sức mới mẻ. Trong việc thành
lập chính sách, thực ra có bàn tay của hai nhân vật Phật
giáo đóng góp. Ấy là các thiền tăng Seishô Shôtai (Tây Tiếu
Thừa Đoái, 1548-1607) xuất thân chùa Tướng Quốc (Shôkokuji)
và Ishin Suuden (Dĩ Tâm Sùng Truyền) chùa Nam Thiền (Nanzenj).
Hai ông là đầu não, cố vấn cho Tokugawa Ieyasu. Họ đã lập
ra kế hoạch hành chính tự viện và chính sách khuyến học,
thảo ra luật lệ và văn thư ngoại giao cho phủ chúa. Bản
thân các chính sách cũng mang nặng dấu ấn lối suy nghĩ của
họ. Thêm vào đó, những nhà Chu Tử Học lỗi lạc đầu thời
Edo như Fujiwara Seika (Đằng Nguyên, Tỉnh Oa, 1561-1619) và Hayashi
Razan (Lâm, La Sơn, 1583-1657) cũng là người xuất thân từ Gozan
(Ngũ Sơn), cho nên có thể bảo việc trong việc dựng nền
móng cho quyền uy của Mạc phủ Edo, công lao của các thiền
tăng Gozan vô cùng to lớn.
Nói về Seishô
Shôtai (Tây Tiếu Thừa Đoái) và Ishin Suuden (Dĩ Tâm Sùng Truyền)
Seishô Shôtai
người vùng Fushimi (thuộc Kyôto), xuất gia từ nhỏ. Ông học
thiền với nhiều thầy, trong đó có Ninjô Shuugyô (Nhân Như
Tập Nghiêu, 1483-1574), đến năm 1584 thì đến trụ trì ở
Shôkokuji, bái tháp để nhận pháp tự [3]
của Chuuka Shôshun (Trung Hoa Thừa Thuấn, năm sinh và mất không
rõ) và như thế, chuyển qua phái Muusô (Mộng Song). Năm sau
giữ chức vụ Rokuon Sôroku (Lộc Uyển Tăng Lục), cai quản
chư tăng. Thế rồi ông lại trụ trì ở Nanzenji và sau đó
nữa, trở về làm Rokuon Sôroku, hoạt động như cố vấn chính
trị cho Toyotomi Hideyoshi. Ông giao du thân mật với con nuôi
(Hidetsugu, 1568-95) và con đẻ (Hideyori, 1593-1615) của Hideyoshi
cũng như với Tokugawa Ieyasu, lúc ấy chỉ là một cận thần
có thế lực. Ông đã cho xuất bản sách Chu Dịch (Shuueki)
ấn bản Fushimi và nhờ đó mà sự nghiên cứu Dịch học ở
Nhật đã có cơ hội phát triển.
Mặt khác, Ishin
Suuden vốn sinh ra trong gia đình một gia thần của shôgun
Ashikaga Yoshiteru (Túc Lợi Nghĩa Huy, tại chức 1546-1565). Sau
khi nhà Ashikaga bị diệt, ông mới vào Nanzenji tu hành, thành
học trò Seishaku Tokurin (Tịnh Thúc Đức Lâm, năm sinh và mất
không rõ) thuộc một tháp đầu trong đó (gọi là Konchi-in
= Kim Địa Viện) và nhận pháp tự của thầy. Năm 1605, ông
trụ trì hết Kenchôji rồi đến Nanzenji. Năm 1607 Seishô Jôtai
mất thì năm sau đó, ông được họ Tokugawa mời vào phủ
chúa để lo việc từ hàn ngoại giao cũng như cố vấn về
các vấn đề chính trị và tôn giáo. Chính ông là người
đã chủ trì việc soạn ra các hattô (pháp độ) như Buke Shohatto
(1635), Kinchuu Narabini Kuge Shohattô (1615), Jiin Shohattô (1601-16)..
đã đề cập đến bên trên, nhúng tay vào sự cố chuông chùa
Hôkôji đưa đến sự diệt vong của dòng họ Toyotomi cũng
như việc cấm đạo Ki-Tô. Năm 1619, khi định chế Kim Địa
Viện Tăng Lục được đặt lại, ông được bổ vào chức
ấy (từ đó chức này nằm trong tay pháp hệ của Suuden). Ông
đi đi lại lại giữa Edo và Nam Thiền Tự để chấp hành
công việc, cùng với nhà sư phái Tendai là Tenkai (Thiên Hải,
1536-1643) được đời gọi là hai "hắc y tể tướng" (các
nhà sư Nhật có tục mặc kokue tức áo cà sa màu đen).
Ông lại có công lớn trong việc phục hưng hai chùa Nanzenji
và Kenchôji, thu thập thư tịch và xuất bản sách. Hai cuốn
nhật ký Ikoku Nikki (Dị Quốc Nhật Ký) và Honkô Kokushi Nikki
(Bản Quang Quốc Sư Nhật Ký) là hai tư liệu sử học rất
quan trọng vì ghi chép lại tình hình chính trị đương thời.
Sự
cố "áo tía" và vụ án "tạp học"
Muốn biết mạc
phủ đã đẩy mạnh việc khống chế Phật giáo đến mức
độ nào thì phải nhắc đến
shie jiken (tử y sự kiện)
hay "sự cố áo cà sa màu tía". Đó là việc năm 1623 nhà nước
đã đặt ra đạo luật "Tử y sắc hứa chi pháp độ" bắt
buộc mỗi khi triều đình muốn ban tử y tức áo cà sa màu
tím (vinh dự to lớn đặt ra từ năm 1249 cho một cao tăng)
đều phải thưa gửi trước với mạc phủ. Thế nhưng về
sau triều đình của Thiên Hoàng Go Mizu-no-o (Hậu Thủy Vỹ,
1596-1680, đời thứ 108, trị vì 1611-1629) tiếp tục làm ngơ
đạo luật này. Chính vì thế mạc phủ đã nhân việc Thiên
Hoàng muốn ban áo tía cho vị trụ trì đời thứ 172 của chùa
Daitokuji là Shôin Sôchi (Chính Ẩn Tông Tri, 1588-1629) mà thông
cáo rằng những áo tía được ban tặng cho ngũ sơn thập sát
kể từ năm 1615 tức năm mà
Kinchuu narabini Kuge Shohatto
(Cấm trung tịnh công khanh chư pháp độ), đạo luật
qui định chế độ cho triều đình (cấm trung) lẫn công
khanh, ra đời, đều không có ý nghĩa. Nhân vì qua năm sau,
các cao tăng như Takuan Sôhô (Trạch Am Tông Bành, 1573-1645),
Gyokushitsu Sôhaku (Ngọc Thất Tông Phách, 1572-1641) của Daitokuji,
Tôgen Etô (Đông Nguyên Huệ Đẳng, năm sinh và mất không rõ)
và Tanden Shiin (Đơn Truyền Sĩ Ấn, năm sinh và mật không rõ)
của Myôshinji phản đối quyết định này kịch liệt cho nên
đến năm 1629, Takuan và Tangen bị đày đi Dewa, còn Gyokushitsu
và Tôgen thì bị đày lên vùng Mutsu, đều thuộc miền đông
bắc bây giờ. Để bày tỏ sự phẫn khái đối với mạc
phủ, Thiên hoàng Go Mizu-no-o đột nhiên thoái vị, truyền ngôi
cho Nữ thiên hoàng Meishô (Minh Chính, 1624-96, đời thứ 109,
trị vì 1629-43).
Thiên hoàng
Go Mizu-no-o (Hậu Thủy Vỹ)
Được Tokugawa
Ieyasu phò tá, tức vị năm 1611. Thế nhưng mạc phủ lại đẩy
mạnh sự chèn ép và gò bó đối với ông bằng cách lần
lượt ban hành các bộ luật về quí tộc (1613), về tử y
(1613) về công khanh và triều đình (1615) cũng như cho con gái
của Tokugawa Hidetada, shôgun đời thứ hai, bà Kazuko (Hòa tử,
1607-78) nhập cung. Ghét bỏ những điều này, nhân sự cố
áo tía bùng nổ, ông đột ngột thoái vị để bày tỏ sự
chống đối. Về sau, trong suốt 50 năm ở địa vị thái thượng
hoàng, ông chú tâm và trở nên tinh thông nhiều ngành học
vấn và nghệ thuật. Trong đám nhân tài ra vào cửa của ông
có những nghệ sĩ, thiền sư và chajin (trà nhân) như Hon.ami
Kôetsu (Bản A Di Quang Duyệt, 1558-1637), Kobori Enshuu (Tiểu Quật
Viễn Châu, 1579-1647), Tawaraya Sôtatsu (Biểu Ốc Tông Đạt,
năm sinh và mất không rõ), Karasumaru Mitsuhiro (Ô Hoàn Quang Quảng,
1558-1637). Về phần mình, ông cũng vẽ kiểu và cho thiết kế
một ly cung dùng làm nhà học (Shuugakuin Rikyuu hay Tu học viện
ly cung, 1655-59). Về thơ ca, ông có tập Osôshuu (Ô Sào Tập).
Cùng với Thiên hoàng Hanazono (Hoa Viên, 1297-1348, đời thứ
95, trị vì 1308-1318), ông là một trong hai hoàng đế hiểu
biết sâu rộng về Thiền, đã từng qui y và hỏi đạo nơi
các cao tăng như Takuan Sôhô, Gudô Tôshoku (Ngu Đường Đông
Thực), Ungo Kiyô (Vân Cư Hy Ưng), Ryuukei Shôsen (Đông Khê Tính
Tiềm, hay Tông Tiềm), Isshi Monshu (Nhất Ti Văn Thủ). Ngoài
ra, trong dịp xây dựng Manfukuji (Vạn Phúc Tự), ông dã tiến
cúng Phật xá lợi và xá lợi tháp.
Đến năm 1632 thì
Takuan được ân xá. Nhân sự kiện này, trớ trêu là chính
shôgun
đời thứ ba, Tokugawa Iemitsu (Đức Xuyên Gia Quang, 1604-1651,
tại chức 1623-51), và trọng thần Yagyuu Munenori (Liễu Sinh
Tông Cự, 1571-1646), một kiếm khách, lại qui y với ông, cho
dựng chùa Tôkaiji ở Shinagawa (vùng Tôkyô) đón ông về khai
sơn. Trong tập Fudôchi Shinmyôroku (Bất Động Trí Thần Diệu
Lục,) thu thập thư tín Takuan gửi cho Yagyuu Munenori có câu
nói nổi tiếng kenzen ichimi (kiếm thiền nhất vị) nghĩa
là kiếm và thiền cũng đồng một nghĩa.
Nói về tông Tào
Động (Sôtô-shuu) thì năm 1653, đã xảy ra vụ án gọi là
zatsugaku
jiken (tạp học sự kiện) [4]
, còn gọi là daigo kôroku jiken (đại ngữ giảng lục
sự kiện) liên quan đến họ. Ấy là việc mười nhà sư chùa
Seishôji (Thanh Tùng Tự) trong mùa an cư đã bị tổ chức quan
phòng tôn giáo Kansansetsu (Quan Tam Sát) buộc tội đã giảng
"tạp học" tức là những kinh điển ngoài giáo lý Tào Động
cũng như đi ngược lại đường lối mạc phủ. Việc hài
tội này đã đưa ra pháp đình. Dù lời cáo buộc của Kansansetsu
tỏ ra hàm hồ, cơ quan này cũng được xử thắng kiện, rốt
cuộc 36 chùa bị liên lụy và chịu trừng phạt. Đương thời,
người vận động phục hưng Phật giáo như Ban.an Eishu (Vạn
An Anh Chủng) cũng dính vạ lây. Người ta xem vụ án này là
bằng chứng mạc phủ muốn duy trì quyền lực và nâng cao
uy tín Kansansetsu, công cụ giám sát của mình.
Fudôchi Shinmyôroku
(Bất Động Trí Thần Diệu Lục)
Đây là tên tập
sách thu thập pháp ngữ mà thiền sư Takuan gửi qua thư tín
cho học trò mình, trọng thần Yagyuu Munenori, một kiếm khách
và nhà binh pháp. Sách ra đời vào năm nào thì không ai rõ.
Nó gồm trên mười thiên có nhan đề như Mumyô Juuji Bonnô
(Vô minh trụ địa phiền não), Shofutsu Fudôchi (Chư Phật bất
động trí) vv... Nội dung xem việc học kiếm và tu thiền có
cùng một nghĩa như nhau. Chủ trương của sách là nếu đứng
trước sự diễn biến của mọi vật mà cái tâm của mình
không ngừng lại thì có thể hành động một cách tự do,
cái đó chính là "bất động trí" (fudôchi). Nếu tu luyện
đạt được nó thì sẽ trở thành "vô tâm vô niệm", dứt
tuyệt với mọi hành vi và quay về cái tâm buổi ban sơ. Takuan
còn nhấn mạnh rằng sau khi tu luyện cái tâm như thế rồi
(lý chi tu hành), lại phải tu luyện làm sao (vật chi tu hành)
để nó nối kết được với động tác của thân thể. Từ
đó, không chỉ riêng kiếm đạo mà trong những lãnh vực khác
đều sẽ được tinh thông. Kể từ thời Mã Tổ Đạo Nhất
(709-788) trở đi, thiền đã trở thành đại cơ đại dụng
thiền tức là thiền coi trọng cái tâm bình thường trong cuộc
sống hằng ngày cho nên nó mới được phổ biến trong lớp
sĩ phu tân hưng đời Tống. Thiền Nhật Bản cũng thừa kế
tư tưởng đó nhưng vì những kẻ nắm quyền chính trị ở
Nhật là giai cấp võ biền samurai nên loại tác phẩm như của
Takuan mới có cơ hội ra đời. Thế nhưng suy nghĩ như ông
thì thành ra đã xa rời tinh thần Phật Giáo cơ bản và trở
thành lý luận về đạo đức và tu thân mà thôi. Do đó nó
đã là khởi điểm cho vấn đề hợp tác của người Phật
tử vào nỗ lực chiến tranh trong giai đoạn lịch sử cận
đại.
Cuộc
vận động phục hưng Phật giáo được khơi mào
Mạc phủ Edo ra
đời làm cho xã hội ổn định và chùa chiền được chỉnh
đốn nên đã giúp cho Phật giáo đồ có dịp suy nghĩ lại
để thấy rằng họ phải vượt qua mọi dị biệt tông phái
để làm sống lại Phật giáo. Do đó một cuộc "vận động
phục hưng Phật giáo" đã được khơi mào. Riêng về Thiền
Tông mà thôi thì từ thời Sengoku trở đi, người ta có khuynh
hướng không tọa thiền nữa mà chỉ thực hành thiền mật
tham. Hiện trạng đó đã bị phê phán mạnh mẽ và người
ta muốn trở lại phương pháp tu hành bản lai của Thiền Tông
gọi là biến tham, cho phép người tu thiền đến hỏi đạo
với các bậc thầy khắp nơi để tìm con đường giác ngộ.
