Đạo của vật lý
The Tao of Physics
Tác giả:
Fritjof Capra
Nguyễn Tường Bách
dịch
III CÁC TƯƠNG ĐỒNG
CHƯƠNG 10. TÍNH NHẤT THỂ CỦA
VẠN SỰ
Một nhà Ấn Độ giáo hay Lão giáo có thể nhấn mạnh những
khía cạnh khác nhau về sự chứng thực; có thể một Phật tử Nhật Bản biểu
hiện kinh nghiệm của mình khác hẳn với Phật tử ấn Độ, thế nhưng những yếu
tố cơ bản của thế giới quan trong mọi truyền thống này là giống nhau.
Những yếu tố này dường như cũng là cơ sở của thế giới quan xuất phát từ
vật lý hiện đại.
Đặc điểm quan trọng nhất của thế giới quan phương Đông
là - ta có thể nói cốt tuỷ của nó - ý thức về tính nhất thể và mối tương
quan của mọi sự vật và mọi biến cố, nhận thức rằng mọi hiện tượng trong
thế giới đều là biểu hiện của một thực thể cơ bản duy nhất. Tất cả mọi sự
vật đều được xem như có liên quan với nhau và là thành phần bất khả phân
của một cái toàn thể trong vũ trụ, là những hiện thân khác nhau của một
thực tại cuối cùng. Các truyền thống phương Đông đều căn cứ trên thực tại
cuối cùng này, một thực tại không thể phân chia, nó xuất hiện trong mọi
thứ, và tất cả mọi vật đều là thành phần của nó. Trong ấn Độ giáo, thực
tại đó được gọi là Brahman, trong Phật giáo là Pháp thân, trong Lão giáo
là Đạo. Vì nó đứng ngoài mọi khái niệm và phân loại nên Phật giáo gọi nó
là Chân Như hay Cái là như thế:
Tâm chân như là tâm tánh bất sinh bất diệt. Thể và
tướng của nó to lớn bao trùm tất cả các pháp.
Trong đời sống hàng ngày ta không thấy tính nhất thể của
sự vật mà chia thế giới ra thành vật thể và biến cố riêng lẻ. Sự chia chẻ
này hiển nhiên là có ích và cần thiết để có thể giải quyết công việc hàng
ngày, nhưng nó không đúng với tính chất cơ bản của thực tại. Đó là một quá
trình trừu tượng hóa của đầu óc phân biệt và xếp loại của ta, một ảo giác.
Ấn Độ giáo và Phật giáo cho rằng ảo giác này là do vô minh mà ra,
thứ vô minh làm óc ta bị huyễn thuật chi phối. Do đó, mục đích đầu
tiên của truyền thống đạo học phương Đông là sửa lại đầu óc cho đúng,
bằng cách thiền quán và tĩnh lặng. Từ Sanskrit của thiền quán là Samadhi,
có nghĩa sự thăng bằng tâm linh. Nó nói đến trạng thái, trong đó
con người chứng thực được sự nhất thể với vũ trụ:
Khi thể nhập được tâm thanh tịnh thì Bồ Tát đạt tri
kiến viên mãn và chứng được nhất thể của Pháp giới.
Tính nhất thể căn bản này cũng là một trong những phát
hiện quan trọng nhất của nền vật lý hiện đại. Nó hiện rõ trong lĩnh vực
nguyên tử và biểu hiện càng rõ hơn nữa khi ta nghiên cứu sâu hơn trong
lĩnh vực vật chất, đi xuống tầng lớp của hạt hạ nguyên tử. Tính nhất thể
của mọi sự và của mọi biến cố luôn luôn xuất hiện khi ta so sánh vật lý
hiện đại và đạo học phương đông. Khi nghiên cứu những mô hình của vật lý
hạ nguyên tử, ta thấy chúng luôn luôn phát biểu bằng nhiều cách khác nhau,
dẫn đến một kiến giải duy nhất: đó là các thành phần vật chất và những
hiện tượng tham gia, tất cả đều nằm trong một mối liên hệ với nhau và phụ
thuộc lẫn nhau; chúng không thể được xem là đơn vị độc lập, mà là thành
phần bất khả phân của một cái toàn thể.
Trong chương này tôi sẽ dựa trên phân tích và quan sát
thuyết lượng tử để trình bày mối tương quan trong thiên nhiên.
Trước hết tôi xin trở lại sự phân biệt giữa cơ cấu toán
học của một lý thuyết và cách lý giải bằng ngôn từ của nó. Cơ cấu toán học
của thuyết lượng tử đã được nhiều thí nghiệm khẳng định và được thừa nhận
là nhất quán và chính xác để mô tả tất cả các hiện tượng nguyên tử. Thế
nhưng cách lý giải bằng ngôn từ của nó, tức là ý - nghĩa triết học của
thuyết lượng tử lại chưa có một cơ sở vững chắc. Thực tế là nhà vật lý
suốt hơn bốn mươi năm qua chưa đưa ra được một mô hình triết lý rõ rệt về
nó.
Các thảo luận sau đây dựa trên phép lý giải của
trường phái Copenhagen về thuyết lượng tử, trường phái do Bohr và
Heisenberg triển khai trong cuối những năm hai mươi mà vẫn còn được xem là
mô hình được thừa nhận nhất. Sau đây tôi dựa vào báo cáo của Henry Stapp
của đại học California. Báo cáo đã đề cập đến một số khía cạnh của lý
thuyết này, đến một loại thí nghiệm nhất định mà ta thường gặp trong vật
lý hạ nguyên tử. Bản báo cáo của Stapp chỉ rõ, thuyết lượng tử cho thấy
một mối liên hệ then chốt trong thiên nhiên và nó cũng đặt thuyết này vào
một khuôn khổ có thể mở rộng cho mô hình tương đối của hạ nguyên tử mà ta
sẽ thảo luận sau.
Điểm xuất phát của trường phái Copenhagen là sự phân
chia thế giới cơ lý ra hai hệ thống: một hệ thống được quan sát và hệ
thống quan sát. Hệ thống được quan sát có thể là một nguyên tử, một hạt hạ
nguyên tử, một quá trình trong thế giới nguyên tử v.v… Hệ thống quan sát
gồm có các máy móc quan sát, gồm một hay nhiều quan sát viên. Điều này dẫn
đến cái khó cơ bản là hai hệ thống này được “đối xử” khác nhau. Hệ thống
quan sát thì được mô tả bằng ngôn từ của vật lý cổ điển, thế nhưng các
ngôn từ này lại không phù hợp để mô tả hệ thống được quan sát. Chúng ta
biết rằng khái niệm của vật lý cổ điển là không đủ nhất quán để mô tả bình
diện nguyên tử, thế nhưng ta phải dùng nó để trình bày thí nghiệm và xử lý
kết quả. Mối mâu thuẫn này không có lời giải. Ngôn ngữ kỹ thuật của vật lý
cổ điển chỉ là ngôn ngữ bình thường có thêm chút tinh tế, và nó là ngôn
ngữ duy nhất mà ta có thể dùng để lý giải, trình bày kết quả thí nghiệm.
Hệ thống được quan sát được mô tả trong thuyết lượng tử
dưới dạng xác suất. Điều đó là có nghĩa là ta không bao giờ nói được một
cách chắc chắn vị trí của một hạt đang ở đâu, cũng không nói được một tiến
trình nguyên tử sẽ xảy ra thế nào. Thí dụ, những hạt hạ nguyên tử mà ta
biết hiện nay, phần lớn chúng không ổn định, có nghĩa là sau một thời gian
chúng sẽ tự phân hủy thành những hạt khác. Thế nhưng ta không tiên đoán
được thời gian này là bao lâu. Ta chỉ có thể nói về xác suất phân hủy sau
một thời gian nhất định, cụ thể hơn, ta chỉ biết được thời gian sống trung
bình của một số lớn hạt đó là bao nhiêu. Tương tự như thế ta chỉ nói về
xác suất của tiến trình phân hủy của chúng. Nhìn chung, một hạt thiếu ổn
định có thể phân hủy biến thành nhiều cách phối hợp khác nhau của những
hạt khác, và ta lại không biết hạt đó sẽ mang hình dáng phối hợp nào.
Chúng ta chỉ có thể tiên đoán, trong một số lượng lớn các hạt thì khoảng
60% của chúng sẽ chuyển ra thế này, 30% sẽ chuyển ra thế khác và 10% sẽ
chuyển theo kiểu thứ ba. Rõ ràng là người ta phải đo lường rất nhiều mới
có một bảng thống kê nhằm xác định kết quả. Và trong các cuộc thí nghiệm
của các hạt va chạm nhau với tốc độ cao, thì thực tế có hàng chục ngàn hạt
va chạm nhau được ghi nhận và phân tích để xác định xác suất của một tiến
trình nhất định.
Thế nhưng điều quan trọng cần biết là, sự phát biểu có
tính thống kê về qui luật của vật lý nguyên tử và hạ nguyên tử không hề
nói lên sự mơ hồ của ta về tiến trình cơ lý này, như sự dự đoán xác suất
của các hãng xưởng chuyên ngành bảo hiểm hay trò chơi may rủi. Trong
thuyết lượng tử, ta đã thừa nhận tính xác suất là tính chất căn bản
trong vật thể của thế giới nguyên tử, nó điều hành mọi tiến trình, thậm
chí nó quyết định vật chất có tồn tại hay không. Trong thế giới nguyên tử,
hạt không hiện hữu một cách chắc chắn nơi một vị rí nhất định, mà nó chỉ
có khả năng hiện hữu và tiến trình nguyên tử cũng không nhất thiết
phải xảy ra trong một thời điểm hay một cách thế nhất định, nó chỉ có
khả năng xảy ra.
Thí dụ, không thể nói chắc chắn rằng liệu một eletron
nằm ở đâu trong nguyên tử tại một thời điểm nhất định. Vị trí của nó tùy
thuộc vào lực hút của nhân và vào ảnh hưởng của electron khác của nguyên
tử. Điều kiện này quyết định cấu trúc của xác suất lưu trú của nó trong
những không gian khác nhau của nguyên tử.
Hình trên nói lên vài mô hình về cơ cấu của xác suất lưu
trú electron. Xác suất đó lớn nơi các vùng sáng, nhỏ nơi các vùng tối. Cần
để ý là, toàn bộ hình này diễn tả electron trong một thời điểm cho sẵn.
Trong một hình, ta không chỉ rõ được electron ở nơi nào, chỉ nói lên khả
năng nó có thể ở đâu. Trong dạng toán học của thuyết lượng tử khả năng hay
xác suất đó được trình bày bằng các hàm số xác suất, nó cho biết khả năng
tìm thấy một electron trong một thời điểm hay một chỗ nhất định là bao
nhiêu.
Mối mâu thuẫn giữa hai cách mô tả - một bên là khái niệm
cổ điển về việc xếp đặt máy móc thí nghiệm, bên kia là hàm số xác suất cho
vật muốn quan sát - dẫn đến một vấn đề triết học mà đến nay cũng chưa giải
quyết được.
Trong thực tế để né tránh vấn đề này khi nói về hệ thống
quan sát, người ta cho những chỉ dẫn, giúp nhà khoa học thiết kế máy móc
thí nghiệm khỏi bị mô tả là một đơn vị có tính cô lập.
Để trình bày thêm về việc quan sát thế giới nguyên tử,
ta hãy lấy một thí dụ giản đơn nhất, một đơn vị cơ lý, là xét một
electron. Khi muốn quan sát và đo lường một hạt như thế, chúng ta phải
bằng cách nào đó tìm cách cô lập nó, trong một tiến trình gọi là tiến
trình chuẩn bị. Một khi hạt đã được chuẩn bị để quan sát rồi, ta đo
lường tính chất của nó, đó là tiến trình đo lường. Ta có thể diễn
tả tượng trưng tiến trình này như sau: một hạt được chuẩn bị trong không
gian A, nó chuyển động từ A đến B và được đo trong không gian B. Trong
thực tế thì sự chuẩn bị cũng như sự đo lường thường gồm một loạt tiến
trình phức tạp. Thí dụ ở thí nghiệm va chạm nhau trong vật lý cao năng
lượng, các hạt được gia tốc trong những ống tròn, di chuyển ngày càng
nhanh cho đến lúc đầy đủ năng lượng. Tiến trình này xảy ra trong thiết bị
gia tốc hạt. Sau khi đủ năng lượng, nó được rời máy gia tốc (A) để được
chuyển tới không gian đích (B), nơi đó lại va chạm các hạt khác. Sự va
chạm này xảy ra trong phòng đo và các hạt để lại vết của chúng có thể được
ghi lên hình. Sau đó dựa trên sự phân tích toán học các vết đó mà người ta
suy ra tính chất của hạt. Những phép phân tích đó có thể rất phức tạp và
thường được thực hiện bằng máy vi tính. Đó là tiến trình đo lường.