Đó là chủ trương mang tên ketsumei henzan (kết minh biến
tham = liên kết thành nhóm đi học hỏi khắp nơi) của những
tăng sĩ phái Kanzan (Quan Sơn, phái bắt đầu với Kanzan Egen
= Quan Sơn Huệ Huyền) như Gudô Tôshoku (Ngu Đường Đông Thực,
1577-1661), Ungo Kiyô (Vân Cư Hy Ưng, 1582-1659), Daigu Sôchiku (Đại
Ngu Tông Trúc, 1584-1669). Tuy sau đó những người này đã chia
rẽ vì có sự dị biệt trong lối suy nghĩ nhưng mỗi một
người trong bọn đều đã tận tụy với việc phục hưng
Thiền Tông. Gudô trụ trì ở Myôshinji, giữ được truyền
thống đã có từ Kanzan Egen (Quan Sơn Huệ Huyền), Ungo thì
đề xướng "niệm Phật thiền", được lãnh chúa có thế
lực ở miền Đông Bắc đến xin qui y, và được trụ trì
chùa Zuiganji (Thụy Nham Tự) ở Matsushima thuộc Sendai (tỉnh
Miyagi bây giờ).
Phong trào kết đoàn
tham học ketsumei henzan nói trên đã vạch ra những lối
tu khác nhau do những thiền sư đầy cá tính đứng ra chủ
trương. Ví dụ lối thiền bằng cách niệm Phật (nenbutsu
zen = niệm Phật thiền) có tên khác nữa là Niôzen
(Nhân Vương thiền) [5] mà
Suzuki Shôsan (Linh Mộc Chính Tam, 1579-1655) cổ xúy, hay trì giới
thiền (jikaizen) tức thiền bằng cách giữ gìn giới luật,
theo kiểu Isshi Monshu (Nhất Ti Văn Thủ, 1608-46), người đã
phục hưng Eigenji (Vĩnh Nguyên Tự ở Ômi (tỉnh Shiga), hoặc
jikai
nenbutsu zen (trì giới niệm Phật thiền) đòi hỏi cả hai
phương pháp, được Sessô Sôsai (Tuyết Song Tông Thôi, 1589-1649)
đề xướng. Những phương cách khác nhau này căn bản vẫn
có một điểm chung là mục đích tìm về giác ngộ. Ngoài
ra, cả Shôsan lẫn Sessô, kể từ cuộc nổi loạn ở Shimabara
(1637-38, vùng Nagasaki), đã hành động đúng như mạc phủ mong
muốn nghĩa là không tiếc lời bài xích tín đồ đạo Ki-Tô
ở Kyuushuu. Shôsan đã viết Ha-Kirishitan (Phá Kiết-lợi-đan)
và Sessô đã viết Taijija shuuron (Đối trị tà chấp luận).
Ngoài ra, còn có người tên là sư huynh (irmao) Fukansai (Bất
Can Trai) Fabian (Ba Tỵ Am, 1565-1621) trước học Thiền, chạy
theo đạo Ki-Tô rồi lại bỏ Ki-Tô trở lại Thiền đã viết
Ha-Deusu (Phá Đề-vũ-tử) để chống báng đạo Ki-Tô. Ba quyển
sách này được liệt vào hạng "phá tà thư" tiêu biểu. Đặc
biệt cách lập luận của Sessô rất có sức thuyết phục.
Qua đó, người ta nhận ra ảnh hưởng hai người thầy của
ông là các thiền sư Saigin (Tây Ngâm, 1605-1663) và Gekkan (Nguyệt
Cảm, 1600-1674).
Đặc biệt Isshi
Monshu (Nhất Ti) và một người xuất hiện sau đó một chút
là Bankei Yôtaku (Bàn Khuê Vĩnh Trác, 1622-93) là hai thiền tăng
thuộc loại "vô sư độc ngộ", không thấy nói hai ông đã
nhận pháp tự từ ai cả. Lại nữa, Shôsan là người theo
học cả hai tông Rinzai (Lâm Tế) lẫn Sôtô (Tào Động), tự
mình giữ lập trường cho thêm nenbutsu (niệm Phật) vào
Thiền. Không có bằng chứng cho biết ông ta trực thuộc pháp
hệ hay tông phái nào. Về điểm này, ta nhận thấy thời đó
đã có một sự thay đổi lớn trong giá trị quan, bởi vì
cho đến lúc ấy, nói đến tu Thiền là bắt buộc phải nói
đến việc nhận pháp tự từ ai.
Như trên, cuộc
vận động để phục hưng Phật giáo mà trung tâm là phái
Lâm Tế đã hiện rõ. Thế nhưng cũng không nên quên rằng,
vào thời này, từ phía phái Tào Động cũng có những nhân
vật như Ban.an Eishu (Vạn An Anh Chủng, 1591-1654) biết nối
tiếp truyền thống của cao tăng Dôgen phục hưng được Kôhôji
(Hưng Thánh Tự, ở thành phô Uji gần Kyôto). Ban.an Eishu là
nhân vật có giao tiếp với từ Taigu Sôchiku, Ungo Kiyô, Isshi
Monshu, Suzuki Shôsan cho đến Ryuukei Sôsen (1602-1670. Ông này
trước thuộc phái Myôshinji sau chuyển sang phái Hoàng Bá).
Suzuki
Shôzan (Linh Mộc Chính Tam, 1579-1655)
đã
biết dùng văn nghệ để phổ biến Thiền.
Suzuki
Shôsan (Linh Mộc Chính Tam) là người thế nào?
Ông họ Hozumi (có
nơi viết là họ Suzuki) người vùng Mikawa (tỉnh Aichi) tên
thật là Juuzô (Trọng Tam), Suzuki Shôzô chỉ là bút danh. Ông
sinh trong gia đình võ sĩ Mikawa, lập được chiến công trong
trận Sekigahara khi Tokugawa Ieyasu thống nhất thiên hạ. Còn
tham dự hai chiến dịch mùa đông và mùa hạ tiến chiếm thành
Ôsaka, dứt tuyệt dòng họ Toyotomi. Khi còn nhỏ, ông đã mộ
đạo Phật, du hành khắp nơi học đạo nhưng đến năm 42
tuổi mới có cơ hội xuất gia. Từ đấy, ông hỏi đạo các
thiền sư Taigu Sôchiku và Gudô Tôshoku của Lâm Tế và Ban.an
Eishu của Tào Động. Sau đó, ông trở lại cố hương, dựng
chùa Sekiheizan Onshinji (Thạch Bình Sơn Ân Chân Tự) và trụ
trì tại đấy. Buổi vãn niên mới lên Edo, hoạt động bố
giáo ở Juushun.in (Trùng Tuấn Viện) ở Yotsuya và Ryôshin.in
(Liễu Tâm Viện) ở Asakusa (hai khu vực trong thành phố Tôkyô
bây giờ), lập ra một lối tu hành độc đáo có tên là Niôzen
(Nhân Vương thiền). Tư tưởng của Suzuki Shôsan hàm chứa
nhiều yếu tố khác nhau kể cả giáo lý Tịnh Độ và chủ
trương tam giáo nhất trí. Ông mượn những hình thức văn
nghệ để giáo hóa quần chúng hóa và ảnh hưởng đến văn
chương bình dân về sau. Cùng lúc, ông lại có mối liên hệ
mật thiết với chế độ mạc phủ và phiên trấn. Với ông,
giáo lý nhà Phật đã trở thành một môn học thực tiễn.
Suzuki Shôsan có nhiều trứ tác như Môanjô (Manh An Trượng
= Gậy dẫn lối người mù, 1851) viết bằng quốc ngữ
kana
trong
đó ông đứng trên lập trường Thiền Tông để giải thích
cụ thể 10 điều đạo đức phải noi theo, Roankyô (Lư An Kiều
= Cầu Yên Lừa, 1660) là tập ngữ lục do đệ tử là Echuu
(Huệ Trung, năm sinh và mất không rõ) ghi lại lời phát biểu
của thầy. Ngoài ra ông còn viết những tiểu thuyết nôm na
dùng vào mục đích truyền đạo, ví dụ Ninin bikuni (Nhị nhân
tì khưu ni = Hai bà vãi, 1632), Inga Monogatari (Nhân quả vật
ngữ = Truyện có vay có trả, 1661), hay những tập pháp ngữ
viết riêng cho một cá nhân nào đó sau được thu thập trong
Hogoshuu (Phản cố tập = Tập giấy nháp, 1634) và Banmin tokuyô
(Vạn dân đức dụng =Ai cũng dùng được, 1661) triển khai
từ Shokubun Butsugyôsetsu (Chức phận Phật hành thuyết = Trình
bày về những Phật hành trong chức phận mình) vốn dựa trên
cuốn Sehô soku Buppô (Thế pháp tức Phật pháp = Đạo đời
tức đạo Phật) đã có trước. Đó là chưa kể sách bài
báng đạo Ki-Tô như Ha Kirishitan (Phá Kiết-lợi-đan, 1662) đã
được nhắc đến bên trên và sách khuyến khích việc niệm
Phật nhan đề Nenbutsu Sôshi (Niệm Phật thảo chỉ, Truyện
niệm Phật). Shôsan như thế đã viết những tác phẩm đáng
chú ý và theo nhiều chiều hướng khác nhau
Tiết
2 - Tăng Ẩn Nguyên đến Nhật.
Cuộc
vận động phục hưng của Phật giáo (Edo trung kỳ)
|
Thời
chính quyền ổn định. Văn hóa Genroku
Từ thời
shôgun
thứ 4 Tokugawa Ietsuna (Gia Cương, tại chức 1651-1680) cho đến
shôgun
thứ 7 là Ietsugu (Gia Kế, tại chức 1713-16), thể chế mạc
phiên tương đối ổn định, ảnh hưởng văn hóa ngoại quốc
thối lui và văn hóa độc đáo của Nhật Bản gọi là văn
hóa Genroku (gọi theo niên hiệu Genroku hay Nguyên Lộc, 1688-1704)
có cơ hội chói sáng. Đó là thời hoạt động của tiểu
thuyết gia ukiyosôshi Ibara Saikaku (Tỉnh Nguyên Tây Hạc,
1642-93), hai nhà thơ haikai Matsuo Bashô (Tùng Vĩ Ba Tiêu,
1644-94) và Uejima Onitsura (Thượng Đảo Quỷ Quán,1661-1738),
nhà soạn tuồng búp bê jôruri Chikamatsu Monzaemon (Cận
Tùng Tả Vệ Môn, 1653-1724). Về phương diện học thuật, trong
giai đoạn này, các nhà tư tưởng như Itô Jinsai (Y Đằng Nhân
Trai, 1627-1705) và Ogyu Sorai (Địch Sinh Tồ Lai, 1666-1728) đã
hình thành được một hệ thống tư tưởng Nho giáo có màu
sắc đặc biệt Nhật Bản. Ngoài đạo Nho, các lãnh vực khác
như đạo Phật và các ngành khoa học tự nhiên cũng đều
có sự phát triển đáng kể. Người đã đem đến một kích
thích to lớn cho chúng không ai khác hơn là thiền sư Ẩn Nguyên
Long Kỳ (âm Nhật là Ingen Ryuuki, 1592-1673, đến Nhật năm 1654)
và nhà nho Chu Thuấn Thủy (âm Nhật Shu Shunsui, 1600-1682, đến
Nhật năm 1659), hai nhà văn hóa lớn triều Minh sang trú ngụ.
Bối cảnh của
văn hóa Genroku là sự phồn vinh về mặt kinh tế có được
trong một thời kỳ mà chính trị ổn định lâu dài. Đặc
biệt nó đã kéo theo sự hưng thịnh của ngành xuất bản
làm cho văn hóa ấy được quần chúng tiếp thu rộng rãi.
Kể từ thời ấy trở đi giữa Phật giáo và Nho giáo cũng
như trong nội bộ Phật giáo đã có những cuộc tranh luận
về nhiều vấn đề, chúng nhờ sức của ngành xuất bản
mà trở nên sống động hơn. Mặt khác, trong giai tầng võ
sĩ, đã thấy xuất hiện những người nghèo khó, nền kinh
tế của mạc phủ và các phiên trấn cũng bắt đầu lâm vào
cảnh thiếu trước hụt sau.
Việc
Ẩn Nguyên đến Nhật và tông Hoàng Bá thành hình
Trong khoảng thời
gian này, các tăng Trung Quốc đến Nhật Bản hết người này
đến người khác. Trong đó đáng kể Nhất là hai tăng phái
Lâm Tế, Đạo Giả Siêu Nguyên (Dôsha Chôgen, ? - 1660, đến
Nhật năm và về nước năm 1658) và Ẩn Nguyên Long Kỳ, cũng
như tăng Tào Động tên Tâm Việt Hưng Trù (Shin.etsu Kôchuu,
1639-1695, đến Nhật 1677). Bối cảnh của những chuyến đi
ấy là việc người Mãn Thanh đã tiến chiếm trung nguyên và
tiêu diệt nhà Minh (1644). Ẩn Nguyên đến Nhật dường như
cũng là một chuyến đi nằm trong sách lược ngoại giao của
di thần nhà Minh là Trịnh Thành Công (Đài Loan), với hy vọng
nhận được sự hổ trợ từ phía Nhật Bản.
Những tăng nhân
này đã đem thiền đời Minh với nghi thức tu hành hoàn toàn
khác lạ đến với nước Nhật. Không những nó đã gieo được
một sự kích thích cho Thiền Tông Nhật Bản lúc ấy đang
trầm trệ trong lối tu mật tham mà còn ảnh hưởng sâu rộng
đến văn hóa Nhật Bản thời ấy nói chung.
Tăng "độ
lai" từ Trung Quốc và sanbukushi (tam phúc tự)
Nagasaki là một
thành phố đông người Hoa ở. Từ khi có chế độ terauke
bắt nguồn từ đạo luật của mạc phủ bắt mỗi người
dân phải đăng ký làm đàn việt (đàn na) ở một ngôi chùa
thì người Hoa cũng có nhu cầu lập ra những ngôi chùa đàn
việt hay dannaji (đàn na tự) nơi mình sinh sống để trực
thuộc vào nó. Do đó mới xuất hiện cái tên sanbukushi (ba
ngôi chùa có chữ phúc) để chỉ Tômeizan Kôfukuji (Đông Minh
Sơn Hưng Phúc Tự (do tăng Shin.en tức Tâm Viên khai sơn
và dựng lên năm 1620), Bunshizan Fukusaiji (Phần Tử Sơn
Phúc
Tế Tự do tăng Kakkai tức Giác Hải khai sơn và lập ra năm
1628) và Shôjuzan Suufukuji (Thánh Thọ Sơn Sùng Phúc Tự
do tăng Chô.nen tức Siêu Nhiên khai sơn năm 1629). Sau khi nhà
Minh bị diệt vong, chính ba ngôi chùa này là nơi trú chân cho
những nhà sư từ lục địa "độ lai". Trong số đó, đặc
biệt có những nhà sư học lực cao thâm như hai vị Mokusu
Nyojô (Mặc Tử Như Định (1597-1657) và Itsunen Shôyuu (Dật
Nhiên Tính Dung, tức Ryôun anshu, Lương Vân am chủ, 1601-1668)
của chùa Kôfukuji,các tăng Unken Kaien (Uẩn Khiêm Giới Uyển,
1608-1673) của Fukusaiji và Dôsha Chôgen (Đạo Giả Siêu Nguyên,
đã nhắc đến bên trên) của Suufukuji. Tuy nhiên đến khi Ẩn
Nguyên từ trong nước sang thì cả 3 ngôi chùa tên có chữ
phúc này đều bị phái Hoàng Bá (Bích)(Ôbaku-shuu) chiếm cả.
Ngay Unken Kaien sau đã trở thành đệ tử của Ẩn Nguyên.Chùa
Manfukuji (Vạn Phúc Tự) ở Uji (gần Kyôto) đóng vai trò móc
nối giữa Trung Quốc và 3 chùa tên có chữ phúc.Riêng trường
hợp Itsunen Shôyuu thì ông trước kia là người đến Nhật
buôn thuốc bắc, sau gặp Mokusu Nyôjo thì đi theo và xuất gia.
Đến khi đã mời được Ẩn Nguyên qua Nhật thì xem như trách
nhiệm đã hoàn thành nên về chùa Kôfukuji làm trụ trì.Ông
là người điêu luyện về nghệ thuật hội họa, đã truyền
bá kỹ thuật Nam họa cho người Nhật.
Quan hệ tế
nhị giữa tăng "độ lai" và tăng bản địa
Dôsha Chôgen (Đạo
Giả Siêu Nguyên) là người mà cả Kengan Zen.etsu (Hiền Nham
Thiền Duyệt, 1618-96) và Bankei Yôtaku của tông Lâm Tế lẫn
Dokuan Genkô (Độc Am Huyền Quang, 1630-98), Gesshu Shôko (Nguyệt
Chu Tông Hồ, 1618-96) cũng như Tesshin Dôin (Thiết Tâm Đạo
Ấn, 1593-1680) của tông Tào Động đều tìm đến hỏi đạo.
Đặc biệt Dokuan là người được xem như tiên khu của Tenkei
Denson (Thiên Quế Truyền Tôn, 1648-1735), đã theo học với Dôsha
suốt 8 năm trời, sau đó lại thân giao với Shin.etsu Kyôju
rồi qua thư tín, trao đổi được với cả Qui Lâm Đạo Bái
(1715-1702) bên Trung Quốc. Mặt khác, những người theo học
với Ẩn Nguyên là Gesshu Sôko (Nguyệt Chu Tông Hồ) và Manzan
Dôhaku (Vạn Sơn Đạo Bạch, 1636-1715) của tông tào Động,
Ryuukei Sôsen (Long Khê Tông Tiềm, 1602-1670) và Tetsugyuu Dôki
(Thiết Ngưu Đạo Cơ, 1628-1700) của tông Lâm Tế. Ryuukei Sôsen,
Tangetsu Jôen (Đam (Trạm) Nguyệt Thiệu Viên, 1607-1672), Tokuô
Myôshu (Ngốc Ông Diệu Chu, năm sinh và mất không rõ)và Jikuin
Sômon (Trúc Ấn Tổ Môn, 1610-77) đã hết sức vận động để
Ẩn Nguyên được trụ trì ở Myôshinji. Riêng Ryuukei là một
người trong đám họ đã đón Ẩn Nguyên về chùa Fumonji (Phổ
Môn Tự) ở đất Settsu là nơi bản thân ông trụ trì. Nhân
việc này mà ở Myôshinji xảy ra sự rắc rối vì có phe theo
phe chống. Kết cuộc Gudô Tôshoku (Ngu Đường Đông Thực,1577-1661)
không đồng ý cho nên câu chuyện bất thành. Ryuukei bị gạch
tên ra khỏi tông Lâm Tế, mới chuyển qua theo Hoàng Bá Tông.
Ryuukei nhân đó mới đổi tên thành Shôsen (Tính Tiềm). Chủ
trương chống đối tông Hoàng Bá của chùa Myôshinji đã được
trình bày trong tác phẩm Kôbaku Geki (Hoàng Bá Ngoại Ký, 1720)
của Mujaku Dôchuu (Vô Trước Đạo Trung, 1653-1744). Còn như
tông Tào Động thì nhiều người trong bọn họ vẫn gần gũi
với thiền Hoàng Bá ví dụ như học tăng Geppa Tôin (Nguyệt
Pha Đạo Ấn, 1637-1716), một người đã để lại nhiều trứ
tác.
Ẩn
Nguyên Long Kỳ (Ingen Ryuuki),
tổ
phái Hoàng Bá Nhật Bản
Ẩn Nguyên từ khi
ở Trung Quốc đã người đã nổi tiếng. Ông có một thiền
phong đặc biệt cho nên những giáo đoàn Thiền Tông đã có
sẳn không chấp nhận sự có mặt của ông. Thế nhưng Shôgun
Tokugawa
Ietsuna lại ủng hộ ông, dựng một ngôi chùa mới ở vùng
Uji (gần Kyôto) mời ông khai sơn, từ đó một tông phái mới
tức là tông Hoàng Bá (Ôbaku-shuu) đã được sinh ra. Lúc còn
sinh tiền, Ẩn Nguyên đã nhường chức trụ trì Manfukuji cho
Mokuan Shôtô (Mộc Am Tính Thao, 1611-1684). Dưới sự chỉ đạo
của Mokuan, chùa ấy hầu như đã tạo được một cảnh quan
và phong cách đặc biệt của một chùa Thiền Trung Quốc.
Mokuan dốc sức
vào việc đào tạo đệ tử. Từ trong đám môn hạ của ông
đã xuất hiện những tăng nhân Nhật Bản như Tetsugan Dôkô
(Thiết Nhãn Đạo Quang, 1630-82), Chôon Dôkai (Triều Âm Đạo
Hải, 1626-1695), Tetsugyuu Dôki (Thiết Ngưu Đạo Cơ, 1628-1700).
Tetsugan và Tetsugyuu có những nỗ lực lơn lao trong việc tế
bần, riêng Tetsugan sau trên mười năm làm việc, đã hoàn thành
việc phiên khắc và xuất bản một bộ Địa Tạng Kinh (1668-1681)
từ bộ kinh Địa Tạng thời Vạn Lịch. Bộ kinh của Tetsugan
có tên là Hoàng Bá Bản Đại Tạng Kinh hay Thiết Nhãn Bản
Đại Tạng Kinh. Mặt khác Chôon đã trứ tác Fusô Gobutsushin-ron
(Phù Tang hộ Phật Thần luận, 1687) và và Saijaron (Thôi Tà
Luận, 1688) để chống trả những lập luận bài Phật của
hai nhà nho Hayashi Razan (Lâm La Sơn, 1583-1657) và Kumazawa Banzan
(Hùng Trạch Phiên Sơn, 1619-1691). Để giáo hóa dân chúng, ông
lại viết ra các sách như Fusô Sando Kenyoroku (Phù Tang Tam Đạo
Quyền Dư Lục) đề xướng tư tưởng Thần Nho Phật nhất
trí, lại dựa và tinh thần tam giáo nhất trí ấy để biên
tập và phát hành (1675-79) Sendai kuji hongi daiseikyô (Tiên đại
cựu sự bản kỷ đại thành kinh) nhưng với dụng ý đề
cao vai trò của Phật giáo (sách nầy về sau bị coi là ngụy
thư nên cấm lưu hành). Tokuô Ryôkô (Đức Ông Lương Cao) của
tông Tào Động đã chịu ảnh hưởng của nó như đã thấy
trong tác phẩm Shinpi Kochuten (Thần bí hồ trung thiên (1708)
của ông.
Chùa Manfukuji của
tông Hoàng Bá được mạc phủ bảo bọc như thế cho nên các
lãnh chúa cũng theo gương ấy mà chi viện cho nó. Về phần
nhà chùa, họ nỗ lực trong hoạt động xã hội giáo hóa dân
chúng cho nên công việc truyền đạo dần dần được mở
rộng. Con số tháp đầu trong Manfukuji lên đến 33, trong danh
sách chùa chính và chùa chi nhánh của tông Hoàng Bá ở vùng
Yamashiro (phạm vi quanh Kyôto) cho biết con số các mạt tự
của tông lên đến 1413. Từ lúc khai sáng Manfukuji, nhiều tăng
Trung Quốc đến cư trú và tăng Trung Quốc đã thay phiên nhau
giữ chức trụ trì trong một thời gian dài. Do đó, phương
pháp Thiền và niệm Phật mãi đến về sau vẫn duy trì theo
phong cách của nhà Minh.
Thiền sư Ẩn
Nguyên Long Kỳ (Ingen Ryuuki)
Ông người tỉnh
Phúc Kiến, tương truyền năm mới 10 tuổi đã thấu hiểu
diệu lý của thiên địa tự nhiên nên đầu thân cửa Phật,
23 tuổi thì đến Phổ Đà Sơn học đạo với Chôon Dôshu
(Triều Âm Động Chủ, năm sinh và mất không rõ). Năm 29 tuổi,
xuống tóc theo Giám Nguyên Hưng Thọ (năm sinh và mất không
rõ) ở Hoàng Bá Sơn thuộc Phúc Châu. Sau khi đi hỏi đạo
nhiều nơi, trở lại Hoàng Bá Sơn, chỉ đạo cho lớp hậu
tiến và chỉnh đốn chùa chiền dưới sự chỉ dạy của
Phí Ẩn Thông Dung (1593-1661), cuối cùng, nhận pháp tự của
thầy. Trụ trì nhiều nơi trong một thời gian, đến năm 1646,
lại trở về núi cũ và trở thành trụ trì của Manfukuji.
Đến năm 1654, theo sự dàn xếp của Trịnh Thành Công, mới
cùng 30 đệ tử lấy thuyền vượt biển sang Nhật, trụ trì
ở hai chùa Kôfukuji (Hưng Phúc Tự) và Suufukuji (Sùng Phúc Tự)
ở Nagasaki.Về sau, theo lời mời của Ryuukei Sôsen (Long Khê
Tông Tiềm, đến trụ trì Phổ Môn Tự (Fumonji). Năm 1658 lại
lên Edo bái yết shôgun Tokugawa Ietsuna, được sự ngoại viện
của nhà chúa và năm 1663, được mời về khai sơn chùa Manfukuji
lúc đó mới được dựng lên. Năm 1673, viên tịch lúc 82 tuổi,
được Thiên hoàng Go Mizu-no-o ban tặng thụy hiệu là Đại
Quang Phổ Chiếu Quốc Sư. Trứ tác của Ingen gồm có Hoàng
Bá Sơn Chí (1638) viết lúc còn ở Trung Quốc, khi sang Nhật
rồi thì có soạn Hoàng Bá Hòa Thượng Phù Tang Ngữ Lục (1664),
Hoàng Bá Thanh Quy (1672) vv...Ông là con người độc lập, có
phong thái uy nghi, đã truyền đến Nhật một lối thiền niệm
Phật đặc sắc sau được gọi là Minh triều thiền. Cùng
với người đến Nhật trước ông cách đó không lâu là Đạo
Giả Siêu Nguyên (Dôsha Chôgen) là hai thiền sư đã để lại
dấu ấn sâu đậm đối với thiền giới đương thời và
đã đóng góp rất lớn vào công cuộc vận động phục hưng
của hai tông Lâm Tế và Tào Động.
Ảnh
hưởng của tông Hoàng Bá. Vai trò văn hóa của tăng sĩ Hoàng
Bá
Điều làm người
ta chú ý nhất nơi thiền sư Ẩn Nguyên cũng như các tăng sĩ
Trung Quốc sang Nhật Bản là họ đã tái lập hình thức tu
hành tập đoàn ở thất đường già lam. Đây là hình thức
tu hành cố hữu của thiền gia nhưng nó đã bị bỏ quên từ
khi Nhật Bản chọn phương thức thiền mật tham vào giai đoạn
giữa của thời Muromachi (trong tác phẩm nhan đề Mukai Nanshin
=Vụ hải nam châm hay "La bàn để định hướng trong biển
sương mù" (1672), Chôon Dôkai (Triều Âm Đạo Hải) đã cực
lực lên án lối thiền mật tham). Do đó, hoạt động của
Ấn Nguyên và tăng sĩ "độ lai" đã có hiệu quả đối với
công cuộc vận động phục hưng Phật giáo lúc đó đang chớm
lại. Những qui phạm sinh hoạt chép trong Ôbaku Shingi (Hoàng
Bá Thanh Qui) đã ảnh hưởng đến nghi thức và hành động
của các tông phái Thiền. Mô phỏng theo phong cách của tông
Hoàng Bá, các thiền đường đã được đặt ra trong chùa
chiền ở khắp nơi thay thế cho hình thức tăng đường vốn
có từ trước.
Ngày nay, trong các
đạo tràng chuyên môn của tông Rinzai (Lâm Tế Nhật Bản),
người ta không theo lối xưa nữa mà tổ chức theo cách hướng
ra phía hành lang ngồi thiền còn việc thụ trai thì ở tại
phòng ăn. Tổ chức như thế cũng vì có ảnh hưởng của tông
Hoàng Bá (ngày xưa, ở trong tông Hoàng Bá, khi đi ngủ thì
ai nấy đều phải về liêu xá (phòng ngủ) của mình). Nếu
để mắt đọc một phần qui tắc của chùa Daijôji (Đại
Thừa Tự) được chép lại trong Shôjuurin Shingi (Xương (?)
Thụ Lâm Thanh Qui) của hai tăng Gesshuu Sôko (Nguyệt Chu Tông
Hồ, 1618-1696) và Manzan Dôhaku (Vạn Sơn Đạo Bạch, 1618-1696),
chúng ta sẽ thấy tông Sôtô (Tào Động Nhật Bản) cũng chịu
ảnh hưởng của Hoàng Bá rất mạnh. Tuy nhiên, về sau, Menzan
Zuihô (Diện Sơn Thụy Phương, 1683-1769) và Gentô Sokuchuu (Huyền
Thấu Tức Trung, trụ trì đời thứ 15 của Eiheiji, 1729-1807)
đã khởi xướng một cuộc vận động phục cổ nhằm trở
về với các qui tắc cũ. Cuộc vận động ấy đã để lại
dấu vết trong Tăng Đường Thanh Qui Hành Pháp Sao (1753) của
Menzan và Vĩnh Bình Tiểu Thanh Qui (1805) của Gentô mà ngày nay
tông Tào Động Nhật Bản vẫn còn sử dụng như một điểm
tựa cho phương pháp tu hành của họ.
Mọt điểm đặc
biệt khác đáng chú ý trong hoạt động của tông Hoàng Bá
các pháp hội gọi là jukaie (thụ giới hội). Từ năm
1663 trở đi, khi lập ra giới đàn ở chùa Manfukuji, chính Ẩn
Nguyên đã soạn ra qui tắc Gukai Hôgi (Hoằng Giới Pháp Nghi,
1658) để tổ chức sự thụ giới, thế rồi đệ tử của
ông đã theo đó mà thực hành ở các địa phương. Bởi vì
tổ chức quá rầm rộ, bị các phái khác lên tiếng cho nên
về sau hình thức này chỉ còn được tổ chức ở Banfukuji
và một chùa ở Edo là Zuihôji (Thụy Thánh Tự). Tuy bị hạn
chế như vậy nhưng các pháp hội này đã là một kích thích
cho cuộc vận động phục hưng giới luật vào thời kỳ Edo.