Điều cần ghi nhớ trong phép phân tích các quan sát này
là, hạt là một hệ thống trung gian, nó nối kết hai tiến trình tại A và B
với nhau. Chỉ trong mối liên hệ này nó mới hiện hữu và có nghĩa; hạt không
phải là một đơn vị độc lập mà bản thân nó là mối liên hệ giữa tiến trình
chuẩn bị và đo lường. Tính chất của hạt không thể xem là độc lập khỏi
những tiến trình đó. Nếu sự chuẩn bị hay sự đo lường thay đổi thì tính
chất của hạt cũng thay đổi theo.
Mặt khác một sự thực là, khi nói về một hạt hay bất cứ
một hệ thống nào khác, chúng ta cứ đinh ninh nó là một đơn vị cơ lý độc
lập, nó được chuẩn bị, nó được đo lường. Vấn đề then chốt trong việc quan
sát trong vật lý nguyên tử là - dùng chữ của Henry Stapp - “phải cô lập hệ
thống được quan sát mới định nghĩa được nó; nhưng muốn quan sát được nó
thì nó phải chịu sự tương tác”. Vấn đề này được thuyết lượng tử giải quyết
một cách thực tiễn, đó là sự đòi hỏi hệ thống được quan sát không bị các
yếu tố bên ngoài tác động bởi các yếu tố sinh ra trong lúc quan sát, kéo
dài từ lúc chuẩn bị đến lúc đo lường. Điều kiện này có thể thỏa ứng nếu
máy móc chuẩn bị và thiết bị đo lường đặt xa nhau, để cho vật được quan
sát có thể đi từ chỗ chuẩn bị đến máy đo được.
Như thế thì khoảng cách bao xa mới được? Theo nguyên tắc
thì nó phải xa vô tận. Trong khuôn khổ của thuyết lượng tử thì khái niệm
về một đơn vị cơ lý riêng biệt chỉ thật sự chính xác khi đơn vị này xa máy
đo với khoảng cách vô tận. Trên thực tế thì điều đó dĩ nhiên không thể có,
và cũng không cần thiết. Chúng ta hãy nhớ đến nguyên tắc cơ bản của khoa
học hiện đại là, tất cả khái niệm và lý thuyết đều mang tính gần đúng.
Trong trường hợp này thì đối với khái niệm của một đơn vị riêng biệt, ta
cứ lấy một định nghĩa gần đúng là đủ, một định nghĩa chính xác là không
cần thiết. Ta làm điều đó như sau:
Vật được quan sát là một biểu hiện của sự tương tác giữa
tiến trình chuẩn bị và tiến trình đo lường. Sự tác động này thường phức
tạp và mang nhiều hiệu ứng khác nhau, có khoảng cách khác nhau. Trong vật
lý ta nói chúng có biên độ khác nhau. Nếu thành phần chính của tác
động này có biên độ lớn thì biểu hiện của hiệu ứng theo biên độ của nó mà
đi ra xa. Trong trường hợp này thì sự biểu hiện được xem như độc lập với
sự nhiễu loạn bên ngoài và có thể xem là đơn vị vật lý riêng biệt được.
Trong khung cảnh của thuyết lượng tử thì các đơn vị vật lý riêng biệt
chỉ là sự lý tưởng hóa và chúng chỉ có ý nghĩa khi thành phần chủ yếu của
sự tương tác có một biên độ đáng kể. Người ta có thể dùng biểu thức toán
học để định nghĩa chính xác một trạng thái như vậy được. Về mặt vật lý thì
điều này có nghĩa là các máy đo phải nằm xa nhau để cho tương tác của
chúng xảy ra thông qua sự hoán chuyển của một hạt, hoặc trong trường hợp
phức tạp hơn là một nhóm hạt. Luôn luôn ta thấy có thêm những hiệu ứng
phụ, khi nào các máy đo nằm xa nhau thì ta có thể bỏ qua những hiệu ứng
phụ đó. Chỉ khi các máy đo nằm gần nhau quá, những hiệu ứng phụ vốn có
biên độ nhỏ bây giờ mới đáng kể. Trong trường hợp này thì cả hệ thống vĩ
mô (đo và bị đo) trở thành một khối toàn thể và khái niệm của một vật bị
quan sát sẽ không đứng vững nữa.
Thuyết lượng tử đã trình bày rõ ràng mối liên hệ nội tại
chủ yếu của vụ trụ. Nó chỉ ra rằng, chúng ta không thể chia thế giới ra
từng hạt nhỏ độc lập với nhau. Khi nghiên cứu sâu về vật chất ta thấy
chúng do nhiều hạt kết lại, nhưng chúng không phải là những viên đá cơ bản
theo nghĩa của Demokritus và Newton.
Chúng chỉ là sự lý tưởng hóa; trên thực tiễn thì nó có
ích, nhưng không có ý nghĩa đích thực. Niels Bohr nói: “Các hạt vật chất
độc lập chỉ có trong sự trừu tượng, tính chất của chúng chỉ có thể định
nghĩa và quan sát trong tương tác với các hệ thống khác”.
Cách lý giải của trường phái Copenhagen về thuyết lượng
tử không được tất cả mọi người thừa nhận. Có nhiều ý niệm khác và những
vấn đề triết học liên hệ chưa giải quyết được. Thế nhưng mối tương quan
chung giữa mọi sự vật và biến cố dường như là một tính chất căn bản của
thực thể nguyên tử, nó không liên hệ gì với sự giải thích của một mô hình
toán học nhất định. Những câu sau đây của David Bohm, một trong những
người chống lại trường phái Copenhagen, khẳng định hùng hồn thực tế này:
Ta phải tiến đến khái niệm của một cái toàn thể bất
khả phân, nó phủ nhận ý niệm cổ điển chuyên nghiệp phân tích thế giới ra
những thành phần độc lập và cách ly… Ta quá bảo vệ quan điểm cũ về những
hạt cơ bản, cho nó là thực tại đích thực của thế giới, và mọi hệ thống chỉ
là dạng hình khác nhau chứa đựng những hạt đó. Đúng hơn, thực tại cơ bản
là mối liên hệ lượng tử, không cách ly được của một cái toàn thể, và những
thành phần tương đối độc lập chỉ là những dạng đặc biệt nằm trong thể
chung đó.
Trên bình diện nguyên tử, vật thể cứng chắc của vật lý
cổ điển đã chuyển thành những cấu trúc có tính xác suất. Những cơ cấu này
không nói lên xác suất hiện hữu của vật chất, mà nó nói lên xác suất của
tương tác. Thuyết lượng tử buộc chúng ta phải nhìn vũ trụ không phải là
một tập hợp của vật thể lý tính mà một tấm lưới phức tạp, chằng chịt những
liên hệ của những thành phần, thống nhất trong một tổng thể. Đó chính là
cách thế mà đạo học phương Đông đã chứng thực về thế giới và vài người
trong đó đã nói về sự chứng thực này hầu như với cùng ngôn từ với nhà vật
lý nguyên tử. Sau đây là vài thí dụ:
Vật thể vật chất… bây giờ đã khác với những gì chúng
ta thấy, không phải là một vật thể độc lập với môi trường chung quanh của
thiên nhiên, mà là một phần không thể tách rời và thậm chí nó là phát biểu
một cách tinh tế của cái nhất thể, cái nhất thể đó bao trùm mọi cái ta
thấy.
S.Aurobindo
Tính chất và sự hữu hiện của sự vật xuất phát từ
những mối tương quan mà ra, tự nó không có gì cả.
Long thụ (Nagarjuna)
Một khi những lời trên có thể xem là sự mô tả thiên
nhiên trong vật lý nguyên tử thì hai phát biểu sau đây của nhà vật lý
nguyên tử lại có thể xem như sự mô tả về chứng thực của đạo học:
Một hạt cơ bản không phải là một đơn vị tồn tại độc
lập, có thể phân tích được. Nó không gì hơn là một loạt những mối liên hệ,
chúng vươn mình ra ngoài, với tới những vật khác.
H.P.Stapp
Theo cách thế này thì thế giới hiện ra như một mạng
lưới gồm toàn những tiến trình, trong đó hiện diện rất nhiều cách liên hệ
kỳ lạ cứ tạo ra nhau, tác động lẫn nhau và với cách đó mà chúng quyết định
cơ cấu của toàn bộ mạng lưới.
W.Heisenberg
Hình ảnh sự móc nối này của mạng lưới vũ trụ trong vật
lý hiện đại đã được phương Đông sử dụng nhiều nhằm trao truyền kinh nghiệm
của họ về thế giới tự nhiên. Trong Ấn Độ giáo thì Brahman là sợi dây nối
kết của tấm lưới vũ trụ, là nguyên nhân cuối cùng của mọi hữu hiện:
Trên trời dưới đất, trong khí quyển, tát cả đều dệt,
và ngọn gió cũng như hơi thở. Chỉ mình ngươi biết, cái đó chỉ là một linh
hồn duy nhất.
Trong Phật giáo, hình ảnh của một tấm lưới vũ trụ đóng
một vai trò quan trọng hơn nữa. Nội dung trung tâm của Kinh Hoa Nghiêm,
một trong những kinh quan trọng của Phật giáo Đại thừa, xem thế giới là
một tấm lưới toàn hảo về mối tương quan, trong đó mọi sự vật và biến cố
tác động lên nhau, trùng trùng duyên khởi vô tận. Phật giáo Đại thừa đã
tìm nhiều ẩn dụ để diễn bày mối liên hệ nội tại này của vũ trụ, một số đó
sẽ được nói đến sau trong quan điểm tương đối của thuyết dung thông
(boot-strap theory) của vật lý hiện đại. Cuối cùng, quan điểm mạng lưới vũ
trụ cũng đóng vai trò trung tâm trong Phật giáo Tantra (Mật giáo), một
nhánh của Đại thừa xuất phát từ Ấn Độ vào thế kỷ thứ ba trước Công nguyên
và ngày nay là trường phái chính của Phật giáo Tây Tạng. Kinh sách trường
phái này được gọi là “Tantra”, một từ gốc Sanskrit mang nghĩa “lưới dệt”
và ám chỉ sự liên hệ và tương tác của mọi sự vật và biến cố.
Trong đạo học phương Đông thì mạng lưới vũ trụ đó luôn
luôn chứa đựng cả người quan sát và ý thức của nó, và điều đó cũng đúng
trong vật lý nguyên tử. Trong bình diện nguyên tử thì vật thể chỉ
được hiểu trong mối quan hệ giữa tiến trình chuẩn bị và đo lường. Đoạn
cuối của tiến trình này luôn luôn nằm trong ý thức của người quan sát. Sự
đo lường là một tiến trình, nó gây trong ý thức ta sự cảm thọ, thí
dụ sự thấy một tia sáng chớp hay một vệt đen trên chế bản, và qui luật của
vật lý nguyên tử cho ta biết rằng, với một xác suất nào một vật thể hạt
nhân sẽ gây nên một cảm thọ nhất định nếu ta chịu tương tác với nó.
Heisenberg viết: Khoa học tự nhiên không mô tả và lý giải về tự nhiên đúng
như nó - là - như - thế. Đúng hơn, khoa học tự nhiên là một phần của tiến
trình tương tác động qua lại giữa tự nhiên và chính chúng ta”.