Trong chốn thiền lâm, không thiếu gì các tăng Lâm Tế và
Tào Động thụ giới ở các giới đàn Hoàng Bá hay tổ chức
những "thụ giới hội" và mời tăng sĩ tông Hoàng Bá đến
tham dự. Để đề kháng lại phong trào này, Manzan Dôhaku bắt
đầu tổ chức thụ giới theo khuôn khổ những nghi thức đề
ra bởi Suuden (Sùng Truyền) cho nên trong tông Tào Động, đã
có những cuộc thảo luận sôi nổi về "thiền giới" (thiền
và giới) mãi đến khi có Dôjô Denkaiben (Động thượng truyền
giới biện, 1750) bàn về cách thức truyền giới của tông
môn do Manjin Dôtan (Vạn Nhận Đạo Đàn (1698-1775) chủ trường
thiền và giới chỉ là một (thiền giới nhất trí) thì tranh
cãi mới tạm ổn định.
Các tăng sĩ đến
từ Trung Quốc không những đưa sang thiền phong mà còn cả
những cái phong lưu của văn nhân đời Minh, để lại dấu
ấn sâu xa trong văn hóa Nhật Bản. Người ta gọi nó là "văn
hóa Hoàng Bá".Rõ ràng là các lãnh chúa và giới trí thức
đã tiếp nhận các tăng sĩ Hoàng Bá với tư cách nhà văn
hóa hơn là nhà truyền giáo.
Tiêu biểu cho văn
hóa Hoàng Bá là những nhân vật như Mokuan Shôtô (Mộc Am Tính
Thao, đã nói ở trên) và Sokuhi Nyoitsu (Tức Phi Như Nhất, 1616-71)
cũng như Dokutan Shôei (Độc Đam (Trạm) Tính Oánh, 1628-1706)
trong lãnh vực hội họa. Những người được ca tụng như
Ôbaku sanpitsu hay "ba cây bút của phái Hoàng Bá" (Hoàng Bá tam
bút) là Ẩn Nguyên, Tức Phi và Mộc Am, đều giỏi về thư
đạo. Dokuryuu Shôeki (Độc Lập Tính Dịch, 1596-1672) đại
diện cho nghệ thuật khắc triện (tức khắc chữ triện lên
gỗ, đá, kim loại để làm ấn tín), Nangen Shôha (Nam Nguyên
Tính Phái, 1631-92) giỏi về thơ, Kôsen Shôton (Cao Tuyền Tính
Đốn, 1633-95) giỏi về văn. Họ còn có những cống hiến
lớn lao đối với trường phái Nam họa và thư đạo theo phong
cách Trung Quốc (Karayô shodô), văn học chữ Hán của thời
tiền cận đại của Nhật. Hơn nữa, còn có những nhân vật
như tăng sĩ Nhật Bản của phái Hoàng Bá, Gekkai Genshô (Nguyệt
Hải Nguyên Chiếu, 1675-1763), vốn có dị danh là "Mãi Trà Ông"
(Baisaô) vì đã có công nâng cao và phổ biến nghệ thuật
pha trà với loại trà sấy (sencha).
Ngoài ra, như đã
nhắc đến, ảnh hưởng của tông Hoàng Bá còn thấy trên
lối kiến trúc chùa chiền theo kiểu Trung Quốc như ở Manfukuji
mà người ta gọi là "kiến trúc kiểu Hoàng Bá", chưa kể
lối tụng kinh thánh thót như hát của đời Minh gọi là bonbai
(Phạm
bái), tiệc trà chay đại chúng gọi là fucha (phổ trà)
mà những món ăn chủ yếu là món điểm tâm làm bằng bột
và dầu, đặt trên đĩa lớn rồi ăn chung. Ở đây văn hóa
Hoàng Bá đã trở thành một bộ phận của văn hóa thiền.
Cũng nên nhắc đến
Shin.etsu Kôchuu (Tâm Việt Hưng Trù) tuy không thuộc phái Hoàng
Bá, nhưng cũng là một thiền tăng đời Minh sang Nhật. Ông
đã được trọng thần và cố vấn của mạc phủ là Tokugawa
Mitsukuni (Đức Xuyên, Quang Quốc, 1628-1700) mời đến lãnh địa
ở Mito để hoạt động. Ông đặc biệt có tiếng về khắc
triện và thư đạo.
Tiến
trình của cuộc vận động phục hưng Phật Giáo
Cuộc vận động
phục hưng Phật giáo do ba thiền sư Taigu Sôchiku (Đại Ngu),
Gudô Tôshoku (Ngu Đường) tông Lâm Tế và Ban.an Eishu (Vạn
An) tông Tào Động khởi xướng, đã phát triễn đến mức
độ cao vào giai đoạn này. Trong phong trào ấy xuất hiện
hai tăng sĩ ưu tú là Bankei Yôtaku (Bàn Khuê Vĩnh Trác) thuộc
phái Quan Sơn tông Lâm Tế và Manzan Dôhaku (Vạn Sơn Đạo Bạch
) tông Tào Động. Cũng nên biết rằng Manzan là học trò của
Gesshuu Sôko (Nguyệt Chu Tông Hồ), người từng tham học với
cả Ingen (Ẩn Nguyên) và Dôsha (Đạo Giả). Điều này cho thấy
cuộc vận động phục hưng Phật giáo thời này đã mang dấu
ấn của các tăng sĩ "độ lai".
Tuy Bankei Yôtaku
(Bàn Khuê) là người "vô sư độc ngộ" nhưng tương truyền
vì không có vị thầy người Nhật nào chứng minh cho nên ông
phải nhờ đến Đạo Giả (Dosha). Bankei chủ trương fushôzen
(bất sinh thiền) [6], chỉ
dạy giáo đồ bằng một thứ tiếng Nhật dễ hiểu cho nên
có uy lực cảm hóa được đám đông. Khi giảng pháp, ông
loại bỏ từ ngữ chuyên môn, chỉ dùng ngôn ngữ bình dị
và đưa ra nhiều ví dụ cụ thể để trình bày cốt lõi của
tư tưởng thiền gia. Kể từ khi Thiền du nhập vào Nhật Bản
cho đến nay, những hiểu biết về thiền phải dựa vào sự
giải thích các công án hiểm hóc hay các điển tịch viết
bằng chữ Hán rất khó hiểu. Lối thiền của Bankei giúp cho
người đi tu khắc phục những khó khăn đó.
Bankei
Yôtaku (Bàn Khuê Vĩnh Trác, 1622-1693)
dạy
thiền với ngôn ngữ đời thường.
Thiền sư Bankei
Yôtaku (Bàn Khuê Vĩnh Trác)
Ông người vùng
Harima (gần Kobe bây giờ), con một y sĩ. Năm lên 11 tuổi, cha
mất, 17 tuổi vào chùa Akkô Tsuiôji (Xích Huệ Tùy Âu Tự)
theo học với Unpo Zenshô (Vân Phủ Toàn Tường, 1568-1653). Vì
mang mối nghi ngờ khi đọc đoạn văn có viết "Đại học
tại minh minh đức" (cái học lớn nằm ở chỗ làm sáng cái
đức sáng) trong sách Đại Học, năm 20 tuổi, mới bỏ chùa
ra đi, tu theo lối khổ hạnh. Đến năm 24 tuổi, ông trở về
với Unpo, đóng cửa tu luyện và khai ngộ. Mới đề xướng
fushôzen (bất sinh thiền), xem "tất cả mọi vật đều chưa
hề sinh ra mà đâu vẫn ra đấy". Năm 1651, ông đến Nagasaki,
hỏi đạo thiền sư người Minh là Đạo Giả Siêu Nguyên (Dôsha
Chôgen), được ông ấy chứng minh. Sau khi cư ngụ ở Yoshino
(Nara) và Okayama, ông lại đi Nagasaki tìm Đạo Giả, rồi sống
rày đây mai đó từ Kaga (tỉnh Ishikawa), Edo đến Iyo (tỉnh
Ehime) rồi về quê hương. Năm 1657, nhận ấn khả của Bokuô
Sogyuu (Mục Ông Tổ Ngưu, ? -1694) và đến 1659 thì trở thành
trụ trì Myôshinji. Năm 1611, lập ra Ryuumonji (Long Môn Tự) ở
quê nhà rồi năm 1669, lập thêm Nyôhôji (Như Pháp Tự) ở
Iyo. Năm 1672, trở về trụ trì Myôshinji, được triều đình
ban tặng áo tía. Năm 1678, lập ra chùa Kôrinji (Quang Lâm Tự)
ở Edo và khai sơn. Năm 1690, được Thiên Hoàng Higashiyama (Đông
Sơn) tứ hiệu Phật Trí Hoằng Tế Đại Sư. Năm 1693, viên
tịch ở chùa Ryuumonji, trụ thế 72 năm. Vì biết giải thích
tư tưởng Thiền Tông bằng một thứ tiếng Nhật bình dị
cho nên được từ lãnh chúa đến thứ dân tuyệt đối ủng
hộ, lại thêm qua 44 năm đi khắp nơi truyền đạo nên đã
đào tạo đông đảo đệ tử mà có người tính con số đó
lên trên 5 vạn. Ông cũng tích cực dạy dỗ phụ nữ, trong
số những người mến mộ ông có ni sư trưởng Teikan Zenni
(Trinh Nhàn Thiền Ni), một nhà hoạt động tôn giáo năng nỗ.
Ông có cả những mối thân giao với những nhân vật như tăng
Tenkei Denson (Thiên Quế Truyền Tôn) phái Lâm Tế và Kogetsu
Zenzai (Cổ Nguyệt Thiền Tài, 1667-1751) phái Tào Động. Dầu
bận rộn đến thế, ông vẫn để lại các tác phẩm như
Bàn Khuê Thiền Sư Pháp Ngữ và Bàn Khuê Thiền Sư Thuyết
Pháp. Đứng trước những thắc mắc của đủ mọi hạng người
từ thiền tăng, nho gia đến thứ dân, ông thường dựa vào
tâm cảnh mà mình đạt được, để có những lời chỉ vẻ
đích xác, cực kỳ thân ái và giản dị bằng ngôn ngữ đời
thường. Đó là hình ảnh ông để lại. Lối biểu hiện dù
có khi thấp kém tầm thường nhưng toàn thể đều phảng phất
cái phong cách của các ngữ lục đời Đường.
Mặt khác, thiền
sư Manzan Dôhaku (Vạn Sơn Đạo Bạch) đã cùng với Baihô Jikushin
(Mai Phong Trúc Tín, 1633-1707) và một só người khác có ý muốn
lập lại pháp hệ thầy truyền xuống trò ngày xưa của thời
Dôgen vốn đã bị những cơn binh lửa và thăng trầm lịch
sử suốt thời Sengoku làm cho rối loạn hay đứt đoạn. Cuộc
vận động của các ông mang tên là "tông thống phục cổ".
Nhân vì cho đến lúc đó khuynh hướng coi trọng các thế hệ
trong chùa hơn là quan hệ sư đệ rất mạnh mẽ, chức trụ
trì mới được thầy truyền thường bị thay đổi một cách
dễ dàng (gọi là việc "ỷ viện dịch sư" nghĩa là dựa vào
quyết định trong chùa mà thay người trụ trì). Do đó chủ
trương của Manzan là buộc họ sửa lại đường lối cho đúng
với phương pháp "diện thụ" (truyền thụ mặt đối mặt
giữa thầy và trò) căn cứ trên văn bản Shôbô Genzô (Chính
Pháp Nhãn Tạng) của Dôgen. Vì chủ trương của Manzan đi ngược
lại truyền thống của tông môn - ông chỉ coi trọng hình
thức "diện thụ" mà không lấy sự "ngộ đạo" làm chính
- nên đã gây ra nhiều cuộc tranh luận. Đông đảo tăng sĩ
tham gia vào cuộc luận chiến này và nhân đó, nhiều tác phẩm
liên quan đến nó đã ra đời. Thế nhưng lập trường của
Manzan lại được mạc phủ chấp nhận, ông thành công trong
việc không cho phép việc thay đổi người đã được thầy
truyền và xác định được nguyên tắc gọi là "nhất sư
ấn chứng" (isshi inshô) (những việc này đã được chép rõ
ngọn ngành trong sách Tôn Phong Phục Cổ Chí (1760) theo lời
của Sanshuu Hakuryuu (Tam Châu Bạch Long, 1669-1760), đệ tử của
Manzan, thuật lại). Manzan còn được biết như người đã
lập ra học liêu Sendanrin (Chiên Đàn Lâm) [7]
ở Kichijôji (Cát Tường Tự), mà từ nơi đó, sẽ có nhiều
gakusô[8]
tức tăng sĩ có học vấn đáng kể.
Thiền sư Manzan
Dôhaku (Vạn Sơn Đạo Bạch)
Ông người Higo
(tỉnh Hiroshima), họ Fujii. Năm 10 tuổi xuất gia, theo học Issen
Dôha (Nhất Tuyến Đạo Bá, năm sinh và mất không rõ). Năm
17 tuổi, khai ngộ với Bunshun (Văn Xuân, năm sinh và mất không
rõ). Về sau, ông còn đến tham học với Gesshuu Sôko (Nguyệt
Chu Tông Hồ, 1618-96) rồi nhận pháp tự của thầy lúc đã
42 tuổi. Nối gót Gesshuu, ông trở thành trụ trì ở Daijôji
(Đại Thừa Tự) ở Kaga (tỉnh Ishikawa) và định ra Sendanrin
Shingi (Chiên Đàn Lâm Thanh Qui) để chỉnh đốn lại cương
kỷ nhà chùa. Ông cũng có những hoạt động bố giáo ở các
chùa Kôzenji (Hưng Thiền Tự) do thầy ông dựng ra ở xứ Settsu
(vùng Ốsaka) cũng như ở Zenjôji (Thiền Định Tự) vùng Kyôto).
Năm 1700, ông cùng với Baiô Jikushin (Mai Ông Trúc Tín) kiến
nghị bài trừ tệ nạn tôn giáo với mạc phủ và điều này
được chấp thuận vào năm 1703. Từ đó, ông có danh hiệu
"phục cổ lão nhân". Trước tác của ông chủ yếu có Vạn
Sơn Hòa Thượng Quảng Lục (1740), ngoài ra ông còn biên tập
Shôbô Genzô (Chính Pháp Nhãn Tạng) bản Manzan gồm 84 quyển,
thêm 5 quyển thập di (nhặt sót) nữa, cộng lại 89 quyển).
Đặc biệt ông là người đầu tiên đã cho khắc gỗ và xuất
bản một bộ phận của sách là phần An Cư và Diện Thụ.
Nhờ những hoạt động đó mà đời sau gọi ông là vị tổ
trung hưng của tông Tào Động.
Ngoài ra, vào thời
này, nhân cơ hội sách Động Thượng Cổ Triệt [9]
(1644) của Vĩnh Giác Nguyên Hiền (1578-1657), tăng Trung Quốc,
được mang sang Nhật (sách được Baihô Jikushin cho khắc lại
vào năm 1680), có phong trào nghiên cứu nó trong nội bộ tông
Tào Động, nhất là về khái niệm "ngũ vị" tức năm địa
vị của sự giác ngộ [10].
Taihaku Kokusui (Thái Bạch Khắc Túy, ?-1700) với tác phẩm Động
Thượng Cổ Triệt Khẩu Biện, Manshitsu Sokai (Vạn Thất Tổ
Giới, còn gọi là Mộc Ẩn Tổ Giới, ? - 1681) với Tào Động
Ngũ Vị Sao, Tào Động Tông Ngũ Vị Sao Hoặc Vấn...Sau này
khái niệm ngũ vị được tông Tào Động coi trọng như căn
cước (identity) của họ và đã lần lượt được nhấn mạnh
trong các tác phẩm như Báo Ân Biên, Tào Động Tông Ngũ Vị
Biện Đích (1721) của Tenkei Denson (Thiên Quế Truyền Tôn, 1648-1735),
Ngũ Vị Chỉ Quyết Văn Thư của Menzan Zuihô (Diện Sơn Thụy
Phương), Bất Năng Ngữ Thiên Chính Ngũ Vị Thuyết của Shigetsu
Ein (Chỉ Nguyệt Huệ Ấn, 1689-1764), Tào Động Giải Thích
Động Sơn Ngũ Vị Hiển Quyết Sao, cũng như Ngũ Vị Hiển
Quyết Nguyên Tự Cước (1792) của Zenbyô Gettan (Toàn Miêu Nguyệt
Đam (Trạm), 1728-1803).
Cũng cần nhắc
thêm rằng trong thời kỳ này, người trụ trì đời thứ 30
của Eiheiji (Vĩnh Bình Tự) là Kôshô Chidô (Quang Thiệu Trí
Đường, ? -1670) đã thu lượm thông tin từ các tác phẩm của
Dôgen như Điển Tọa Giáo Huấn, Biện Đạo Pháp, Phó Chúc
Phạn Pháp, Chúng Liêu Châm Qui, Đối Đại Kỷ Ngũ Hạ Xá
Lợi Pháp, Tri Sự Thanh Qui để soạn Eihei Shingi (Vĩnh Bình
Thanh Qui, còn gọi là Nhật Vực Tào Động Sơ Tổ Đạo Nguyên
Thiền Sư Thanh Qui, 1667) và cho xuất bản. Đó là một điều
trọng yếu vì đã tạo cơ hội cho việc phục hưng truyền
thống và qui luật cổ xưa của tông Tào Động.
Giữa cao trào phục
cổ của Thiền Tông, nhiều truyện tích về các danh tăng lần
lượt xuất hiện. Những người khởi xướng công việc trước
tác này là các thiền sư tông Hoàng Bá. Trước tiên có Kôsen
Shôton (Cao Tuyền Tính Đốn, 1633-95) với Phù Tang Tăng Bảo
Truyện (1675) và Đông Quốc Cao Tăng Truyện (1688). Thứ đến
phải kể tăng Lâm Tế Mangen Shiban (Vạn Nguyên Sư Man, phái
Quan Sơn, 1626-1710) với Diên Bảo Truyền Đăng Lục (1678), Bản
Triều Cao Tăng Truyện (1702), tăng Tào Động Tangen Jichô (Đam
(Trạm) Nguyên Tự Trừng, ? -1699) với Nhật Vực Động Thượng
Chư Tổ Truyện, 1694), Tokuô Ryôkô (Đức Ông Lương Cao) với
Tục Nhật Vực Động Thượng Chư Tổ Truyện, 1708), Reinan
Shuujo (Lĩnh Nam Tú Thứ, 1675-1752) biên tập Nhật Bản Động
Thượng Liên Đăng Lục (1727). Những tác phẩm này có mục
đích khẳng định lần nữa sự có mặt của một truyền
thống Thiền Nhật Bản và nhắc nhỡ rằng truyền thống ấy
từ đây sẽ được tiếp nối. Điều đó đã được chứng
tỏ qua các tác phẩm biên tập mãi đến thời cận đại về
truyện ký các thiền tăng xuất thân từ cửa Hakuin (Bạch
Ẩn) và Kogetsu (Cổ Nguyệt) như Cận Đại Thiền Lâm Tăng
Bảo Truyện (1890) của Dokuon Shôju (Độc Viên Thừa Chu, tức
Ogino Dokuon, 1819-95) và Tục Cận Đại Thế Thiền Lâm Tăng
Bảo Truyện (1928-38) của Kobata Buntei (Tiểu Bạch Văn Đỉnh,
1870-1945).
Tiết
3 - Tông học phát đạt. Vai trò của thiền sư Hakuin (Bạch
Ẩn).
Thiền
cuối đời Edo.
|
Sự
bế tắc của chính trị mạc phủ. Văn hóa bình dân thời
Kasei (Hóa Chính)
Vị shôgun
đời thứ 8 của mạc phủ là Yoshimune (Cát Tông, tại chức
1716-45), xuất thân từ chi Kishuu (tức bán đảo Kii, thuộc
tỉnh Wakayama và Mie bây giờ) của họ Tokugawa. Ông biết tìm
cách sử dụng nhân tài, chỉnh đốn chế độ tư pháp, kiệm
ước và tăng gia thu nhập, thi hành nhiều chính sách nhằm
tái lập sự ổn định của tài chánh mạc phủ và phiên trấn.
Chính quyền của ông đã thực hiện một trong 3 cuộc cải
cách lớn của mạc phủ Edo vào năm Kyôhô (Hưởng Bảo, 1716-45).
Sau đó vì nền kinh tế hóa tệ bị xói mòn và thiên tai liên
tiếp, tài chánh của mạc phủ vốn dựa trên cơ sở nông
nghiệp gặp phải nguy cơ. Nó đã dẫn đến hai cuộc cải
cách năm Kansei (Khoan Chính, 17897-93) và Tenpô (Thiên Bảo, 1841-43).
Tuy mạc phủ thường xuyên thực thi những cuộc cải tổ như
thế nhưng kết quả không được bao nhiêu. Dần dần giới
samurai
chán nãn mệt mỏi và túng quẫn, tự viện Thiền Tông vốn
đóng vai trò hậu thuẫn cho họ cũng lâm vào cảnh khốn cùng.
Hơn nữa thế lực của liệt cường như Nga, Anh...đã bắt
đầu vươn tới, cho dầu chế độ mạc phiên có vững mạnh
đến đâu cũng bắt đầu có triệu chứng dao động. Mặt
khác, các phiên trấn ở miền Nam như Satsuma, Chôshuu, Tosa đã
thành công trong việc cải cách của họ, bắt đầu có tiếng
nói trong triều đình.
Bước vào thế
kỷ thứ 19, một nền văn hóa bình dân (chônin no bunka =văn
hóa của người kẻ chợ) gọi là văn hóa Kasei (Hóa Chính,
tên ghép chung của niên hiệu Văn Hóa hay Bunka 1804-1818 và Văn
Chính hay Bunsei = 1818-1830) mà trung tâm là Tôkyô đã bắt đầu
khai hoa. Cùng với sự phổ cập của các ngành xuất bản,
giao thương và giao thông, văn hóa ấy đã lan ra khắp nước.
Về văn chương có các cây viết tiểu thuyết Ueda Akinari (1734-1809),
Jippensha Ikku (1765-1831), về mỹ thuật có nhà hội họa Nam
họa Ike Taiga (1723-1776), Yosa Buson (1716-1783), Tanomura Chikuden
(1777-1835), về tranh ukiyo-e đề cập đến phong tục xã
hội có Katsushika Hokusai (1760-1849), Andô Hiroshige (1797-1858).
Trong tông Tào Động phải kể đến thiền sư và thi nhân Taigu
Ryôkan (Đại Ngu Lương Khoan, 1758-1831), còn tông Lâm Tế thì
đã có Sengai Gibon (Tiên Nhai Nghĩa Phạn, 1750-1837) cũng là một
thiền sư kiêm họa gia với lối vẽ độc đáo.
Về phương diện
học vấn và tư tưởng, giai đoạn này đã có những nghiên
cứu thực chứng thành công trong các lãnh vực khoa học. Quốc
học đã có Kamo no Mabuchi (1697-1769) và Motoori Norinaga (1730-1801),
y học thì phải nói đến nhà đông y chú trọng về lâm sàng
là Yamawaki Tôyô (1705-1762). Tinh thần thực chứng ấy đã được
thừa kế bởi Maeno Ryôtaku (1723-1803), Sugita Genpaku (1733-1817)
bằng cách du nhập y học Tây Phương. Ngay cả trong thiên văn
học hay lịch pháp cùng kỹ thuật trắc lượng, dần dần
người thời ấy đã biết đem học vấn Tây Phương vào nước
mình. Trong đám nho gia đã xuất hiện nhiều nhà tư tưởng
với tinh thần phê phán sắc bén như các ông Tominaga Nakamoto
(Phú Vĩnh Trọng Cơ, 1715-1746) với tác phẩm Shutsujôkôgo (Lời
thốt ra sau khi xuất định), Yamagata Bantô (Sơn Phiến Bàn Đào,
1748-1821) với Yume no Shiro (Thay cho mộng, 1820), trong đó, họ
cực lực lên án Phật giáo.
Trong khi lý luận
về diễn tiến của tư tưởng Phật giáo, Tominaga (Phú Vĩnh)
cho rằng tư tưởng Phật giáo đại thừa không thể nào là
thuyết do Thích Ca đề xướng (Đại thừa phi Phật thuyết).
Các tông phái đều cảm thấy đụng chạm vì như thế Tominaga
đã phủ định tất cả tông chỉ của họ nên chư tăng viết
không biết bao nhiêu tác phẩm để phản kích. Ngoài ra Yamagata
(Sơn Phiến) trong Yume no shiro đã dựa vào Thiên Địa Nhị
Cầu Dụng Pháp Ký (Ghi chép về cách vận hành của mặt trời
và quả đất), Thái Dương Cùng Lý Liễu Giải Thuyết (Giải
thích rõ ràng về vai trò của mặt trời), hai quyển sách về
thiên văn do nhà học giả Lan học (học thuật Tây Phương
do người Hòa Lan đem đến) (gọi là rangakusha) tên Motoki Yoshinaga
(Bản Mộc Lương Vĩnh, 1735-1794) dịch ra để trình bày về
địa động thuyết [11],
mục đích phủ định từ gốc rễ quan niệm Tu Di Sơn trong
thế giới quan Phật giáo. Điều này cũng làm cho Phật giáo
đồ thời đó cảm thấy bị xúc phạm. Vì lẽ đó, tăng sĩ
phái Thiên Thai như Fumon Entsuu (Phổ Môn Viên Thông) đã thử
tranh cãi nhưng trước tinh thần thực chứng của khoa học
hiện đại, ông ta đành phải thúc thủ.
Tuy rằng ở Nhật
việc nho gia bài bác Phật giáo không phải mới bắt đầu
có từ thời kỳ đó nhưng lập luận của những người chống
đối Phật giáo đương thời có cơ sở lý luận thực tiễn
chứ không chỉ phát ngôn trên chiều hướng dị biệt về
lập trường không thôi như từ trước đến nay. Do đó, ảnh
hưởng do họ đem đến cực kỳ to tát.Vào thời này, còn
có những tác phẩm chống đối Phật giáo gọi là "bài Phật
thư" xuất hiện, ví dụ Bendôsho (Biện đạo thư, 1735) của
Dazai Shundai (Thái Tể Xuân Đài, 1660-1748), Sôbô kigen (Thảo
mao nguy ngôn,1791) của Nakai Chikuzan (Trung Tỉnh Trúc Sơn, 1730-1804).
Ngoài ra, những học giả quốc học với tinh thần phục cổ
thần đạo như Hirata Atsutane (Bình Điền Đốc Dận, 1776-1843)
cũng ra tay bài xích Phật giáo một cách tích cực. Tất cả
đã làm cho phong trào bài Phật vào cuối đời mạc phủ lên
cao. Đặc biệt ở những phiên trấn như Mito, Okayama, Aizu,
Kagoshima vv...người ta đã bắt đầu mạnh tay xếp đặt lại
hệ thống chùa chiền và bắt buộc tăng ni hoàn tục. Việc
này chỉ là bước đầu của phong trào đánh phá Phật giáo
mang tên haibutsu kishaku tức "phế Phật hủy Thích" thời
Minh Trị.
Cuối đời mạc
phủ có những vị tăng theo chủ trương tôn quân như Motsugen
Fusen (Vật Ngoại Bất Thiên, 1785-1867, tông Tào Động) và Maigan
Dôkaku (Hối Nham Đạo Quách, 1798-1872, tông Lâm Tế) hoạt động.
Tư tưởng của họ ngoài ý thức hộ quốc và chống đối
đạo Ki-Tô, còn được tạo thành bởi một yếu tố lớn
là tinh thần hộ pháp đứng trước những luận điệu bài
Phật.
Motsugen
Fusen (Vật Ngoại, Bất Thiên, 1785-1867),
một
thiền sư của thời Duy Tân.
Tông
học phát đạt
Trong giai đoạn
này, các tông phái Phật giáo khác cũng có nhiều tăng sĩ học
vấn giỏi giang xuất hiện. Ví dụ Phượng Đàm Tăng Tuấn
(1659-1738, tông Hoa Nghiêm), Phổ Tịch Đức Môn (1707-1781, tông
Tịnh Độ), Từ Vân Ẩm Quang (1718-1804, tông Chân Ngôn). Giáo
đoàn Thiền Tông về mặt đó cũng không hề thua kém. Phía
tông Lâm Tế có các tăng sĩ như Đại Tâm Nghĩa Thống (1657-1730,
thuộc phái chùa Daitokuji tức Đại Đức Tự) là người đã
soạn Chính Đăng Thế Phổ hay Giang Nam Nghĩa Đế (năm sinh
và mất không rõ, cũng thuộc Daitokuji) tác giả của Thiền
Tịch Chí (1716) vv...Kế tiếp họ là Vô Trước Đạo Trung
(Mujaku Dôchuu, 1653-1744, người phái Myôshinji tức Diệu Tâm
Tự).
Mujaku (Vô Trước)
là nhân vật tiêu biểu của những nhà tu hành học vấn uyên
thâm của Thiền Tông dưới thời Edo. Họ đã lập ra được
phương pháp nghiêm túc để nghiên cứu văn bản và đã hiệu
đính được nhiều kinh sách cũng như để lại đời sau một
số lượng trước tác lớn lao. Lãnh vực họ quan tâm đến
không chỉ ngừng lại trong địa hạt của Thiền Tông nhưng
bao gồm cả Phật học nói chung, quốc học, Trung Quốc học,
văn học chữ Hán nữa. Trong số đó có nhiều nghiên cứu
liên quan đến Thiền Tông mà cho đến ngày nay, giá trị của
chúng vẫn không hề suy suyển, thường được sao đi chép
lại để sử dụng.
Về sau, từ tông
Lâm Tế lại có Quế Châu Đạo Luân (1714-1794, phái Gozan tức
Ngũ Sơn), Cao Phong Đông Tuấn (1714-1779, cũng thuộc phái Gozan)...xuất
hiện. Họ đều chịu ảnh hưởng phương pháp khảo chứng
học của Mujaku trong việc nghiên cứu.