Nguyên lý then chốt của vật lý nguyên tử là người quan sát
không chỉ cần thiết để quan sát tính chất sự vật, mà còn cần thiết để định
nghĩa tính chất đó. Trong vật lý nguyên tử, ta không thể nói tính chất sự
vật tự nó được nữa. Chúng chỉ có nghĩa trong mối quan hệ giữa vật được
quan sát và người quan sát.
Heisenberg viết: “Điều mà ta quan sát được, không phải
là thế giới tự nhiên tự nó, mà là thế giới đã bị câu hỏi của ta tác động
lên”. Quan sát viên là người quyết định muốn đo lường điều gì và chính sự
tổ chức đo lường này quyết định một phần tính chất của vật được quan sát.
Khi phép đo bị thay đổi, thì tính chất của vật được quan sát cũng thay đổi
theo.
Điều này có thể giải thích trong trường hợp đơn giản
nhất của một hạt hạ nguyên tử. Khi quan sát một hạt như thế người ta có
thể đo vị trí và xung lực. Trong chương tới chúng ta sẽ thấy một
định luật quan trọng của thuyết lượng tử - định luật bất định của
Heisenberg, nó nói rằng ta không bao giờ cùng lúc đo được chính xác hai
đại lượng này. Hoặc chúng ta có thể xác định được vị trí của hạt và không
hề biết gì về xung lực (tức là về vận tốc), hoặc là ngược lại, hoặc ta chỉ
biết không chính xác về hai trị số đó.
Sự giới hạn này không liên quan gì với việc máy đo có
tốt hay không, nó là một giới hạn có tính nguyên tắc, có sẵn trong thực
thể của thế giới nguyên tử. Nếu ta đo vị trí của hạt thì hạt không có một
xung lực có thể định nghĩa được và khi ta đo chính xác xung lực thì nó
không có vị trí có thể định nghĩa được.
Trong vật lý nguyên tử, nhà khoa học không thể đóng một
vai trò của một quan sát viên khách quan, không tham dự được, mà
anh ta bị lôi vào trong thế giới bị quan sát và gây ảnh hưởng lên tính
chất của vật bị quan sát. Tính chất mà quan sát viên bị đưa vào tiến trình
của thí nghiệm được nhà khoa học Jonhn Wheeler xem là nét quan trọng nhất
của thuyết lượng tử. Do đó ông khuyên ta nên thay chữ quan sát viên
bằng từ tham dự viên. Ông viết:
Về thuyết lượng tử thì không gì quan trọng hơn điều
này, nó phá hủy quan niệm về thế giới “tự nó”, phá hủy một tấm kính an
toàn dày 20 cm cách ly thế giới với quan sát viên. Kể cả việc chỉ quan sát
một vật tí hon như electron, quan sát viên cũng phải đập vớ tấm kính. Anh
ta phải tới với nó, phải đặt để thiết bị quan sát. Tùy nơi anh, muốn đo vị
trí hay xung lực. Khi thiết kế thiết bị nhằm đo cái này thì cái kia không
thể đo được. Hơn thế nữa, duy việc đo lường đã thay đổi trạng thái của
electron. Sau đó thì thế giới không còn như trước nữa. Muốn mô tả điều gì
đã xảy ra, người ta phải gạch bỏ từ cũ “quan sát viên” mà thay vào đó chữ
mới “tham dự viên”. Trong một ý nghĩa kỳ lạ nào đó thì vũ trụ là một vũ
trụ đang tham gia.
Ý niệm tham dự thay vì quan sát này mới
được vật lý hiện đại khám phá gần đây, thế nhưng người nào tìm hiểu đạo
học phương Đông đều đã biết tới nó. Tri kiến tâm linh không bao giờ nhờ
quan sát mà đạt được, mà là nhờ sự tham gia toàn vẹn với tất cả tính chất
của mình. Khái niệm tham gia do đó trở thành then chốt trong thế
giới quan phương Đông. Các nhà đạo học phương Đông còn đi xa hơn nhiều so
với các nhà vật lý phương Tây. Trong thiền định thì họ đạt tới một điểm mà
sự khác biệt giữa người quan sát hoàn toàn tiêu tan, nơi đó chủ thể và
khách thể thống nhất làm một trong một toàn thể bất phân chia. Trong
Các bài thuyết giảng Upanishad có những câu:
Nơi có nhị nguyên, là nơi có một cái thấy một cái
khác; một cái ngửi một cái khác, một cái nếm vị một cái khác… Nhưng
nơi mà tất cả đã trở về tự tính của nó, thì cái gì thấy và cái gì bị thấy?
Cái gì ngửi và cái gì bị ngửi? Cái gì nếm và cái gì bị nếm?.
Đó là sự nắm bắt cuối cùng sự nhất thể mọi sự. Theo
trình bày của các nhà đạo học thì ta đạt tới nó trong dạng một tâm thức,
trong đó cá thể con người đã tan vào một nhất thể vô phân biệt, bỏ lại
đằng sau thế giới của cảm thọ và nội dung của “vật thể”. Trang Tử nói:
Mối liên hệ của tôi với thân và các phần tử của thân
đã tan biến. Giác quan của tôi đã bị dẹp bỏ. Tôi cứ để cho thân tâm đi
ngao du, tôi thành một với cái đại khối xuyên suốt. Tôi gọi nó là an tọa
và quên mọi chuyện.
Tất nhiên nền vật lý hiện đại làm việc trong khuôn khổ
hoàn toàn khác và không thể đi xa như thế trong việc chứng thực tính nhất
thể của mọi sự. Nhưng trong vật lý nguyên tử, nó đã đi một bước dài về
hướng của thế giới quan phương Đông. Thuyết lượng tử đã dẹp bỏ khái niệm
của một khách thể độc lập, đưa khái niệm người tham gia vào thay thế người
quan sát và thậm chí thấy cần phải đưa ý thức con người vào trong việc mô
tả thế giới tự nhiên. Nền vật lý này bây giờ đã thấy vũ trụ là một mạng
lưới với những liên quan vật chất và tâm linh chằng chịt, mà các phần tử
chỉ được định nghĩa trong mối tương quan với cái toàn thể. Thế giới quan
này của vật lý nguyên tử được một Phật tử Tantra là Lama Anagarika Govinda
tóm tắt rất hay như sau:
Người Phật tử không tin có sẵn một thế giới bên ngoài
độc lập và hiện hữu tách biệt mà anh ta tự gắn mình vào những năng lực của
thế giới đó. Đối với anh ta, thế giới bên ngoài và thế giới bên trong chỉ
là hai mặt của một mạng lưới duy nhất, trong đó những sợi chỉ của các năng
lực, của các biến cố, của các dạng tâm thức, của các dạng vật thể, chúng
được dệt chằng chịt thành một mạng lưới không sao gỡ nổi, gồm vô số những
mối liên hệ tác động lẫn nhau.
CHƯƠNG 11. VƯỢT TRÊN THẾ GIỚI
NHỊ NGUYÊN
Khi nhà đạo học phương Đông nói họ chứng mọi sự và biến
cố là hiện thân của một nhất thể cơ bản, điều đó không có nghĩa là họ xem
mọi sự vật như nhau. Họ thừa nhận tính cá thể của mọi sự, nhưng đồng thời
cũng ý thức rằng, trong tính toàn thể bao trùm thì mọi khác biệt và đối
lập đều tương đối cả. Đối với ý thức thông thường của chúng ta, thật khó
chấp nhận tính thống nhất của mọi khác biệt - nhất là tính thống nhất của
mọi đối lập. Đối với thế giới quan phương Đông, nó là nền tảng, đồng thời
nó cũng là một trong những nét làm ta hoang mang nhất.
Cặp đối lập là những khái niệm trừu tượng, chúng thuộc
về lĩnh vực của tư tưởng và vì thế chúng chỉ là tương đối. Chỉ việc tập
trung chú ý lên bất kỳ một khái niệm nào là chúng ta đã tạo ra cái đối lập
với nó rồi. Lão Tử nói: “Thiên hạ đều biết tốt là tốt, thì đã có xấu rồi;
đều biết lành là lành, thì đã có cái chẳng lành rồi”. Vì thế mà nhà đạo
học vượt qua lĩnh vực của khái niệm suy luận và nhờ đó mà nhận biết cái
tương đối và mối liên hệ hai cực của mọi đối lập. Họ nhận thức rằng, tốt
và xấu, sướng và khổ, sống và chết không phải là những kinh nghiệm có tính
tuyệt đối, thuộc về các loại hình khác nhau, mà chỉ là hai mặt của một
thực tại duy nhất; chúng là hai cực của một cái toàn thể. Đạt được tâm
thức nhận ra rằng mọi đối lập chỉ là hai cực và tất cả là một thể thống
nhất, đạt đến như thế được xem là một trong những mục đích cao cả nhất của
con người trong truyền thống tâm linh phương Đông. “Hãy an trụ mãi mãi
trong thực tại, đứng ngoài mọi mâu thuẫn thế gian!”, đó là lời khuyên của
Krishna trong Chí tôn ca (Bhagavad Gita) và lời khuyên này cũng
được truyền cho Phật tử. D.T.Suzuki viết như sau:
Ý niệm cơ bản của Phật giáo là, vượt khỏi thế giới
của những đối lập, thế giới của sự phân biệt do óc suy luận dựng lên, thế
giới của ô nhiễm do cảm thọ gây ra, và nhận ra thế giới huyền vi của trí
vô phân biệt, thế giới đó chứa đựng sự chứng đạt tri kiến tuyệt đối 2.
Toàn bộ giáo lý Phật giáo, hay cả toàn thể đạo học
phương Đông nói về tri kiến tuyệt đối này, tri kiến chỉ đạt được trong thế
giới vô niệm, trong đó sự thông nhất toàn thể mọi nhị nguyên đối
lập là sự chứng thực sinh động.
Sau đây là lời một thiền sư:
Buổi tối nghe gà gáy sáng
Nửa đêm thấy mặt trời soi.
Tri kiến về tính phân cực của mọi đối lập, rằng ánh sáng
và bóng tối, được và thua, tốt và xấu chỉ là khía cạnh khác nhau của một
hiện tượng, là một trong những nguyên lý nền tảng của triết lý sống phương
Đông. Vì mọi mặt đối lập phụ thuộc lẫn nhau, nên mối mâu thuẫn của chúng
không bao giờ được giải quyết bằng sự thắng lợi hoàn toàn của một bên mà
luôn luôn phải là biểu hiện của sự tương tác của hai bên. Do đó, tại
phương Đông, người đúng lý không phải là người làm việc bất khả thi, là
chỉ hướng về cái tốt, trừ diệt cái xấu, mà là người giữ được cân bằng giữa
cái xấu và tốt.
Khái niệm về sự cân bằng động là quan
trọng để hiểu được tính thống nhất giữa các mặt đối lập trong đạo học
phương Đông. Tính đó không hề tĩnh tại, nó là một sự tương tác năng động
của hai cực. Khía cạnh này được nhấn mạnh rõ nhất thông qua đồ hình âm -
dương của thánh nhân Trung Quốc. Họ xem cái nhất thể đứng sau âm - dương
là Đạo và xem Đạo là gốc của sự tương tác:
Cái đã sinh ra sáng ra tối, cái đó
là Đạo.
Sự nhất thể năng động của hai cực nhị
nguyên có thể được biểu diẽn bằng một thí dụ đơn giản với một chuyển động
vòng tròn và hình chiếu của nó. Hãy cho một trái bóng quay vòng tròn. Nếu
vận động này được chiếu lên màn thì ta thấy nó như chuyển động tuần hoàn
giữa hai cực. Để làm sáng tỏ sự tương tự với tư tưởng Trung Quốc, tôi gọi
vòng tròn là “Đạo” và hai cực là “Âm” và “Dương”. Trái bóng quay với vận
tốc đều, nhưng trên hình chiếu thì nó đi chậm lại khi đến các biên, quay
đầu, đi nhanh hẳn rồi lại đi chậm lại và cứ thế ở trong một sự tuần hoàn
vô tận.
Trong hình chiếu thì vận động vòng tròn
hiện ra như một vận động tuần hoàn giữa hai cực đối lập nhau, nhưng trong
sự vận động thực sự thì chúng thống nhất liên lạc với nhau. Hình ảnh này
của một sự thống nhất động đã được các nhà tư tưởng Trung Quốc nói đến,
thí dụ Trang Tử.
Vì ý thức
không gian - thời gian liên hệ mật thiết và dung thông với nhau, cả hai
dều là những thế giới quan động, chúng lấy thời gian và sự biến dịch làm
những yếu tố cơ bản. Khi học tập những mô hình tương đối của vật lý hiện
đại, ta sẽ thấy chúng là những minh họa đầy sức thuyết phục của hai yếu tố
của thế giới quan phương Đông; đó là tính nhất thể cơ bản của vũ trụ và
tính năng động nội tại của nó
Đến đây, chúng ta nói về thuyết tương đối đặc biệt. Nó
cho ta một khung cảnh chung để mô tả hiện tượng của vật thể vận động,
điện và từ. Cơ sở của nó là tính tương đối của không gian - thời gian và
sự thống nhất của chúng trong một thể bốn chiều không gian - thời gian.
Khuôn khổ của thuyết tương đối tổng quát bao gồm
cả trọng lực. Theo thuyết tương đối tổng quát thì trọng lực làm cong không
gian - thời gian. Tưởng tượng ra được điều đó là một việc hết sức khó
khăn. Chúng ta có thể dễ dàng tưởng tượng ra một bề mặt cong hai chiều,
thí dụ bề mặt của một quả trứng, vì chúng ta thấy bề mặt này nằm trong
không gian ba chiều. Ý nghĩa của từ cong của một mặt cong hai chiều
như thế là hoàn toàn rõ, nhưng khi ta tới không gian ba chiều - chứ chưa
nói gì tới không - thời gian bốn chiều - thì sức tưởng tượng bỏ rơi chúng
ta. Vì chúng ta không thể nhìn không gian ba chiều từ bên ngoài nhìn
vào (như trường hợp của mặt cong hai chiều), nên ta không thể tưởng
tượng được nó có thể bị bẻ cong theo một chiều nào khác được.
Để hiểu ý nghĩa của không gian - thời gian cong, chúng
ta phải dùng mặt cong hai chiều, lấy nó làm sự tương tự. Hãy tưởng tượng
bề mặt của một quả cầu. Thực tế quyết định nhất cho ta thấy sự tương tự
với không - thời gian là, độ cong là một tính chất nội tại của mặt cong đó
và có thể đo lường được, chứ không cần phải đi vào một không gian ba chiều
nào cả. Một con kiến xem như một sinh vật hai chiều sống trên mặt cong,
tuy nó không thể nhận biết được chiều thứ ba, nhưng nó có thể phát hiện bề
mặt mà nó đang sống là cong, với điều kiện là nó biết các phép đo lường
hình học. Muốn biết thế ta hãy so sánh hình học mặt cong của con kiến với
một mặt phẳng khác nhau ra sao.
Giả sử hai con kiến bắt đầu nghiên cứu hình học của
chúng bằng cách vẽ một đường thẳng, tức là đường ngắn nhất nối hai điểm.
Kết quả như sau: Ta thấy con kiến trên mặt phảng sẽ vẽ một đường thẳng,
nhưng con kiến trên mặt cong thì sao? Đường nối hai điểm A và B quả thật
là ngắn nhất so với mọi đường khác mà nó có thể chọn, thế nhưng từ cách
nhìn của ta thì nó là một đường cong. Bây giờ ta giả định hai con kiến
nghiên cứu hình tam giác . Con kiến trên mặt phẳng xác định rằng tổng số
ba góc của tam giác là bằng hai góc vuông, tức là 180 0, còn
con kiến trên mặt cong thấy rằng tổng số ba góc của hình tam giác luôn
luôn lớn hơn 1800. Đối với những tam giác nhỏ thì phần lớn hơn
đó không nhiều, nhưng tam giác càng lớn thì phần lớn hơn đó càng lớn theo;
trong trường hợp cực điểm thì con kiến của chúng ta có thể vẽ một tam giác
với ba góc vuông.
Cuối cùng hai con kiến vẽ vòng tròn và đo chu vi của nó.
Kiến mặt phẳng sẽ thấy rằng chu vi vòng trong bằng 2p nhân với bán kính,
độc lập với vòng tròn to nhỏ. Còn kiến trên mặt cong sẽ thấy chu vi vòng
tròn luôn luôn nhỏ hơn 2p nhân với bán kính.
Như hình sau đây cho thấy, nhờ cách nhìn ba chiều của ta
mà ta nhận ra rằng, bán kính của kiến trên mặt cầu không hề là đường
thẳng, nó là một đường cong, đường cong đó luôn luôn dài hơn bán kính thật
của vòng tròn.
Khi hai con kiến trực tiếp nghiên cứu hình học thì con
kiến trên mặt phẳng sẽ phát hiện ra định đề Euclid và các định luật khác,
nhưng con kiến trên mặt cong sẽ tới với những nhận thức khác. Sự khác biệt
giữa hai nhận thức đó thì nhỏ đối với các hình nhỏ nhưng nó sẽ lớn hơn đối
với các hình thể lớn. Thí dụ của hai con kiến cho ta thấy rằng, ta luôn
luôn có thể phán quyết, liệu một mặt là cong hay không, cứ đơn giản dựa
vào đo lường trên mặt đó rồi so sánh kết quả đo lường với kết quả của hình
học Euclid. Nếu có sự khác nhau giữa hai kết quả thì mặt đó là cong, và
nếu sự khác nhau càng cao độ thì cong càng lớn.
Với cách thế đó mà ta định nghĩa không gian ba chiều
cong là một không gian mà trong đó hình học Euclid không còn đúng nữa.
Những định luật trong không gian đó là thuộc về một loại khác, phi Euclid.
Hình học phi Euclid đó được nhà toán học Bernhard Riemann giới thiệu vào
thế kỷ thứ mười chín, như một ý niệm toán học hoàn toàn trừu tượng và cũng
chỉ được xem như thế, cho đến ngày Einstein nêu ra giả thuyết cách mạng
là, không gian ta đang sống ba chiều này quả thật là cong. Theo Einstein
thì độ cong của không gian bị trường trọng lực của các vật thể mang khối
lượng gây ra. Không gian xung quanh vật thể bị cong và độ cong đó, cũng là
độ khác biệt với hình học Euclid, tỉ lệ với khối lượng của vật thể.
Phương trình nói lên độ cong không gian liên hệ thế nào
với sự phân bố vật thể không gian được gọi là thuyết trường Einstein.
Chúng không những được sử dụng để xác định mức biến thiên của độ cong tại
mỗi chỗ gần các thiên thể hay hành tinh, mà với chúng, người ta có thể
biết được độ cong tổng quát của không gian. Nói cách khác, những đẳng thức
trường Einstein có thể dùng để xác định cấu trúc của vũ trụ. Tiếc thay
chúng không cho lời giải rõ rệt. Có nhiều lời giải toán học khả dĩ cho
những phương trình đó, và mỗi lời giải lại cho những mô hình khác nhau về
vũ trụ. Mục đích chính của ngành vũ trụ học hiện nay là xác định
lời giải nào đúng với cơ cấu vũ trụ của chúng ta.
Vì trong thuyết tương đối, không gian không bao giờ tách
ly khỏi thời gian nên độ cong do trọng lực gây ra cũng không chỉ hạn chế
trong không gian ba chiều, mà người ta phải mở rộng lên không gian - thời
gian bốn chiều. Đó chính là điều mà thuyết tương đối tổn quát đã tiên
đoán. Trong một không - thời gian cong thì sự méo mó được sinh ra không
những chỉ tác động lên không gian - là những mối liên hệ có thể mô tả bằng
hình học - mà còn trên độ dài của những khoảng thời gian. Thời gian trôi
sẽ không với một vận tốc đều, như trong một không gian - thời gian
phẳng; dòng chảy sẽ không đều, vì sự phân bố vật chất có chỗ cong
nhiều cong ít. Thế nhưng chúng ta phải nói rõ là, sự biến đổi này của thời
gian được thấy bởi một quan sát viên, người đó đứng khác chỗ của đồng hồ
đang đo lường thời gian. Nếu thí dụ quan sát viên cũng đứng ngay chỗ đó,
ngay nơi mà thời gian chạy chậm đi, thì mọi đồng hồ cũng chậm theo và
người ta sẽ không có cách nào để đo hiệu ứng chậm đi đó nữa.
Trong môi trường địa cầu này thì tác động của trọng lực
lên không gian thời gian qúa nhỏ nên ta có thể bỏ qua, thế nhưng trong
ngành thiên văn học, khi người ta làm việc với những khối lượng lớn như
hành tinh, thiên thể và ngân hà thì độ cong của không gian là một hiện
tượng quan trọng. Tới nay thì tất cả mọi quan sát viên đều thừa nhận
thuyết của Einstein là đúng và buộc chúng ta phải tin rằng không - thời
gian quả thật là cong. Hiệu ứng cùng cực nhất của nó là sự sụp đổ trọng
trường của một thiên thể đặc cứng. Theo hình dung của thiên văn học ngày
nay thì mỗi thiên thể trong quá trình phát triển sẽ đạt tới một giai đoạn,
trong đó nó bị co rút lại vì lực hút lẫn nhau giữa các hạt cấu tạo nên nó.
Khi khoảng cách giữa các hạt nhỏ dần thì sức hút giữa chúng tăng nhanh,
quá trình sụp đổ càng gia tốc, và khi thiên thể có đủ tỉ trọng rồi, tức là
khoảng gấp đôi tỉ trọng của mặt trời thì không còn tiến trình nào có thể
cứu vãn sự sụp đổ.
Lỗ đen là những vật thể bí ẩn và đáng kinh ngạc nhất mà
nền thiên văn hiện đại đang nghiên cứu, và chúng minh họa hiệu ứng của
thuyết tương đối một cách lạ lùng nhất...
Khi thiên thể co rút lại và ngày càng đặng của không -
thời gian quanh nó sẽ tăng lên. Vì sức hút quá mạnh, không có vật gì có
thể rời thiên thể được, và tới mức mà ngay cả ánh sáng cũng bị hút, không
chạy thoát nổi bề mặt của thiên thể. Tới mức này thì xung quanh thiên thể
sinh ra một tầm chân trời biến cố, tức là không còn dấu hiệu gì của thiên
thể đi ra ngoài được với thế giới còn lại. Không gian xung quanh thiên thể
bị cong tới mức ánh sáng cũng bị nhốt lại, không chạy thoát được. Ta không
thể thấy một thiên thể như vậy vì ánh sáng của nó không thể đến với chúng
ta và do đó ta gọi nó là một lỗ đen. Sự hiện hữu của những lỗ đen đã được
tiên đoán từ năm 1916 trên cơ sở thuyết tương đối. Trong thời gian gần
đây, nó gây ra nhiều chú ý vì một hiện tượng của thiên thể cho thấy có sự
hiện hữu của một vì sao nặng, vì sao đó quay chung quanh một đối tượng vô
hình, đối tượng đó có thể là một lỗ đen.
Lỗ đen là những vật thể bí ẩn và đáng kinh ngạc nhất mà
nền thiên văn hiện đại đang nghiên cứu, và chúng minh họa hiệu ứng của
thuyết tương đối một cách lạ lùng nhất. Độ cong của không - thời gian
quanh chúng không những ngăn trở ánh sáng đến với chúng ta mà còn gây ảnh
hưởng đáng kể lên thời gian. Nếu đem một cái đồng hồ gắn trên bề mặt của
một thiên thể đang co rút, tức là gắn một thiết bị gửi tín hiệu về phía
chúng ta thì ta sẽ thấy rằng những tín hiệu đó chậm dần khi thiên thể càng
tiến gần đến tầm chân trời biến cố; và khi nó trở thành lỗ đen thì không
còn tín hiệu nào đến với ta nữa. Đối với một quan sát viên ở bên ngoài thì
thời gian đi chậm dần khi thiên thể co rút và khi nó đến tầm chân trời
biến cố thì thời gian ngưng hẳn lại. Do đó mà sự sụp đổ hoàn toàn một vì
sao cần một thời gian vô tận. Còn bản thân thiên thể đó thì không có gì
đặc biệt xảy ra cả khi nó vượt qua tầm chân trời biến cố. Thời gian sẽ
trôi bình thường và sự sụp đổ sẽ hoàn tất sao một thời gian có hạn, khi
thiên thể biến thành một điểm với một tỉ trọng vô cùng lớn. Thế thì sự sụp
đổ thật sự kéo dài bao lâu, đó là một khoảng thời gian vô hạn hay hữu hạn?