Thiền sư Mujaku
Dôchuu (Vô Trước Đạo Trung)
Ông người vùng
Tajima (gần Kobe bây giờ), tục tính là Kumada. Năm 8 tuổi lên
Kyôto và xuất gia, trở thành đệ tử Jikuin Somon (Trúc Ấn
Tổ Môn, 1610-1677) của Long Hoa Viện (Ryuugein) chùa Myôshinji
(Diệu Tâm Tự), người đã đứng ra vận động cho Ẩn Nguyên
tới trụ trì ở đấy. Sau đó Mujaku đã nhận pháp tự của
thầy. Năm 25 tuổi, thầy mất, ông trở thành viện chủ đời
thứ hai.Từ thưở nhỏ, Mujaku đã hay ra vào nghe giảng kinh,
sau có lúc tham học với đệ tử của Taigu Sôchiku (Đại Ngu
Tông Trúc) là Mokuin (Mặc Ấn, năm sinh và mất không rõ), ba
lần trong đời làm trụ trì ở Myôshinji. Từ khi trẻ, ông
đã đi nhiều nơi cầu học cho nên thu thập được nhiều
kiến thức trong nhiều lãnh vực từ Thiền tịch, Phật điển,
Hán tịch, lịch pháp cho đến tiểu thuyết Trung Quốc, văn
chương cổ điển Nhật Bản, tham gia vào việc sao chép và
hiệu đính các văn bản cổ và quí hiếm. Có lúc lại giảng
nghĩa Thiền tịch và viết sách chú giải cũng như từ điển.
Ông trước tác rất nhiều, có đến 911 quyển và 374 thể
loại khác nhau. Chủ yếu có những tự điển và từ điển
Zenrin Hôgo (Thiền Lâm Phương Ngữ), Shina Zokugo (Chi Na Tục
Ngữ), Zenrin Shôkisen (Thiền Lâm Tượng Khí Tiên, 1715), Kattô
Gosen (Cát Đằng Ngữ Tiên, 1726), các sách chú giải như Kidôroku
Rikô (Hư Đường Lục Lê Canh = Cày bới Hư Đường Lục),
các bản hiệu đính của Kosonshuku Goyo (Cổ Tôn Tức Ngữ Yếu,
1731), Thiếu Lâm Tam Luận (tức Đạt Ma Đại Sư Tam luận,
1735). Tất cả đều được biên soạn một cách nghiêm chỉnh
và công lao của ông vẫn được người đời nay đánh giá
cao. Ngoài ra, đáng chú ý hơn hết là Shôsôrin Ryakushingi (Tiểu
Tùng Lâm Lược Thanh Qui, 1684), một cuốn sách cho đến bây
giờ còn sử dụng như kim chỉ nam trong các đạo tràng Lâm
Tế, Ôbaku Geki (Hoàng Bá Hạ Ký, 1720) phê phán phái Hoàng Bá
và Eihei Shôbô Genzô Nenpei (Vĩnh Bình Chính Pháp Nhãn Tạng
Niêm Bề) để đả kích kịch liệt luận cứ trong Shôbô Genzô.
Sở dĩ Mujaku đã sớm có dịp nghiên cứu tác phẩm nói trên
của Dôgen là bởi vì ông quen biết nhiều tăng sĩ phái Tào
Động là Baihô Jikushin (Mai Phong Trúc Tín).
Mặt khác, phía
tông Tào Động, sau thời Manzan Dôhaku (Vạn Sơn Đạo Bạch,
1618-1696) ít lâu mới có Tenkei Denson (Thiên Quế Truyền Tôn,
1648-1735). Thế nhưng cách suy nghĩ về sự truyền pháp của
hai ông lại đối nghịch nhau: khác với Manzan là người coi
trọng hình thức nhận pháp tự trực tiếp từ một người
thầy (diện thụ), Tenkei chủ trương chỉ có sự ngộ đạo
trong nội tâm mới là cần thiết. Do đó, môn đệ của hai
ông đã tranh luận khá lâu trong một thời gian, mãi đến khi
Menzan Zuihô (Diện Sơn Thụy Phương) xuất hiện và can thiệp
vào thì người ta mới coi quan điểm của Manzan là chính thống.
Môn phái của Tenkei chỉ vì chủ trương của mình mà bị phái
chính thống bài xích là Tenkei Jigoku hay "địa ngục của Thiên
Quế". Tuy vậy, từ phái Tenkei đã sinh ra nhiều nhà tu học
vấn giỏi giang trong đó trội hơn cả là Fuô Rôran (Phụ Ấu
Lão Noãn, 1723-1805).
Về phần Menzan
(Diện Sơn), ông sử dụng trở lại "Chính Pháp Nhãn Tạng
Ngự Văn Thư Sao" của Keigô (Kinh Hào, đồ tôn của Dôgen,
xem hệ phổ 1) lúc bấy giờ đã có được tiếng vang để
nghiên cứu một cách còn nghiêm túc hơn những công trình của
tiền nhân từ Geshuu (Nguyệt Chu) tới Manzan (Vạn Sơn) về
Seibô Genzô (Chính Pháp Nhãn Tạng). Chẳng những thế, Menzan
còn sưu tầm về hành trạng của Dôgen (Đạo Nguyên) cũng
như nghiên cứu thêm về thuyết ngũ vị, kể cả cho xuất
bản các sách như Chính Pháp Nhãn Tạng Tùy Văn Ký, ký sự
theo thầy của học trò Dôgen là Koun Ejô (Hoài Trang) vào năm
1769. Như thế ông đã xác định phương hướng tính của những
công trình nghiên cứu của mình nghĩa là tập trung vào Dôgen
và tông Tào Động (Tào Động tông học). Sự quan tâm
đến Seibô Genzô được nhen nhúm bởi Manzan và Menzan đã bùng
lên. Để đánh dấu sự nghiệp vĩ đại của Dôgen nhân ngày
giỗ lần thứ 550 của ông người phái Tào Động đã bắt
tay vào việc cho xuất bản bộ Seibô Genzô Toàn Tập gồm 95
quyển (bản bản sơn, hoàn thành năm 1816).
Từ thời Muromachi
bước qua buổi đầu thời Edo, tông Tào Động đã bước đi
cùng một nhịp điệu với tông Lâm Tế thế nhưng tông Tào
Động đã phục hưng bằng cách trở về nguồn tức tìm đến
với giáo lý của Dôgen, như thế, sự khác biệt giữa tông
phong của họ với tông phong của Lâm Tế là một yếu tố
quyết định. Còn tông Lâm Tế thì, từ đó về sau, để dễ
tìm về con đường giác ngộ (satori), họ chỉnh lý các công
án thành một hệ thống và càng ngày càng chú trọng đến
việc tự pháp bằng ấn chứng của sự ngộ đạo (ấn chứng
hệ). Hơn nữa, về phía phái Tào Động, nhân vì quan điểm
của Dôgen rõ ràng là phê phán thiền công án, theo đó, họ
xem sự tự pháp bằng "diện thụ" mới là phương pháp chính
(già lam pháp hệ). Và như thế, trong công việc tu hành, tông
Tào Động đặc biệt rất thận trọng trong việc dùng công
án.Ngoài ra, về nghi thức ở tăng đường thì Tào Động theo
nghi thức cổ xưa. Vì họ muốn nỗ lực bài trừ ảnh hưởng
của phái Hoàng Bá cho nên khi tọa thiền hay quay mặt vào vách
(trong khi các tăng Hoàng Bá nhìn ra hành lang) cũng như tổ chức
ăn cơm ở tăng đường (trong khi các tăng Hoàng Bá thụ trai
ở trai phòng), và như thế đã sinh ra những điểm khác nhau
đối với cách thức sinh hoạt của tông Lâm Tế.
Nhân vì tông Tào
Động không xem việc tìm cho được sự giác ngộ (satori) là
điều quan trọng nên họ chỉ dồn sức vào việc phát triển
học vấn. Ấy là nguyên nhân chính của sự thành hình chế
độ
gakuryô hay học liêu: ở Edo có 3 học liêu chính
(sangakurin hay tam học lâm): Sendanrin (Chiên Đàn Lâm, lập ra
năm 1592) ở chùa Kichijôji (Cát Tường Tự, khu Komagome), Shishikutsu
(Sư Tử Quật, khoảng năm 1600) ở Seishôji (Thanh Tùng Tự,
khu Shiba) và Sengakuji Gakuryô (Tuyền Nhạc Tự học liêu, khu
Takanawa). Trong các học liêu, ngoài việc truyền thụ kiến
thức về kinh điển nhà Phật và sách vở chư tổ còn giảng
về các sách chữ Hán và dạy làm thơ viết văn cũng như xuất
bản tư liệu.
Trong số những
học tăng quan trọng của tông Tào Động có hai thầy trò Shigetsu
Ein (Chỉ Nguyệt Huệ Ấn). Katsudô Honkô (Hạt Đường Bản
Quang) đã đóng góp vào việc giáo dục ở Sendanrin (Edo) và
chú thích nhiều kinh điển của tông mình. Ngoài ra phải kể
đến Manjin Dôtan (Vạn Nhận Đạo Đàn) và Kan.u Irin (Cam Vũ
Vi Lâm, 1786-1872) đã dựa trên lập trường của tổ Dôgen
phê pháp thuyết tam giáo nhất trí, hai thầy trò Genrô Ôryuu
(Huyền Lâu Áo Long, 1720-1813) và Fuugai Honkô (Phong Ngoại Bản
Cao, 1779-1847) nổi tiếng vì cùng nhau biên soạn tập công án
Tetteki Tôsui (Thiết Địch Đảo Xuy, trong đó Ôryuu tụng cổ
và Honkô bình xướng). Riêng Fuugai còn viết thêm các sách
chú thích Thiết Địch Đảo Xuy Sao và Bích Nham Lục Nhĩ Lâm
Sao (1840) cũng như giải thích về thuyết Nho Thần Phật tam
giáo nhất trí trong tác phẩm Tam Giáo Đỉnh Túc Đàm.
Học vấn dưới
thời Edo nếu phát triển được dĩ nhiên là nhờ ở sự khuyến
khích của mạc phủ, sự hoàn chỉnh của qui chế tự viện
và cũng là do sự ổn định của tình hình kinh tế. Tuy vậy,
đối với giới tăng lữ vì bị cấm đoán không thể phát
triển ra ngoài phạm vi giáo đoàn, học vấn là một trong những
lãnh vực ít ỏi mà họ có thể hoạt động một cách nghiêm
túc. Một mặt, những thành quả đạt được không phải nhỏ
nhưng mặt khác, không thể nói là họ không có khuynh hướng
làm ngơ trước những đề tài đáng lẽ quan trọng hơn nhiều
đối với người tu hành như tình cảm và thể nghiệm tôn
giáo hay vấn đề cứu độ người khác. Trên thực tế, học
vấn của họ chung qui chỉ ngừng lại ở phạm vi văn bản
học (philology) mà không biết đến thế giới hiện thực bao
quanh mình. Nhìn chung, ta thấy giới tăng sĩ thời đó ngoài
việc dồn hết tâm lực vào những điều nói trên thì không
hưởng được tự do để làm được một chuyện gì khác.
Cũng vào giai đoạn
này, Phật giáo thường bị chỉ trích là đã lún sâu vào
con đường thế tục. Theo sách Seji Kenbunroku (Thế Sự Kiến
Văn Lục, 1816) của Buyô Inshi (Vũ Dương, Ẩn Sĩ) cho biết,
trong khi tông Tào Động có qui định phải tu hành trên 20 năm
mới đạt được trình độ trưởng lão hay đại hòa thượng
thì trên thực tế, có những kẻ chẳng cần tu hành gì cả,
chỉ cần đóng 10 lượng là có thể trở thành hòa thượng.
Lại nữa, muốn trở thành trụ trì một danh lam như Eiheiji
(Vĩnh Bình Tự) phải bỏ ra một món tiền lớn là 2000 lượng.
Do đó, không mấy ai có thể chuyên tâm hành đạo.Còn như
quan tâm đến việc học, chẳng qua là một trò giải trí và
cũng không đi ra ngoài con đường thế tục hóa của tùng lâm.
Sự
hồi sinh tinh thần tham thiền Gozan. Vai trò của thiền sư Kogetsu
Zenzai (Cổ Nguyệt Thiền Tài)
Các chùa tông Lâm
Tế, kể từ sau cuộc loạn Ônin (1467-77), cũng còn nhiều nơi
tăng đường đổ nát chưa được trùng tu lại. Dĩ nhiên tài
chính là một vấn đề nhưng ngoài ra vì khuynh hướng mật
tham trở thành thời thượng, việc tham thiền tự nó đã suy
thoái nhiều nên không ai có nhiệt tình bắt tay vào việc tái
thiết. Khi thời Edo bắt đầu (1603) tình thế cũng không có
gì thay đổi cho đến khi ở các địa phương, nhờ chịu ảnh
hưởng của Dôsha Chôgen (Đạo Giả Siêu Nguyên) và các tăng
Hoàng Bá, dần dần hồi phục được việc tu hành ở các
tăng đường. Phong trào này từ địa phương đã tiến về
trung ương. Năm 1729, nhân ngày giỗ lần thứ 450 năm của người
khai sơn Tôfukuji (Đông Phúc Tự) là Tôfuku Enni (Đông Phúc
Viên Nhĩ tức Thánh Nhất Quốc Sư, 1202-1280), Zôkai Etan (Tượng
Hải Huệ Đam (Trạm), 1682-1733), một tăng sĩ có tiếng vì
các hoạt động ở địa phương, đã được mời đến hành
lễ sennin kessei (thiên nhân kết chế) [12]
ở đấy.Tôfukuji lúc đó là nơi còn giữ được một tăng
đường với hình dáng của thời trung cổ. Nhân đó, các chùa
Gozan ở Kyôto cũng dần dần mở các tăng đường tuy qui mô
của chúng nhỏ hơn vì chỉ được dựng lên bên trong các
tháp đầu chứ không liên hệ gì đến việc trùng tu thất
đường già lam.(Riêng hai chùa Myôshinji và Daitokuji thì đạo
tràng chuyên môn mở rất trễ, phải đợi đến đầu thời
Meiji mới thực hiện được). Từ năm 1734 trở đi, Nanzenji,
Tenryuuji, Shôkokuji, Kennninji, Tôfukuji thay phiên nhau mở những
cuộc hội họp gọi là kết chế (hình thức liên hoàn kết
chế). Ảnh hưởng của nó lên đến Kamakura, hai chùa Kenchôji
(1734) và Engakushi (1735) đã mời Jôzan Jakuji (Định Sơn Tịch
Nhi, 1676-1736) mở đại hội kết chế. Lúc đó các chùa khác
ở Kamakura đã suy vi: Jômyôji (Tịnh Diệu Tự) và Jufukuji (Thọ
Phúc Tự) đã trở thành chi nhánh của Kenchôji, còn Jôchiji
(Tịnh Trí Tự) phụ thuộc vào Engakuji.
Trong chế độ kết
chế (kessei), cần phải có một nhân vật chỉ đạo gọi là
sư gia (shige, nhưng đương thời gọi là tiền bản hay zenban).
Thời đó, có thể đảm đương được việc này là những
người có tầm cỡ và chỉ xuất thân từ phái Kanzan như Jôzan
Jakuji (Định Sơn, đã nhắc đến bên trên), Kogetsu Zenzai (Cổ
Nguyệt Thiền Tài, 1667-1751) và Zôkai Etan (Tượng Hải, đã
nói ở trên). Jôzan và Kogetsu đều là đệ tử Kengan Zen.etsu
(Hiền Nham Thiền Nguyệt, 1618-1696), một học trò của Dôsha
Chôgen (Đạo Giả). Còn Zôkai lại xuất thân từ dòng Daimuu
Sônin (Đại Mộng Tông Nhẫn, năm sinh và mất không rõ), một
đồng môn của Zen.etsu.