Trong thế giới của thuyết tương đối, một câu hỏi như thế là vô nghĩa. Thời
gian sống của một vì sao co giãn cũng như mọi khoảng thời gian khác, nó là
tương đối và tùy thuộc nơi hệ qui chiếu của quan sát viên.
Thuyết tương đối tổng quát đã từ bỏ những khái niệm cổ
điển xem không gian và thời gian là tuyệt đối và độc lập. Không những mọi
đo lường trong không gian và thời gian là tương đối và phụ thuộc vào tình
trạng vận động của quan sát viên, mà toàn bộ cấu trúc của không - thời
gian lại phụ thuộc vào sự phân bố của vật chất. Không gian mỗi nơi có độ
cong khác nhau và thời gian trôi chảy tại nhiều nơi trong vũ trụ với vận
tốc khác nhau. Khái niệm của chúng ta về không gian ba chiều Euclid và
thời gian trôi chảy tuyến tính chỉ được giới hạn trong đời sống hàng ngày,
và ta phải từ bỏ chúng khi muốn đi ra khỏi đó.
Các bậc hiền nhân phương Đông cũng đã nói đến sự mở rộng
của kinh nghiệm về thế giới trong những tình trạng ý thức cao cấp và họ
đoán chắc rằng những tình trạng này chứa đựng một sự chứng thực hoàn toàn
khác về không gian và thời gian. Họ nhấn mạnh rằng, khi ở trong thiền
định, họ không những ra khỏi một không gian ba chiều bình thường - mà còn
mạnh hơn - họ còn vượt qua sự cảm nhận thời gian thông thường. Thay vì
tiếp nối của những khoảng thời gian tuyến tính họ chứng một thực
tại vô tận, phi thời gian mà lại năng động. Trông ba đoạn văn sau đây ta
sẽ nghe ba nhà đạo học nói về chứng thực của họ về cái thực tại vô cùng:
Trang Tử nhà hiền nhân Lão giáo; Huệ năng Lục tổ Thiền tông; và
D.T.Suzuki, thiền sư Phật giáo của thời đại chúng ta:
Hãy quên thời gian đang trôi chảy; hãy quên mọi mâu
thuẫn của tư duy. Hãy nghe cái vô cùng réo gọi và hãy đứng tại đó.
Trang Tử
Cái giây phút hiện tại này là sự tĩnh lặng vô cùng. Mặc
dù nó chỉ hiện hữu trong phút giây này, nó không có biên độ và cũng trong
đó mà hiện ra cái miên viễn tuyệt diệu.
Huệ Năng
Trong thế giới tâm linh này không có phân chia thời gian
cũng như quá khứ, hiện tại và tương lai, vì các thứ này đã rút lại trong
một cái chớp mắt của hiện tại, trong đó đời sống rung động trong ý nghĩa
đích thực của nó… Quá khứ và tương lai đã cuốn tròn trong giây phút hiện
tại của giác ngộ và cái chớp mắt hiện tại này không hề đứng yên với những
gì nó dung chứa, mà vận động tiếp tục không ngừng nghỉ.
D.T.Suzuki
Thật hầu như không thể nói về sự chứng thực của một hiện
tại phi thời gian, vì những từ phi thời gian, hiện tại, quá khứ, phút giây
v.v…đều dựa trên khái niệm thông thường về thời gian mà thành. Vì thế thật
vô cùng khó mà hiểu các nhà đạo học đó muốn nói gì với những câu trên. Tuy
thế, ở đây nền vật lý hiện đại có thể giúp ta dễ hiểu hơn, vì người ta có
thể dùng hình vẽ để biểu diễn các lý thuyết vật lý đã chuyển hóa khái niệm
thời gian thông thường như thế nào.
Thật hầu như không thể nói về sự chứng thực của một hiện
tại phi thời gian, vì những từ phi thời gian, hiện tại, quá khứ, phút giây
v.v…đều dựa trên khái niệm thông thường về thời gian mà thành.Vì thế thật
vô cùng khó mà hiểu các nhà đạo học đã muốn nói gì với những câu trên.
Tuy thế, ở đây nền vật lý hiện đại có thể giúp ta dễ
hiểu hơn, vì người ta có thể dùng hình vẽ để biểu diễn các lý thuyết vật
lý đã chuyển hóa khái niệm thời gian thông thường như thế nào.
Trong nền vật lý tương đối thì lịch sử của một vật thể,
thí dụ một hạt, được biểu diễn trong biểu đồ không - thời gian. Trong biểu
đồ này thì trục hoành biểu diễn không gian (ở đây chỉ có một chiều), trục
tung biểu diễn thời gian. Đường đi của hạt trong không - thời gian được
gọi là vạch vũ trụ. Nếu hạt nằm yên thì thật ra nó cũng đã vận động trong
thời gian; trong trường hợp này thì vạch vũ trụ của nó là một đường dọc.
Nếu hạt cũng vận động trong không gian thì vạch vũ trụ là một đường xéo,
vạch càng xéo thì hạt vận động càng nhanh. Ta để ý rằng, trong trục thời
gian, hạt chỉ hướng lên, nhưng trong trục không gian nó có thể đi tới hay
đi lui. Vạch vũ trụ có thể nghiêng nhiều góc khác nhau so với trục ngang,
nhưng nó không bao giờ nằm ngang thực sự, vì nếu thế thì có nghĩa hạt
không cần thời gian nào mà vận động được từ nơi này qua nơi khác.
Biểu đồ không - thời gian được sử dụng trong vật lý
tương đối để minh họa sự tác động lẫn nhau giữa các hạt. Ta có thể vẽ một
biểu đồ cho mỗi tiến trình và khi sự xuất hiện của mỗi tiến trình đó có
một xác suất thì ta có thể cho nó một phát biểu toán học nhất định. Thí dụ
sự va chạm nhau giữa một electron và photon có thể được biểu diễn trong
hình sau đây. Ta đọc biểu đồ này như sau (từ dưới lên trên, theo chiều
thời gian): một electron (được biểu thị bằng e-) va chạm một
photon (biểu thị bằng g, gamma);electron hấp thụ photon và vận động tiếp
với một vận tốc khác (vạch vũ trụ có độ nghiêng khác); sau một thời gian
electron nhả photon ra và quay lui.
Lý thuyết xây dựng nên khuôn khổ của biểu đồ không -
thời gian và cho nó những phát biểu toán học liên hệ được gọi là thuyết
trường lượng tử. Nó là một trong những thuyết thuộc phép tương đối quan
trọng nhất của ngành vật lý hiện đại mà ta sẽ bàn đến sau. Để thảo luận về
biểu đồ không - thời gian, chúng ta chỉ cần nắm vững hai tính chất quan
trọng nhất của thuyết này. Một là, đừng quên mọi tương tác dẫn đến sự phát
sinh và huỷ diệt của các hạt, như sự hấp thụ và nhả ra của photon trong
biểu đồ trên; và hai là sự đối xứng căn bản giữa hạt và đối hạt. Cứ mỗi
hạt lại có một đối hạt có khối lượng như nhau và điện tích ngược nhau. Thí
dụ đối hạt của electron là positron và thường được biểu diễn bằng e+.
Đối với photon vô điện tích thì đối hạt của nó chính là bản thân nó. Một
cặp được phát sinh chớp nhoáng từ photon và trong tiến trình ngược lại
chúng hợp nhau thành photon.
Nhờ áp dụng thuật sau đây mà biểu đồ không - thời gian
trở nên đơn giản: mũi tên của vạch vũ trụ không còn dùng để chỉ hướng đi
nữa(trước sau thì nó cũng vô ích vì tất cả các hạt đều vận động theo chiều
thời gian, trong biểu đồ là chỉ lên). Thay vào đó mũi tên dùng để phân
biệt hạt và đối hạt: nếu nó chỉ lên thì đó là một hạt (thí dụ một
electron). Còn photon, bản thân nó cũng là đối hạt nên được biểu diễn
không có mũi tên. Với sự điều chỉnh này ta có thể giữ nguyên mọi trình bày
trong biểu đồ mà không gây xáo trộn gì cả: vạch với mũi tên là electron,
vạch không có mũi tên là photon. Ta còn có thể đơn giản hoá biểu đồ bằng
cách bỏ luôn trục không gian và thời gian, và chỉ nhớ trong đầu trục thời
gian từ dưới hướng lên và trục đi tới của không gian từ trái qua phải. Như
biểu đồ của quá trình va chạm electron - photon như sau:
Vậy muốn vẽ biểu đồ va chạm của positron - photon, ta
chỉ cần dùng biểu đồ trên nhưng quay chiều mũi tên là được.
Tới bây giờ thì chưa xảy ra điều gì lạ lùng trong cuộc
thảo luận của ta về biểu đồ không - thời gian cả. Chúng ta đọc nó từ dưới
lên, đúng như qui ước của ta về dòng chảy của thời gian tuyến tính. Tuy
thế, khía cạnh đặc biệt hiện ra trong biểu đồ với đường đi của positron.
Dạng toán học của lý thuyết trường cho phép ta lý giải đường này bằng hai
cách: một là, xem nó là positron, vận động theo chiều thời gian; hai là,
xem nó là eletron và vận động ngược chiều thời gian! Hai cách diễn giải
đều giống nhau về mặt toán học. Tức là sự phát biểu đó áp dụng cho một đối
hạt chạy từ quá khứ đến tương lai hay một hạt chạy từ tương lai về quá
khứ.
Thế nên ta có thể xem hai biểu đồ này biểu thị một tiến
trình duy nhất, tiến trình đó chỉ diễn ra trong hai chiều thời gian khác
nhau. Cả hai đều có thể xem là sự va chạm giữa electron và photon, nhưng
trong tiến trình này thì các hạt đi theo chiều thời gian; trong tiến trình
kia thì chúng đi ngược lại (đường có vạch đứt biểu thị photon, dù nó chạy
cùng chiều hay ngược chiều thời gian, vì hạt hay đối hạt của photon chỉ là
một). Như thế thuyết tương đối của tương tác giữa các hạt cho thấy một sự
đối xứng hoàn toàn, trên trục của thời gian. Tất cả mọi biểu đồ không -
thời gian đều có thể được đọc hai chiều như vậy. Điều đó có nghĩa là mỗi
một tiến trình đều có một tiến trình ngược lại trong thời gian, trong đó
ta thay thế các hạt bằng những đối hạt của chúng.
Để biết tính chất bất ngờ này của thế giới hạ nguyên tử
ảnh hưởng lên quan điểm không gian - thời gian của ta như thế nào, hãy xem
tiến trình sau đây trong biểu đồ sau:
Chúng ta hãy đọc biểu đồ theo cách qui ước từ dưới lên
trên, ta sẽ thấy như sau: một electron (được biểu diễn bằng vạch liền) và
một photon (vạch đứt) tiến gần với nhau; tại A photon phân hủy thành một
cặp electron - positron, electron vận động về phía phải, positron về phía
trái; positron va chạm với electron đầu tiên tại B, chúng tiêu hủy lẫn
nhau và tạo thành photon, chuyển về phía trái.
Mặt khác ta có thể quan niệm biểu đồ này như sự tác động
giữa hai photon và một electron, trong đó electron mới đầu di chuyển theo
chiều thời gian, sau đó đi ngược thời gian, rồi lại vận động theo chiều
thời gian. Muốn quan niệm như thế ta hãy theo chiều mũi tên của electron
mà nhìn. Trước hết electron vận động đến B, nơi đó nó nhả một photon (biến
thành đối hạt), đổi chiều thời gian đi lui về điểm A; tại A nó hấp thụ
photon đầu tiên, lại đổi chiều và vận động theo thời gian. Trong mức độ
nào đó thì cách lý giải thứ hai dễ hơn cách thứ nhất vì ta chỉ việc đi
theo vạch vũ trụ của một hạt. Thế nhưng ta thấy ngay mình gặp khó khăn về
ngôn ngữ. Electron mới đầu đến B trước, sau đó lui về A, mà như thế thì sự
hấp thụ photon tại A xảy ra trước khi nhả photon ở B.
Người ta có thể né tránh sự khó khăn này bằng cách xem
biểu đồ không - thời gian như trên không phải là sự ghi nhận đường đi của
hạt trong quá trình thời gian, mà chỉ là cấu trúc bốn chiều trong không -
thời gian, cấu trúc đó diễn tả một mạng lưới toàn những biến cố liên hệ
với nhau, mạng lưới đó không có chiều nào là dứt khoát của thời gian cả.
Vì tất cả các hạt đều có thể vận động cùng chiều thời gian hay ngược chiều
thời gian, cũng như trong không gian có trái có phải, cho nên vô nghĩa khi
chỉ có một chiều của thời gian trong biểu đồ. Nó chỉ là một tấm bản đồ bốn
chiều, đặt trong không - thời gian, trong đó ta không thể nói về một thứ
tự thời gian. Louis de Broglie nói :
Trong không - thời gian , tất cả những gì mà mỗi người
chúng ta gọi là quá khứ, hiện tại, tương lai, chúng hiện hữu một lúc
(enbloc). Có thể nói mỗi quan sát viên, khi thời gian của họ trôi qua thì
họ phát hiện ra những mặt cắt với cái không - thời gian đó, những mặt cắt
đó hiện ra với họ như những khía cạnh khác nhau của thế giới vật chất, cả
trước cả sau, mặc dù trong thực tại thì tổng thể của những biến cố đã hiện
hữu trước khi họ biết tới, xây dựng nên tổng thể không - thời gian.
Đây là toàn bộ ý nghĩa của không gian - thời gian trong
vật lý tương đối. Không gian - thời gian là hoàn toàn bình đẳng. Chúng
được thống nhất trong một thể liên tục bốn chiều, trong đó sự tương tác
giữa các hạt có thể diễn ra trong mọi hướng. Muốn tưởng tượng cụ thể sự
tương tác này, ta phải thu một tấm hình bốn chiều, tấm hình đó bao trọn cả
toàn bộ thời gian lẫn toàn bộ không gian. Muốn có một cảm giác về thế giới
tương đối của các hạt, chúng ta phải “quên thời gian đang trôi”, nói như
Trang Tử và do đó mà biểu đồ không - thời gian của đạo học phương Đông?
Nghĩa của sự tương đồng đó được Lama Govinda nói như sau về phép thiền
định Phật giáo:
Và khi nói tới cảm giác về không gian trong thiền định
thì ở đây ta có một kích thước hoàn toàn khác về không gian. Trong sự
chứng thực về không gian này, cái trước cái sau trở thành những cái đồng
thời, những cái cạnh nhau trong không gian. Rồi cái đó cũng không tĩnh tại
mà thành một thể liên tục sinh động, trong đó bao gồm cả không gian và
thời gian…
Mặc dù các nhà vật lý sử dụng ngôn ngữ toán học hình
thức và các biểu đồ để diễn tả sự tương tác cùng một lúc trong không -
thời gian bốn chiều, họ giải thích thêm rằng trong thế giới thực sự một
quan sát viên chỉ nhận biết những hiện tượng đó trong từng lớp giai đoạn
của không - thời gian, tức là có thứ tự thời gian. Ngược lại các nhà đạo
học quả quyết họ thực sự có thể chứng thực qui mô toàn thể của không -
thời gian, trong đó thời gian không còn trôi chảy. Thiền sư Đạo Nguyên
nói:
Phần lớn đều nói rằng thời gian trôi qua. Thực tế thì nó
đứng một chỗ. Hình dung về một sự trôi chảy, người ta có thể gọi nó là
thời gian, nhưng đó là một hình dung sai lầm, vì ta chỉ thấy thời gian
trôi chảy, ta không thể nhận rằng nó đang đứng tại chỗ.
Thời gian, không gian và mối liên hệ nhân quả giống như
tấm kính ta nhìn xuyên qua nó để thấy cái tuyệt đối… Trong tuyệt đối thì
không có thời gian, lẫn không gian, lẫn liên hệ nhân quả
Đây là toàn bộ ý nghĩa của không gian - thời gian trong
vật lý tương đối. Không gian - thời gian là hoàn toàn bình đẳng. Chúng
được thống nhất trong một thể liên tục bốn chiều, trong đó sự tương tác
giữa các hạt có thể diễn ra trong mọi hướng. Muốn tưởng tượng cụ thể sự
tương tác này, ta phải thu một tấm hình bốn chiều, tấm hình đó bao trọn cả
toàn bộ thời gian lẫn toàn bộ không gian. Muốn có một cảm giác về thế giới
tương đối của các hạt, chúng ta phải “quên thời gian đang trôi”, nói như
Trang Tử và do đó mà biểu đồ không - thời gian của đạo học phương Đông?
Nghĩa của sự tương đồng đó được Lama Govinda nói như sau về phép thiền
định Phật giáo:
Và khi nói tới cảm giác về không gian trong thiền định
thì ở đây ta có một kích thước hoàn toàn khác về không gian. Trong sự
chứng thực về không gian này, cái trước cái sau trở thành những cái đồng
thời, những cái cạnh nhau trong không gian. Rồi cái đó cũng không tĩnh tại
mà thành một thể liên tục sinh động, trong đó bao gồm cả không gian và
thời gian…
Mặc dù các nhà vật lý sử dụng ngôn ngữ toán học hình
thức và các biểu đồ để diễn tả sự tương tác cùng một lúc trong không -
thời gian bốn chiều, họ giải thích thêm rằng trong thế giới thực sự một
quan sát viên chỉ nhận biết những hiện tượng đó trong từng lớp giai đoạn
của không - thời gian, tức là có thứ tự thời gian. Ngược lại các nhà đạo
học quả quyết họ thực sự có thể chứng thực qui mô toàn thể của không -
thời gian, trong đó thời gian không còn trôi chảy. Thiền sư Đạo Nguyên
nói:
Phần lớn đều nói rằng thời gian trôi qua. Thực tế thì nó
đứng một chỗ. Hình dung về một sự trôi chảy, người ta có thể gọi nó là
thời gian, nhưng đó là một hình dung sai lầm, vì ta chỉ thấy thời gian
trôi chảy, ta không thể nhận rằng nó đang đứng tại chỗ.
Nhiều bậc đạo sư phương Đông nhấn mạnh rằng, tư duy phải
sinh ra trong thời gian, nhưng linh ảnh có thể vượt thời gian.
Govinda nói: “Linh ảnh nằm trong một không gian nhiều chiều hơn và vì thế
nó phi thời gian”. Không - thời gian của vật lý tương đối cúng là một
không gian phi thời gian, có chiều cao hơn, trong đó mọi biến cố đều liên
hệ với nhau, nhưng mối liên hệ không có tính nhân quả. Sự tương tác các
hạt chỉ có thể lý giải trong khái niệm nguyên nhân- kết quả khi biểu đồ
không - thời gian được đọc trong một hướng nhất
định, thí dụ từ dưới lên trên. Một khi chúng được quan
niệm trong một cấu trúc bốn chiều, không có một hướng thời gian nhất định,
thì không có cái trước, cái sau và vì thể không có nguyên nhân và
hậu quả.
Các nhà đạo học phương Đông cũng quả quyết tương tự như
thế, rằng khi họ vượt qua thời gian thì họ cũng vượt lên nhân quả. Cũng
như khái niệm cổ điển của ta về không - thời gian, thì hình dung về nhân
quả cũng bị giới hạn với một kinh nghiệm nhất định về thế giới và nó phải
bị từ bỏ khi kinh nghệm này được mở rộng. Swami Vivekanada nói:
Thời gian, không gian và mối liên hệ nhân quả giống
như tấm kính ta nhìn xuyên qua nó để thấy cái tuyệt đối… Trong tuyệt đối
thì không có thời gian, lẫn không gian, lẫn liên hệ nhân quả.
Chúng đưa ta vượt lên kih nghiệm về thời gian và giải
thoát ra khỏi những mắt xích của nhân quả - thoát khỏi sự trói buộc của
nghiệp, nói như Ấn Độ giáo và Phật giáo. Nền đạo học phương Đông do đó
là một sự giải thoát khỏi thời gian và trong chừng mực nhất định, điều đó
cũng có giá trị cho nền vật lý tương đối.
Chương 13: VŨ TRỤ ĐỘNG
Trong nền đạo học phương Đông, có một thực tại được xem
là thực thể của vũ trụ, nó là nguồn gốc của muôn hình vạn trạng sự vật và
biến cố. Ấn Độ giáo gọi nó là “Brahman”, Phật giáo gọi là “Pháp thân”
(thân của mọi hiện hữu) hay “Chân Như” (Cái - như - thế) và Lão giáo gọi
là “Đạo”. Tất cả đều quả quyết thực tại cao nhất đó vượt trên những khái
niệm suy luận của chúng ta và không thể mô tả được. Thế nhưng thực tại đó
lại không tách rời khỏi những biến hiện vô cùng của nó. Tự tính của nó là
luôn luôn hiện thành hàng tỉ sắc hình, chúng sinh thành và biến hoại,
chúng chuyển hóa từ cái này qua cái khác một cách vô tận. Trong khía cạnh
hiện tượng thì nhất thể vũ trụ đó tự nó là động, và tiếp cận với tự tính
đó là cơ sở của mọi nền đạo học phương Đông. D.T.Suzuki viết về tông Hoa
Nghiêm của Đại thừa Phật giáo như sau:
Ý niệm cơ bản của Hoa Nghiêm là nắm bắt về trụ động mà
tính chất của nó là luôn luôn biến hoại, trong dòng của vận động, đó là
đời sống.
Sự nhấn mạnh vận động, dòng chảy và thay đổi không phải
chỉ có nơi đạo học phương Đông mà cũng là khía cạnh chủ yếu của mọi thế
giới quan tâm linh trong các thời đại. Trong thời cổ đại Hy Lạp,
Heraclitus đã chỉ rằng mọi sự đều trôi chảy và so sánh thế giới như
một ngọn lửa bất diệt. Tại Mexico nhà đạo học Yaqui Don Juan cũng nói về
một thế giới thoáng hiện và xác nhận muốn thành minh triết tự
thân là ánh sáng hay dòng chảy.
Những khái niệm then chốt của Ấn Độ giáo và Phật giáo
lấy từ triết học Ấn Độ tính vận động. Từ “Brahman” xuất phát từ gốc
Sanskrit Brih và nói về một thực tại sinh động, luôn luôn vận động. Theo
S.Radhakrishnan, từ Brahman có nghĩa là lớn mạnh và đầu mối của đời
sống, vận hành và tiến triển. Các bài thuyết giảng (Upanishad) gọi
Brahman là vô sắc, bất tử,vận hành và gắn cho nó một sự vận động tự
thân, mặc dù nó đứng trên mọi sắc thể.
Lê - câu Vệ - đà diễn tả tính vận động của thế
giới với một khái niệm khác, khái niệm “Rita”. Từ này xuất phát từ gốc
ri (tự thân vận động). Nghĩa của nó là sự vận hành của mọi sự
hay trật tự của tự nhiên. Từ này đóng một vai trò quan trọng trong
mọi huyền thoại của Vệ - đà và liên hệ với mọi thần thánh của Vệ - đà. Các
nhà đạo sĩ Vệ - đà không xem trật tự của tự nhiên là một qui luật tĩnh tại
của Thượng đế bày ra mà là một nguyên lý động nằm sẵn trong vũ trụ. Ý niệm
này cũng là khái niệm đạo của Trung Quốc, xem nó là các thể vận hành của
vũ trụ, là trật tự của vũ trụ. Như các nhà thấu hiểu Vệ - đà, các chân
nhân Trung quốc xem thế giới là dòng chảy và sự biến dịch và vì vậy mà gẵn
cho hình dung về vũ trụ một khái niệm động. Hai khái niệm Rita và Đạo về
sau được mang từ bình diện vũ trụ đưa xuống cho con người và sau đó mang
một khái niệm đạo lý; Rita là qui luật vũ trụ mà trời, người đều phải tuân
thủ, và Đạo là đường đi đúng đắn phải theo.