Trong nhóm nói trên,
hoạt động mạnh mẽ nhất có lẽ là Kogetsu Zenzai, người
đã từng thờ Bankei Yôtaku làm thầy và theo học ở các chùa
như Tôfukuji. Ông đã được Shimazu Tadahisa (Đảo Tân Duy Cửu,
1675-1738) mời đến trụ trì chùa Daikôji (Đại Quang Tự) ở
Hyuuga (tỉnh Miyazaki), lại được họ Arima (Hữu Mã) mời đến
khai sơn Fukujuji (Phúc Tụ Tự) ở Kurume (tỉnh Fukuoka). Kogetsu
đã đào tạo được nhiều đệ tử như Hokuzen Dôsai (Bắc
Thiền Đạo Tế, ? - 1723), Ranzan Shôryuu (Lan Sơn Chính Long,
1713-1792), Kaimon Gentô (Hải Môn Nguyên Đông, ? - 1759). Kaimon
vào Kenchôji, còn Seisetsu Dôchô (Thành Chuyết Đồng Trư, 1745-1820),
đồ tôn của Hokuzen và học trò của Gessen Zenne (Nguyệt Thuyền
Thiền Huệ, 1702-1781) thì vào Engakuji, là những người tiên
khu hòa nhập vào hệ thống Gozan (Ngũ Sơn).
Như thế, phái Kogetsu
đã lợi dụng việc phục hưng của tăng đường các chùa
Gozan để nới rộng thế lực của mình. Thế nhưng, với sự
xuất hiện của Hakuin Ekaku (Bạch Ẩn Huệ Hạc, 1658-1768),
đông đảo môn đồ phái Kogetsu đã đến tụ họp dưới trướng
của ông làm cho pháp hệ của Kogetsu đã hầu như bị dứt
tuyệt từ khi thời Meiji bắt đầu. Lý do là giữa hai môn
phái, thiền phong có những điểm không giống nhau. Tuy hai phái
đều chủ trương dùng công án để tìm về đại ngộ thế
nhưng Kogetsu không trừ khử được tính cách coi trọng kiến
thức của Gozan và của cả phái Hoàng Bá.Trong lúc đó, Hakuin
chỉ thôi thúc người ta tham thiền, ông chuyên tâm vào việc
xếp đặt công án thành hệ thống và soạn ra phương pháp
luận để chỉ đạo việc tu thiền. Hakuin đã thắng lợi
nhờ sự hấp dẫn do tính cách tôn giáo của Thiền Tông.
Ngày nay, tuy pháp
hệ Kogetsu đã tuyệt nhưng nhờ sự xuất hiện của phái ấy
mà dã có sự thay đổi lớn trong việc truyền thụ pháp tự
bên trong phái Lâm Tế và đó là điều hết sức quan trọng.
Do công lao hoạt động của Kogetsu mà pháp hệ theo ấn chứng
hệ của tông Lâm Tế mới thành lập được và dần dần
lọt vào một tay phái Kanzan (Quan Sơn). Tuy vậy, chế độ
honmatsuji
(bản mạt tự, tức chế độ chùa chính chùa phụ do mạc
phủ đặt ra) vẫn được áp dụng nên hai thứ, già lam pháp
hệ có từ xưa nay và ấn chứng pháp hệ của tông Lâm Tế,
vẫn tồn tại song song. Kể từ thời Kogetsu, trong môn phái
Lâm Tế, người ta coi trọng sự tự pháp theo ấn chứng hệ,
xem đó là điều kiện bắt buộc để trở thành sư gia (shige,
kẻ chỉ đạo). Cái rắc rối là số người có đủ điều
kiện để nhận được ấn khả cực kỳ ít cho nên nói chung
thì sự thừa kế trong các tự viện vẫn phải căn cứ trên
già lam pháp.
Sự
hình thành và phát triển của thiền Hakuin (Bạch Ẩn) gốc
Lâm Tế
Hakuin Ekaku nhận
pháp tự từ Đạo Kính Huệ Đoan,1642-1721) theo tuần tự của
hệ phổ từ Ngu Đường Đông Thực qua Chí Đạo Vô Nan đến
Đạo Kính Huệ Đoan. Như thế ông là đồ tôn đời thứ 4
của Gudô Tôshoku (Ngu Đường), một nhân vật tiên khu trong
phong trào phục hưng Phật giáo, cũng là người đã bảo vệ
tính chính thống của Thiền học đời Tống (Tống Thiền)
và từng phê bình (khuynh hướng Thiền đời Minh của) Ẩn
Nguyên.
Hakuin là một người
tầm cỡ lớn lao và ta có thể nhận thấy điều đó khi tìm
hiểu tư tưởng của ông. Tuy nhiên, cái công lớn nhất của
ông là đã phân loại các công án theo nội dung, tìm ra những
mối tương quan giữa chúng để kết nối lại thành một hệ
thống cũng như biết cách chỉ đạo người tu hành một cách
có hiệu quả. Tư tưởng của ông đã bắt nguồn từ cách
suy nghĩ của thiền gia từ đời Tống trở về sau, muốn xem
công án như một công cụ để tìm về giác ngộ, nhưng hơn
thế, ông đã biết phát triển cách sử dụng nó đến mức
tối ưu. Đó là một điều rất quan trọng trong bối cảnh
toàn bộ lịch sử Thiền Tông.
Hakuin
Ekaku (Bạch Ẩn Huệ Hạc, 1685-1768)
đã
đại thành thiền công án ở Nhật.
Thiền sư Hakuin
Ekaku (Bạch Ẩn Huệ Hạc)
Ông người Suruga
(tỉnh Shizuoka bây giờ), năm 15 tuổi xuất gia, vào Shôinji
(Tùng Lâm Tự) ở Hara học đạo với Tanrei Soden (Đơn Lĩnh
Tổ Truyền) (năm sinh ra mất không rõ), sau đó đến Daishôji
(Đại Thánh Tự) ở Numazu học với sư Sokudô (Tức Đạo,
năm sinh và mất không rõ). Đến năm 1703, dừng chân ở tăng
đường Zensôji (Thiền Tùng Tự) nhưng thất vọng vì Thiền
nên chuyên chú vào thi văn. Mãi về sau mới được khai nhãn
sau khi đọc tác phẩm Zenkan Sakushin (Thiền Quan Sách Tiến,
1600) của thiền sư thời Minh mạt Vân Thê Chu Hoằng (Unsei
Shuukô) và lên đường hỏi đạo nhiều nơi. Năm 1708 đến
Takada thuộc vùng Echigo (tỉnh Niigata bây giờ), được sự
chỉ dẫn của sư Shôtetsu (Tính Triệt, năm sinh và mất không
rõ) ở Eiganji (Anh Nham Tự) mà ngộ đạo với công án "Con
chó của Triệu Châu" (Triệu Châu Vô Tự). Tuy nhiên, mới được
như thế đã sinh lòng ngạo mạn, sau nhờ sự dạy dỗ của
Shôjuu Rôjin (Chính Thụ Lão Nhân, 1642-1721, tức thiền sư Đạo
Kính Huệ Đoan = Dokyô Etan) mới đại ngộ và nhận được
pháp tự của ông. Năm 1710, nhân sa vào trong vòng "bệnh thiền"[13],
mới tìm đến Hakuyuushi (Bạch U Tử, năm sinh và mất không
rõ), một nhà ẩn tu ở Kita-Shirakawa (vùng Kyôto) để học
phép nội quan (tập trung tinh thần quan sát nội tâm của chính
mình) để trị tuyệt chứng trạng ấy. Quá trình khắc phục
bệnh thiền về sau đã được ông ghi chép lại trong Yasen
Kanna (Dạ Thuyền Nhàn Thoại, 1757). Kể từ năm 1712 về sau
lại đi khắp nơi hỏi đạo và vào năm 1716, về lại chùa
xưa Shôinji, dùng nơi đây làm bàn đạp để đi giảng đạo
quanh vùng. Hakuin đã để lại nhiều sáng tác. Về Hán văn,
chủ yếu có Kaiankoku-go (Hòe An Quốc Ngữ, 1750), Keisô Dokuzui
(Kinh Tùng Độc Nhụy = Khóm gai nhụy độc, 1758). Viết bằng
quốc ngữ kana thì có Orategama (Viễn La Thiên Phủ, 1751), Sokkoroku
Kaien Fusetsu (Tức Canh Lục Khai Diên Phổ Thuyết, 1743), Yabukôji
(Tẩu Cam Tử, 1760), Otafuku Jôrô konahiki uta (Ngự Đa Phúc Nữ
Lang Phấn Dẫn Ca)[14] ,
Zazen Wasan (Tọa Thiền Hòa Tán) vv... Hakuin cũng giỏi về thư
đạo và hội họa. Ông phân biệt rành mạch Thiền (Zen) và
Niệm Phật (Nenbutsu), vừa nối tiếp truyền thống của công
án thiền đời Tống, vừa phân loại và hoạch định ra phương
pháp sử dụng các công án, ngoài ra còn sáng tạo ra những
công án mới như Sekishu Onjô (Chích thủ âm thanh tức Tiếng
vỗ của một bàn tay). Do đó ông được xem như bậc thầy
đã đại thành công án thiền ở Nhật Bản.
Nhờ công đức
lớn lao như vậy cho nên các đệ tử đồ tôn của ông cũng
được hưởng phước phần. Có thể xem ngày nay trên đất
Nhật, hệ phái của ông hầu như đã nắm trọn tông Lâm Tế.
Thế nhưng mặt khác, vì trong tác phẩm Sankyô.icchi no Ben (Tam
Giáo Nhất Trí Chi Biện), ông thuyết giảng "tam giáo nhất
trí" và "chư tông đẳng đồng", khuyến khích người bình
dân làm việc thiện nhưng vẫn dựa trên một tiền đề là
chế độ giai cấp (mibun seido) của thời phong kiến, cho nên
đã bị chỉ trích là chủ trương một thứ Phật giáo cổ
hủ dựa trên thể chể mạc phủ và phiên trấn. .
Môn đệ Hakuin có
rất nhiều nhưng quan trọng hơn cả là ba nhân vật là Suiô
Genrô (Toại Ông Nguyên Lô, 1719-1789), Tôrei Enji (Đông Lĩnh
Viên Từ, 1721-92), và Gazan Jitô (Nga Sơn Từ Trạo, 1727-97).
Các ông ấy người nào cũng từng theo học Kogetsu Zenzai trước
đây cả. Suiô (Toại Ông) kế nghiệp Hakuin trở thành trụ
trì của Shôinji (Tùng Âm Tự) ở Suruga. Tôrei (Đông Lĩnh)
đóng ở Ryuutakuji (Long Trạch Tự) tỉnh Mishima, nơi Hakuin đã
khai sơn, viết nhiều tác phẩm trình bày lại tư tưởng của
Hakuin như Suumon Mujintô-ron (Tông Môn Vô Tận Đăng Luận, 1748),
Shinjuubutsu Sankyô Kôkyô Kuge (Thần Nho Phật Tam Giáo Hiếu Kinh
Khẩu Giải, 1785) cũng như Goke Sanzen Yôrômon (Ngũ Gia Tham Thiền
Yếu Lộ Môn, 1788). Mặt khác, Gazan Jitô (Nga Sơn) thì đào
tạo được hai đệ tử nhiều cá tính là Inzan Ien (Ẩn Sơn
Duy Diễm, 1754-1817, người đã phục hưng chùa Zuiryuuji (Thụy
Long Tự) ở Gifu) và Takushuu Kosen (Trác Châu Hồ Tiên, 1760-1833).
Thiền phong của hai người đều có điểm độc đáo riêng.
Inzan (Ẩn Sơn) thì cao vời phóng khoáng, còn Takushuu (Trác Châu)
lại chi ly chặt chẽ. Tuy nhiên, họ đã dựng nên cơ sở đưa
đến việc việc trường phái Hakuin hầu như độc chiếm tông
Lâm Tế.
Từ cửa Inzan đã
xuất hiện Taigen Kôgen (Thái Nguyên Tư Nguyên, 1769-1837) và
Tôrin Sôju (Đường Lâm Tông Thọ, ? - 1837). Takushuu có các
đệ tử giỏi như Sozan Genkyô (Tô Sơn Huyền Kiều, 1799-1868)
và Ryôchuu Nyoryuu (Lương Trung Như Long, 1793-1868). Ryôchuu trước
kia là người của tông Hoàng Bá, sau đi theo Takushuu trên 10
năm và nhận pháp tự của thầy, sau về làm trụ trì đời
thứ 33 của Manfukuji (Vạn Phúc Tự), ra sức bố giáo, phục
hưng được chùa này. Vào thời điểm này thì thiền của
Hakuin cũng đã thẩm thấu vào trong tông Hoàng Bá rồi.
Sau đó, trong đám
môn hạ của Taigen (Thái Nguyên) lại có Gizan Zenrai (Nghi Sơn
Thiện Lai, 1802-1878) và Daisetsu Shôen (Đại Chuyết Thừa Diễn,
1797-1855). Tôrin (Đường Lâm) thì đào tạo được môn đệ
như Settan Shôboku (Tuyết Đàm Thiệu Phác, 1812-73). Settan (Tuyết
Đàm) đã giảng đạo ở nhiều chùa, chính yếu là Myôshinji,
sau đó mới đến Daitokuji, Shôkokuji (Thánh Quốc Tự) cũng
như Shôganji (Chính Nhãn Tự ở Kamo vùng Minô). Những thiền
sư đứng ra cáng đáng thiền Lâm Tế từ thời Meiji về sau
đều là môn đệ của các ông nói trên.
Hệ
Phổ Thiền Nhật Bản (3)
1) Hệ phái Kanzan
(Quan Sơn, gốc Lâm Tế) A: Từ Kanzan Egen (Quan Sơn Huệ Huyền)
qua Tokuhô Zenketsu (Đặc Phương Thiền Kiệt). Kanzan là chi lưu
của Nanpo Jômin (Nam Phố Thiệu Minh), tăng Nhật Bản du học
nhà Tống (Tống Thiền):
1 Tiết Nham Đạo
Viên -> 2 Đại Mộng Tông Nhẫn ->3 Tuyệt Đồng Bất Nhị ->
4 Tượng Hải Huệ Đam (Trạm).
Đồng 2 Hiền Nham
Thiền Duyệt ->3 Định Sơn Tịch Nhi. Đồng 3 Kogetsu Zenzai
(Cổ Nguyệt Thiện Tài) -> 4 Bắc Thiền Đạo Tế -> 5 Nguyệt
Thuyền Thiền Huệ -> 6 Tiên Nhai Nghĩa Phạm. Đồng 6 Thanh Chuyết
Chu Trừ -> 7 Thanh Lâm Âm Trúc -> 8 Cự Hải Từ Hàng -> 9 Tiều
Ẩn Tông Bật. Đồng 8 Đông Hải Xương Tuấn. Đồng 4 Hải
Môn Nguyên Đông -> 5 Thông Huyền Nguyên Thông. Đồng 4 Lan Sơn
Chính Long -> 5 Đại Đạo Huệ Vân.