Khái niệm Vệ - đà Rita dung chứa luôn Karma
(Nghiệp), về sau nghiệp mới trở thành ý niệm để bày tỏ tính tác động qua
lại giữa sự vật và biến cố. Từ Nghiệp có nghĩa là hành động và diễn
tả sự quan hệ động giữa các hiện tượng. Trong chí tôn ca
(Bhagavad-Gita) ta đọc: tất cả hành động xảy ra trong thời gian thông
qua sự nối kết lẫn nhau của các năng lực tự nhiên. Đức Phật là từ bỏ
khái niệm truyền thống của nghiệp và cho nó một ý nghĩa mới, trong đó Ngài
mở rộng ra xem nó là mối liên hệ động lực trong bình diện con người. Do đó
mà về sau nghiệp là chuỗi xích vô tận giữa nguyên nhân và kết quả trong
đời con người, và cùng chuỗi xích đó bị Phật phá vỡ bằng cách đạt tới tình
trạng của sự giác ngộ.
Ấn Độ giáo cũng tìm ra nhiều cách để trình bày tính chất
động của vũ trụ trong ngôn ngữ huyền thoại. Trong Chí tôn ca,
Krishna, hiện thân của thần Vishnu, nói: Nếu ta không hành động, thì
những thế giới này sẽ suy tận, và Shiva, vũ công vũ trụ có lẽ là sự
hiện thân hoàn toàn nhất của vũ trụ đang vận hành. Nhờ sự nhảy múa của
mình mà Shiva giữ được tính muôn vẻ của hiện tượng trong thế gian, Ngài
thống nhất mọi sự bằng cách đưa chúng vào nhịp điệu của mình và cho chúng
cùng nhảy múa - một hình ảnh vĩ đại về tính nhất thể đầy động lực của vũ
trụ.
Ấn Độ giáo nhìn vũ trụ như một sinh cơ, đang lớn dần và
vận hành tuần hoàn có nhịp điệu, trong đó mọi thứ đều trôi chảy và tất cả
những dạng hình tĩnh tại đều là Maya (ảo giác), có nghĩa là chúng chỉ tồn
tại trong cái nhìn huyễn giác. Ý niệm cuối cùng này - tính vô thường của
mọi sự - cũng là điểm xuất phát của đạo Phật. Đức Phật cho rằng mọi
pháp hữu vi đều vô thường và mọi Khổ trên thế gian đều xuất phát từ sự
bám giữ nơi sắc thể - nơi sự vật, con người hay ý niệm - thay vì chấp nhận
một thế giới đang vận hành và thay đổi. Thế nên thế giới động cũng là gốc
rễ của giáo pháp Phật giáo. Sau đây là lời của Radhakrishnan:
Một triết lý động tuyệt diệu được Phật phát biểu cách
đây 2500 năm… Cảm xúc trước sự vật đang chuyển hóa, biến đổi và phối hợp
không lúc nào dừng, Phật nói về một triết íy vô thường. Ngài xem vật thể,
âm thanh, hạt, chất liệu trở thành lực, vận hành, hệ quả và tiến trình và
thừa nhận một thực tại động.
Phật giáo gọi thế giới của sự đổi thay liên tục này là
Ta - bà, nguyên nghĩa lang thang, trôi nổi và nói rõ rằng
trong đó không có gì đáng để bám giữ cả. Đối với người theo Phật giáo thì
người đạt đạo là người không chống lại dòng chảy của cuộc sống mà cùng vận
động theo nó. Khi thiền sư Vân Môn được hỏi: Đạo là gì, ông đáp
Cứ đi. Cũng thế mà Phật tử gọi đức Phật là Như Lai, có nghĩa là
người đã đến như thế. Trong triết học Trung quốc, thực tại cứ đổi
thay liên tục này được gọi là Đạo và là tiến trình của vũ trụ, trong đó
mọi vật đều tham gia. Cũng như Phật giáo, Lão giáo cho rằng ta không nên
cưỡng lại dòng chảy mà cần phải thích nghi với nó. Lại một lần nữa đây là
đặc trưng của thánh nhân, của người giác ngộ. Nếu Phật là người đến
như thế thì thánh nhân đạo Lão là người thuận lẽ trời và nói
như Hoài Nam Tử là theo dòng đạo.
Càng học hỏi kinh sách tôn giáo và triết lý của Ấn Độ
giáo, Phật giáo và Lão giáo, người ta càng rõ họ nhận thức tự thân thế
giới là vận động, trôi chảy và biến dịch. Tấm lưới vũ trụ đang sống, đang
vận hành, đang lớn lên, đang thay đổi.
Cũng thế, nền vật lý hiện đại cũng nhìn vũ trụ như một
tấm lưới đầy mối liên hệ và nhận thức cũng như đạo học phương Đông, rằng
thể nội tại của nó là động. Thuyết lượng tử cho thấy khía cạnh động của
vật chất trong thể tính sóng của các hạt hạ nguyên tử. Khía cạnh này, như
ta sẽ thấy, sẽ trở nên quan trọng hơn trong thuyết tương đối, trong đó sự
thống nhất không gian và thời gian chứng minh sự hiện hữu của vật chất
không thể tách rời ra khỏi hoạt động của nó.
Theo thuyết lượng tử thì hạt cũng vừa là sóng và từ đó
mà có nó một tính chất kỳ lạ. Khi một hạt bị giam giữ trong một không gian
nhỏ thì nó phản ứng lại sự hạn chế này bằng sự vận động. Không gian càng
nhỏ thì hạt càng quay nhanh. Tính chất này là một hiệu ứng lượng tử đặc
biệt và không hề có sự tương tự trong vũ trụ vĩ mô. Muốn hiểu rõ hơn hiệu
ứng này, ta hãy nhớ rằng, trong thuyết lượng tử, hạt được biểu thị bởi một
bó sóng, độ dài của bó sóng đó là độ bất định vị trí của hạt. Như
hình dưới đây cho thấy, hạt nằm đâu đó trong khoảng X, ta không biết chắc
chắn. Nếu muốn siết hạt này, ta ép X phải nhỏ hơn. Thế nhưng điều này sẽ
làm độ dài sóng ngắn lại và vận tốc hạt tăng lên. Ta có thể hình dung khá
rõ, hạt càng bị giam giữ, nó càng vận động mãnh liệt.
Khuynh hướng dùng vận động để phản ứng lại sự hạn chế
làm ta nghĩ đến vật chất hẳn phải có một sự bất an cơ bản, nó là
đặc trưng trong thế giới hạ nguyên tử. Trong thế giới này thì phần lớn các
hạt vật chất đều mang cơ cấu phân tử, nguyên tử hay hạt và vì thế mà không
đứng yên, mà theo tính chất nội tại của nó là vận động không ngừng.
Theo thuyết lượng tử, vật chất luôn luôn ở dạng vận
động. Trong thế giới vĩ mô, sự vật xung quanh chúng ta xuất hiện một cách
thụ động và vắng mặt sự sống, nhưng nếu chúng ta phóng lớn lên một hòn đá
hay miếng kim loại chết đó thì ta sẽ thấy trong đó đầy những hoạt
động. Càng nhìn sát nó, nó xuất hiện càng sống động. Tất cả mọi vật xung
quanh ta đều gồm những nguyên tử, chúng liên hệ với nhau bằng nhiều cách
khác nhau và tạo thành muôn ngàn dạng khác nhau của phân tử, chúng rung
động theo nhiệt độ của chúng, cùng hoà nhịp với nhiệt độ xung quanh. Trong
những nguyên tử đang rung động đó thì các electron bị điện lực trì kéo vào
nhân và chúng phản ứng chống lại sự tù hãm đó bằng cách quay tròn thật
nhanh. Sau đó trong bản thân các nhân, các proton và neutron bị trói chặt
trong một không gian cực nhỏ, chúng đua nhau chạy với một vận tốc không
tưởng tượng nổi.
Một đoạn văn của Lão giáo nói lên sự thăng bằng trong
vận động này như sau:
An bằng trong tĩnh tại không phải là sự an bằng đích
thực. Chỉ khi có sự an bằng trong vận động thì nhịp điệu tâm linh mới sinh
thành, nhịp điệu đó thâm nhập cả trời đất.
Trong vật lý, ta nhận thức tính động của vũ trụ không
những trong kích thước vĩ mô-thế giới của nguyên tử và nhân nguyên tử-mà
trong kích thước lớn, của thiên thể và thiên hà. Nhờ những viễn vọng kính
lớn ta quan sát được một vũ trụ đang vận hành không nghỉ. Những đám mây
khinh khí quay vòng, kéo lại với nhau và hình thành thiên thể. Qua đó
chúng nóng lên và biến thành lửa cháy rực trong bầu trời. Khi đã đạt giai
đoạn này rồi, chúng vẫn còn quay và có thiên thể bắn tạt các khối lượng
vật chất ra ngoài. Những khối này bị bắn ra xa, mới đầu quay theo dạng
trôn ốc và cứng dần thành các hành tinh chạy vòng theo các vì sao. Sau
hàng triệu năm khi phần lớn khí đốt đã hết, các thiên thể phình ra và cuối
cùng co lại trong sự sụp đổ trọng trường. Sự sụp đổ này có thể kéo theo
nhiều vụ nổ khủng khiếp và có thể biến thiên thể thành lỗ đen. Tất cả
những biến cố này-sự hình thành các vì sao từ những đám mây, sự co lại, sự
phình ra và cuối cùng là sự sụp đổ-tất cả đều có thể quan sát được thật sự
trong bầu trời.
Những vì sao quay vòng, co lại, phình ra và bùng nổ đó
biến thành thiên hà với những dạng khác nhau, dạng đĩa mỏng, dạng hình
cầu, hình xoáy trôn ốc v.v… Rồi bản thân chúng cũng không phải bất động,
mà lại quay tròn. Thiên hà của chúng ta, dãy Ngân hà, là một đĩa vĩ đại
gồm thiên thể và khí, nó quay trong không gian như một bánh xe khổng lồ;
thế nên tất cả những vì sao của nó-kể cả mặt trời và hành tinh-quay quanh
trung tâm của ngân hà. Vũ trụ gồm toàn cả những ngân hà, chúng nằm rải rác
trong không gian thấy được và cũng quay vòng như ngân hà của chúng ta. Khi
tìm hiểu vũ trụ với hàng triệu ngân hà như toàn thể cấu trúc của nó, chúng
ta đã đạt đến mức xa nhất của không gian và thời gian. Và cả trên bình
diện này của vũ trụ, ta phát hiện rằng vũ trụ không hề tĩnh tại, nó đang
giãn nở ! Đó là một trong những khám phá quan trọng nhất của ngành thiên
văn hiện đại. Một sự phân tích chi tiết ánh sáng mà ta nhận được từ những
thiên hà xa cho thấy rằng toàn bộ những thiên hà đang bành trướng. Vận tốc
mà một thiên hà rời xa chúng ta là tỉ lệ với khoảng cách của chúng đến
chúng ta. Chúng càng xa ta thì chúng càng chạy nhanh. Khoảng cách gấp đôi
thì vận tốc cũng gấp đôi. Điều này không những chỉ có giá trị khi lấy
thiên hà của ta làm gốc, mà cũng như thế với bất cứ điểm gốc nào. Nghĩa là
dù đang ở bất kỳ trong thiên hà nào, chúng ta sẽ thấy các thiên hà khác
ngày càng đi xa, các thiên hà gần thì với vận tốc vài ngàn ki - lô - mét
mỗi giây; các nhóm xa hơn thì vận tốc lớn hơn và vận tốc của các thiên hà
xa nhất tiến gần tới vận tốc ánh sáng. ánh sáng của các thiên hà xa nữa
thì không bao giờ tới với ta vì chúng bỏ đi xa nhanh hơn cả vận tốc ánh
sáng. Anh sáng của chúng, nói như Sir Arthur Stanley Eddington, như
một lực sĩ chạy trên một đường băng ngày càng dài ra, điểm đích chạy xa
ra, nhanh hơn cả vận tốc của anh ta.