2) Hệ phái Kanzan
(Quan Sơn, gốc Lâm Tế) B: Từ Kanzan Egen (Quan Sơn Huệ Huyền)
qua Toyô Eichô (Đông Dương Anh Triều). Kanzan là chi lưu của
Nam Phố Thiệu Minh, tăng Nhật Bản du học nhà Tống (Tống
Thiền):
1 Ngu Đường Đông
Thực -> 2 Nhất Ti Văn Thủ.
Đồng 2 Chí Đạo
Vô Nan -> 3 Đạo Kính Huệ Đoan -> 4 Bạch Ẩn Huệ Hạc (Hakuin
Ekaku) -> 5 Đông Lĩnh Viên Từ -> 6 Đại Quan Văn Thù. Đồng
5 Toại Ông Nguyên Lô -> 6 Xuân Tùng Thiệu Chu. Đồng 5 Dương
Châu Thiền Thứ ->6 Hải Môn Thiền Khác.Đồng 5 Đại Hưu
Huệ Phưởng. Đồng 5 Thiên Nghê Huệ Khiêm. Đồng 5 Nga Sơn
Từ Trạo -> 6 Ẩn Sơn Duy Diễm. Đồng 6 Trác Châu
Hồ Tiên.
a) Nhánh Ẩn Sơn
Duy Diễm (Inzan Ien):
1 Ẩn Sơn Duy
Diễm (Inzan Ien) -> 2 Thái Nguyên Khổng Nguyên -> 3 Đại Chuyết
Thừa Diễn -> 4 Độc Viên Thừa Chu (Ogino) [15]
-> 5 Sài Sơn Huệ Ôn (Ashikaga).
Đồng 2 Nghi Sơn
Thiện Lai -> 3 Việt Khê Thủ Khiêm (Shaku) -> 4 Hổ Quan Tông
Bổ (Kobayashi). Đồng 4 Hòa Sơn Huyền Cổ (Nishiyama). Đồng
3 Trích Thủy Nghi Mục -> 4 Yamaoka Tesshuu (Sơn Cương Thiết
Chu). Đồng 4 Điểu Vĩ Đắc Am. Đồng 4 Thanh Chuyết Nguyên
Tịnh (Seki) -> 5 Mục Ông Nguy Tông (Seki) -> 6 Tinh Canh Tổ Anh
(Hirata). Đồng 6 Đích Ông Tào Huyền (Ômori). Đồng 5 Thái
Thất Vô Văn (Yamada). Đồng 4 Nga Sơn Xương Trinh (Hashimoto)
-> Độc Sơn Huyền Nghĩa (Hashimoto). Đồng 3 Hồng Xuyên Tông
Ôn (Imakita) -> 4 Hồng Nhạc Tông Diễn (Shaku) -> 5 Tiệt Ông
Tông Hoạt (Shaku). Đồng 5 Nghiêu Đạo Huệ Huấn (Furukawa)
-> 6 Biệt Phong Tông Nguyên (Asabina).
Đồng 2 Đường
Lâm Tông Mô -> 3 Tuyết Đàm Thiệu Phác -> 4 Thái Long Văn Vị
(Nakajima).
b) Nhánh Takushuu
Kosen (Trác Châu Hồ Tiên):
1 Trác Châu Hồ
Tiên (Takushuu Kosen) -> 2 Diệu Hỉ Tông Tích -> 3 Già (Ca)
Lăng Thụy Già (Ca) -> 4 Đàm Hải Huyền Xương -> 5 Độc Đam
(Trạm) Tạp Tam (Toyoda) -> 6 Vụ Hải Cổ Lượng (Kôno) -> 7
Văn
Minh Toàn Khánh (Shibayama = Sài Sơn) -> 8 Văn Phong Thái Thạch
(Nakamura =Trung Thôn).
Đồng 2 Bồng Châu
Thiền Miêu.
Đồng 2 Thạch Ứng
Tông Mân.
Đồng 2 Hải Sơn
Tông Khác -> 3 Khuông Đạo Huệ Đàm -> 4 Cửu Phong Nhất Tinh
(Bessho).
Đồng 2 Xuân Ứng
Thiền Duyệt -> 3 Thúy Nham Văn Chu -> 4 Khoan Châu Huyền Chính
(Hanazono) -> 5 Du Thiền Huyền Đạt (Tôkai).
Đồng 2 Tô Sơn
Huyền Kiều -> 3 La Sơn Nguyên Lịch -> Đặng Châu Toàn Trung
(Nakahara). Đồng 3 Già (Ca) Sơn Toàn Lăng (Kôno) -> 4 Tông Bàn
Huyền Phương (Kenshô) -> 5 Huyền Phong Nghi Hùng (Yamamoto).
Đồng 2 Nguyệt
San Cổ Kính -> 3 Tuyết Hàng Tư Thuần.
Đồng 2 Lương Trung
Như Long (sau thuộc vào hệ Hoàng Bá sau khi học với Thạch
Tuyền Diễn Trừng) -> 3 Vạn Trượng Ngộ Quang. Đồng 3
Quan Luân Hành Thừa.
3) Tông Ôbaku
(Hoàng Bá Nhật Bản, gốc Lâm Tế nhưng ghép tư tưởng Niệm
Phật vào Thiền): do Ingen Ryuuki (Ẩn Nguyên Long Kỳ, tăng
đời Minh sang Nhật) (Minh Thiền):
1 Ẩn Nguyên
Long Kỳ (Ingen Ryuuki) -> 2 Độc Khổng Tính Sư -> 3 Thiết
Thuyền Đạo Ngạn -> 4 Huyền Lĩnh Nguyên Mân -> Khôi Sơn Tịnh
Truân -> Thạch Tuyền Diễn Trừng (thầy Lương Trung Như
Long của phái Quan Sơn gốc Lâm Tế).
Đồng 2 Huệ Môn
Như Bái -> 3 Cao Tuyền Tính Đốn -> 4 Liễu Ông Đạo Giác.
Đồng 3 Thanh Tư Chân Tịnh.
Đồng 2 Long Khê
Tính Tiềm.
Đồng 2 Mokuan
Shôtô (Mộc Am Tính Thao) -> 3 Thiết Ngưu Đạo Cơ -> 4 Siêu
Tông Như Cách -> 5 Thực Đường Tịnh Cực. Đồng 3 Triều
Âm Đạo Hải -> 4 Phượng Sơn Huyền Thụy. Đồng 3 Duyệt
Sơn Đạo Tông -> 4 Ất Đĩnh Nguyên Tân. Đồng 3 Vân Nham Đạo
Nguy. Đồng 3 Thiết Văn Đạo Trí. Đồng 3 Thiết Nhãn Đạo
Quang.
Đồng 2 Tức Phi
Như Nhất -> 3 Thiên Ngốc Tính Án (?). Đồng 3 Quế Nham Minh
Tràng.
Đồng 2 Độc Đam
(Trạm) Tính Oánh -> 3 Duyệt Phong Đạo Chương.
Đồng 2 Nam Nguyên
Tính Phái -> 3 Thiết Mai Đạo Quang -> 4 Mai Phong Nguyên Ngọc.
Đồng 2 Đại Mi
Tính Thiện -> 3 Mai Lĩnh Đạo Tuyết -> 4 Thiết Tông Nguyên
Mạch.
Địa
lý Thiền Nhật Bản (3):
Miền đông đảo
Honshuu:
Trước kia, chỉ
có chùa nằm chung quanh vùng Kamakura gần Tôkyô bây giờ. Thế
nhưng vào thời kỳ này đã có chùa thiền (Thụy Nham Tự,
cải tông từ Tendai) mở ở tận vùng Đông Bắc (Sendai, tỉnh
Miyagi). Tính từ phía bắc trở xuống:
Thụy Nham Tự (Vân
Cư trụ trì), Ngũ Hợp Am (Lương Khoan), Kỳ Viên Tự (Tâm Việt),
Chính Thụ Am (Đạo Kính), Đại Thừa Tự (Nguyệt Chu, Vạn
Sơn), Đại Trung Tự, Thụy Long Tự (Ẩn Sơn, Đường Lâm),
Long Ổn Tự, Chính Nhãn Tự (Tuyết Đàm), Tổng Ninh Tự), Hương
Tích Tự (Phong Ngoại), Ân Chân Tự (Linh Mộc Chính Tam), Trạch
Long Tự (Đông Lĩnh), Tùng Âm Tự (Bạch Ẩn, Toại Ông), Tào
Động Tông Đông Hải Đại Tăng Lục, Khả Thụy Trai, Kiến
Trường Tự (Hải Môn), Viên Giác Tự (Thành Chuyết).
Riêng vùng Edo:
-Furegashira (1 chùa
đại diện) của phái Ngũ Sơn: Kim Địa Viện (Sùng Truyền
trụ trì).
-Furegashira (3) của
phái Tào Động: Tổng Tuyền Tự, Thanh Tùng Tự (có học liêu
Sư Tử Quật), Tuyền Nhạc Tự (có học liêu).
-Furegashira của
phái Daitokuji: Đông Hải Tự (Trạch Am).
-Furegashira (4) của
phái Myôshinji: Tùng Nguyên Tự, Đông Thiền Tự, Lân Tường
Viện (Nga Sơn), Hải Thiền Tự.
-Furegashira (2) của
phái Hoàng Bá: Thụy Thánh Tự, Hải Phúc Tự.
Quang Lâm Tự (Bàn
Khuê), Trùng Tuấn Viện, Liễu Tâm Viện ( Linh Mộc Chính Tam),
Cát Tường Tự (Vạn Sơn, Chỉ Nguyệt, Hạt Đường).
Kansansetsu (3 chùa
giám sát) của Tào Động Tông: Hạ Tổng Tổng Ninh Tự, Hạ
Dã Đại Trung Tự, Vũ Tàng Long Ẩn Tự (nằm chung quanh tỉnh
Chiba ngày nay).
Miền tây đảo
Honshuu:
Long Môn Tự (Thiên
Quế), Bảo Phúc Tự (Tượng Hải)
Riêng vùng Kyôto:
Nam Thiền Tự -Kim
Địa Viện (Sùng Truyền trụ trì), Đông Phúc Tự (Định Sơn),
Tướng Quốc Tự (Đại Chuyết), Đại Đức Tự (Trạch Am),
Diệu Tâm Tự (Ngu Đường, Vô Trước, Trác Châu, Tô Sơn, Nghi
Sơn), Đại Vân Tự (Thiên Quế), Vĩnh Nguyên Tự (Nhất Ti),
Thiền Định Tự (Nguyệt Chu, Vạn Sơn), Vạn Phúc Tự (Ẩn
Nguyên, Mộc Am, Lương Trung), Phổ Môn Tự (Long Khê, Ẩn Nguyên),
Hưng Thiền Tự (Nguyệt Chu, Vạn Sơn).
Các đảo lớn
phía nam:
Vẫn thưa thớt,
chỉ có Nagasaki là có nhiều chùa lớn (4).
-Đảo Shikoku:
Như Pháp Tự (Bàn
Khuê)
-Đảo Kyuushuu:
Phúc Tụ Tự (Cổ
Nguyệt), Tam Phúc Tự gồm Hưng Phúc Tự, Phúc Tế Tự và Sùng
Phúc Tự , Đại Quang Tự (Cổ Nguyệt).
--------
[1]
- Trên chuông chùa Hôkôji (Phương Quảng Tự) ở Kyôto của
dòng họ Toyotomi có khắc 8 chữ "Quốc gia an khang,
quân thần phong lạc". Sư Suuden (Sùng Truyền), mưu thần
của Ieyasu chủ trương rằng minh văn này xẻ tên Ieyasu ra làm
đôi là có ý bất kính và nguyền rủa đối với Ieyasu (GiaKhang).Thần
phong lại là hai chữ trong tên của Toyotomi Hideyoshi (Phong
Thần Tú Cát). Đây chính ra chỉ là cách thầy trò Ieyasu
tạo ra bằng cớ để diệt trừ đối lập. Lưỡi không xương
nhiều đường lắt léo!
[2]
- Xúc đầu. Xúc (fure) = tiếp xúc, liên lạc. Đầu (kashira)
= trùm, kẻ đứng ở địa vị cao nhất. Khi đọc ghép thành
ra furegashira.
[3]
- Nhận pháp tự bằng cách bái tháp nghĩa là nhận từ một
vị thầy đã chết rồi bằng cách làm lễ trước mồ.
[4]
- Zatsugaku (tạp học) là cái học đa tạp, không nằm trong
một hệ thống nào.
[5]
- Niô = Nhân Vương, tên hai vị thần hộ pháp, bảo vệ lối
vào chùa.
[6]
- Nguyên chữ bất sinh do từ "bất sinh bất diệt", một nguyên
lý của đại thừa. Bất sinh cũng là tâm cảnh Niết Bàn (theo
TĐPH nhóm Đạo Uyển).Đó là quan niệm xem "tất cả mọi vật
đều chưa hề sinh ra mà đâu vẫn ra đấy"
[7]
- Chiên Đàn Lâm = rừng cây đàn hương. Chiên đàn (candana)
là một tên khác của bạch đàn.
[8]
- Gakusô (học tăng) có hai nghĩa. Nghĩa lịch sử khi nói về
các tăng sĩ sang Trung Quốc tu học đặc biệt vào thời Đương,
nghĩa thứ hai nói về các tăng sĩ học giả.
[9]
- Cổ triệt: vết bánh xe cũ, ý nói phương pháp tiền nhân
đã sử dụng.
[10]
- Động Sơn ngũ vị: 5 địa vị của sự giác ngộ mà Động
Sơn Lương Giới và đệ tử là Tào Sơn Bản Tịch đã nêu
ra. Đó là Chính trung thiên, Thiên trung chính, Chính trung lai,
Thiên trung chí và Kiêm trung đáo. Ngũ vị của tông Tào Động
sau cũng đã được phái Lâm Tế hấp thụ. Ngoài ra ngũ vị
còn tương xứng với tứ pháp giới của tông Hoa Nghiêm. Nó
là một công thức biện chứng tuyệt hảo của Thiền Tông
Trung Quốc ( tóm tắt theo TĐPH nhóm Đạo Uyển).
[11]
- Thuyết do nhà thiên văn Hy Lạp Aristarchos (320TTC-250TTN) và
sau đó Copernic chủ trương, cho rằng mặt trời là một định
tinh, trái đất và các ngôi sao khác chạy quanh nó.
[12]
- Thiên nhân = một nghìn người nhưng nói bóng là nhiều người.
Kết chế = hội họp, kết hợp thành đoàn. Như vậy, thiên
nhân kết chế đối lập với mật tham một thầy một trò.
[13]
- Nguyên văn "thiền bệnh" nghĩa là tham thiền với những tư
duy không đúng đắn hay tu hành quá độ.
[14]
- Những chữ Hán-Nhật được chép ra đây chỉ có mục đích
trưng dẫn, phải xem nội dung từng cuốn mới hiểu được.
Không nên hiểu bằng cách dựa theo nghĩa chữ Hán thông thường.
[15]
- Tên Nhật của thiền sư. Vì ông tên Ogino (Địch Dã) nên
có thể gọi bằng cách thứ hai là Địch Dã Thừa Chu (Ogino
Jôshuu) thay cho Độc Viên Thừa Chu (Dokuen Jôshuu).
|