Khi nói về một vũ trụ giãn nở trong khung cảnh của thuyết
tương đối tổng quát, ta phải nói sự giãn nở trong một kích thước cao hơn.
Ta chỉ có thể hình dung một khái niệm như thế, như khi nói về không gian
cong với sự tương tự hai chiều.
Muốn thế ta hãy tưởng tượng một quả bóng với nhiều chấm
trên bề mặt. Quả bóng là tượng trưng cho vũ trụ, mặt cong hai chiều của nó
giả dụ cho không gian cong ba chiều và những chấm đen là các thiên hà
trong không gian đó. Khi quả bóng bị bơm phình ra thì những khoảng cách
giữa các chấm cũng lớn hơn. Dù ta lấy chấm nào làm chỗ đứng, ta cũng thấy
mọi chấm khác đều xa dần mình. Vũ trụ cũng giãn nở theo cách đó, dù quan
sát viên có mặt trên bất kỳ thiên hà nào, tất cả những thiên hà còn lại
đều xa dần người đó.
Câu hỏi dễ đặt ra về việc vũ trụ giãn nở là tất cả mọi
sự đó bắt đầu như thế nào? Từ mối liên hệ giữa khoảng cách của một thiên
hà với ta và tốc độ đi xa của nó (định luật Hubble) ta có thể tính
thời điểm lúc bắt đầu bùng nổ, nói cách khác tính được tuổi thọ của vũ
trụ. Cứ thừa nhận rằng vận tốc bùng nổ đó không thay đổi (đó là điều không
hề chắc chắn) thì người ta tính ra một số tuổi vũ trụ khoảng chừng 10.000
triệu năm. Phần lớn các nhà vũ trụ học ngày nay tin rằng, vũ trụ phát sinh
cách đây khoảng 10.000 triệu năm thông qua một biến cố vĩ đại, khi toàn bộ
khối lượng của nó phát nổ từ một trái cầu lửa nguyên thủy. Sự giãn nở ngày
nay của vũ trụ được xem là sức đẩy còn sót lại của một vụ nổ ban đầu. Theo
mô hình vụ nổ ban đầu này thì thời điểm phát nổ là ngày sinh của vũ
trụ và của không gian thời gian. Nếu muốn biết trước đó là gì, ta sẽ va
vào ngay cái khó khăn về tư duy và ngôn ngữ. Sir Bernard Lowell nói:
Đó là nơi mà ta sẽ gặp giới hạn về tư tưởng, vì ta cứ
tiếp tục sử dụng các khái niệm không gian-thời gian, tại lúc chúng chưa
xuất hiện trong đời sống hàng ngày. Đối với tôi, hầu như tôi lạc vào một
vùng đầy sương mù, thế giới quen thuộc đã biến mất.
Về tương lai của vũ trụ giãn nở, những phương trình của
Einstein cũng không cho lời giải rõ ràng. Chúng chấp nhận nhiều lời giải
khác nhau, tùy theo những mô hình khác nhau về vũ trụ. Vài mô hình tiên
đoán rằng, vũ trụ cứ giãn nở mãi, theo mô hình khác thì nó cứ chậm lại và
sẽ quay ngược, co rút lại. Những mô hình này xem vũ trụ có tính chu kỳ, cứ
trương nở vài tỉ năm, rồi co lại cho đến khi toàn bộ khối lượng chỉ còn
một khối vật chất nhỏ rồi sau đó lại giãn nở, cứ thế bất tận.
Hình dung về một vũ trụ giãn nở và co rút tuần hoàn
trong một tầm cỡ không gian và thời gian khủng khiếp không chỉ có trong vũ
trụ hiện đại, mà còn hiện diện trong huyền thoại cổ Ấn Độ. Với sự chứng
nghiệm vũ trụ như một thể sinh cơ và vận động tuần hoàn, trong Ấn Độ giáo
phát sinh một quan niệm vũ trụ sống, nó rất gần với các mô hình khoa học
hiện đại. Một trong những vũ trụ luận này đặt nền tảng trên huyền thoại
“Lila”, trò chơi của thiên nhân, trong đó Brahman tự biến mình thành thế
giới. Lila là một trò chơi có nhịp điệu kéo dài tuần hoàn vô tận, cái Một
biến thành cái Nhiều và cái Nhiều trở thành cái Một. Trong Chí tôn ca
(Bhagavad Gita) thần Krishna mô tả trò chơi sáng tạo tuần hoàn này bằng
những lời:
Cuối thời kỳ tăm tối thì mọi sự lại trở về với tự
tính của ta; và khi thời kỳ mới bắt đầu, ta đem chúng ra ánh sáng.
Thế nên ta dùng tự tính của mình mà sáng tạo ra mọi
thứ và những thứ này lăn theo bánh xe của thời gian. Thế nhưng ta không bị
ràng buộc vào công trình sáng tạo to lớn này. Ta là ta và ta nhìn tác phẩm
vui buồn diễn ra.
Ta ngắm nhìn và tromg tác phẩm sáng tạo đó, tự tính
sản sinh tất cả, những gì vận động, những gì nằm yên; và cứ thế mà thế
giới vận động tuần hoàn.
Ấn Độ giáo nhận trò chơi tuần hoàn thần thánh này là sự
phát triển của toàn vũ trụ. Họ xem vũ trụ giãn nở và co rút tuần hoàn và
đặt tên cho thời gian không tưởng tượng nổi giữa lúc bắt đầu và chấm dứt
một sự sáng tạo là thời kiếp. Kích thước huyền thoại cổ xưa thật
đáng kinh ngạc, còn tư duy con người cần hơn hai ngàn năm để tới với một
tư tưởng tương tự như huyền thoại đó.
Từ thế giới cực lớn, từ vũ trụ đang giãn nở, hãy trở lại
thế giới cực nhỏ. Đặc trưng của vật lý thế kỷ 20 là đi ngày càng sâu vào
một thế giới của kính hiển vi, của nguyên tử, của hạt nhân và các hạt tạo
thành nhân. Sự tìm hiểu thế giới vi mô này được thúc đẩy bởi một câu hỏi
căn bản đã làm loài người trăn trở từ xưa: vật chất được cấu tạo như thế
nào? Kể từ ngày đầu của triết lý về tự nhiên, con người đã nghĩ ngợi về
câu hỏi này và cố tìm ra một chất liệu căn bản, chất liệu xây dựng mọi vật
chất, nhưng chỉ trong thế kỷ này ta mới có thể đi tìm câu trả lời bằng
phương pháp thực nghiệm. Nhờ kỹ thuật phức tạp mà nhà vật lý bước đầu tìm
hiểu được cấu trúc của nguyên tử và nhận ra rằng, nó gồm có nhân và
electron. Sau đó người ta ghi nhận nhân gồm có những hạt nucleon, đó là
proton và neutron. Trong hai thập niên vừa qua người ta đi thêm một bước
và bắt đầu tìm hiểu cấu trúc của nucleon, thành phần của nhân nguyên tử,
chúng xem ra không phải là nững hạt cuối cùng mà lại là từ những đơn vị
khác cấu thành.
Bước đầu tìm hiểu nguyên tử đã dẫn đến những thay đổi
căn bản về cách nhìn của ta về vật chất, chúng đã được nói trong chương
trước. Bước thứ hai, bước đi sâu vào nhân nguyên tử và thành phần của nó,
kéo theo một sự thay đổi không kém phần quan trọng. Trong thế giới hạt
nhân này ta phải đo lường những loại kích thước nguyên tử và những hạt
trong nhân này, vì bị giam trong không gian quá bé, cũng vận động với vận
tốc nhanh đến nỗi chỉ có thể dùng thuyết tương đối đặc biệt để mô tả
chúng. Tính chất và tương tác của hạt hạ nguyên tử chỉ có thể dùng thuyết
lượng tử và thuyết tương đối mà nắm được chúng, và những điều này buộc
chúng ta có một sự thay đổi về quan niệm vật chất là gì.
Điều đặc trưng của thuyết tương đối là nó thống nhất
những khái niệm căn bản mà ngày trước chúng hoàn toàn độc lập với nhau.
Một trong những thí dụ quan trọng nhất là coi khối lượng và năng lượng như
nhau, điều này được phát biểu bằng công thức toán học nổi tiếng của
Einstein E=mc2. Và muốn hiểu ý nghĩa sâu sắc của mối liên hệ
này, trước hết chúng ta phải xét ý nghĩa của năng lượng và khối lượng.
Năng lượng là một trong những khái niệm quan trọng nhất để
mô tả các hiện tượng tự nhiên. Như trong đời sống hàng ngày ta nói, một
vật thể chứa năng lượng khi nó có thể thực hiện một công. Năng lượng này
có thể xuất hiện dưới nhiều dạng khác nhau.
Nó có thể là động năng, nhiệt năng, thế năng, điện năng,
năng lượng hóa học v.v…Mỗi dạng đó đều có thể dùng để sinh công. Thí dụ
người ta cho một viên đá có thế năng bằng cách nâng nó lên cao. Khi thả nó
từ trên cao xuống thì thế năng của nó biến thành động năng và khi viên đá
đến đất thì nó sinh công, thí dụ đập vỡ một vật gì đó. Một thí dụ khác:
điện năng và hóa năng có thể biến thành nhiệt năng để phục vụ đời sống
trong gia đình. Trong vật lý thì năng lượng luôn luôn được gắn liền với
một tiến trình nhất định, một dạng hoạt động nào đó và sự quan trọng căn
bản là tổng số năng lượng tham gia vào trong một tiến trình luôn luôn
không đổi. Sự bảo toàn năng lượng là một trong những qui luật căn bản quan
trọng nhất của vật lý. Nó có giá trị cho tất cả mọi hiện tượng thiên nhiên
được biết tới nay, người ta chưa thấy qui luật này bị vi phạm bao giờ.
Khối lượng của một vật lại là một thuộc tính để đo lường
trọng lượng của nó, tức là sức hút của trọng lực lên vật thể đó. Ngoài ra
khối lượng cũng là quán tính của một vật, tức là sức đề kháng của
nó chống lại gia tốc. Vật thể càng nặng thì càng khó gia tốc nó hơn một
vật nhẹ, điều này ai cũng biết khi phải đẩy một chiếc xe. Trong vật lý cổ
điển thì khối lượng luôn luôn được gắn liền với một dạng vật chất không
thể phá hủy, tức là từ chất liệu mà người ta cho là nguồn gốc của mọi vật.
Cũng như với năng lượng, người ta cho rằng chất liệu này cũng được bảo
toàn, một khối lượng không bao giờ bị hủy diệt.
Bây giờ thuyết tương đối đã chứng minh rằng, khối lượng
không gì khác hơn là một dạng của năng lượng. Năng lượng không những có
thể mang nhiều dạng khác nhau như trong vật lý cổ điển đã biết, mà còn
được chứa trong khối lượng của một vật. Năng lượng chứa trong một hạt,
tích số của khối lượng hạt đó với bình phương vận tốc ánh sáng, tức là:
E=mc2
Nếu khối lượng được xem là dạng năng lượng thì không
những nó không thể phân hủy mà còn có thể được chuyển hóa qua những dạng
năng lượng khác. Điều này xảy ra khi các hạt hạ nguyên tử va chạm nhau.
Trong quá trình va chạm đó thì các hạt có thể bị tiêu hủy và năng lượng
chứa trong chúng sẽ biến thành động năng, động năng đó sẽ phân bố lên các
hạt khác tham dự trong cuộc va chạm. Ngược lại thì động năng của hạt di
chuyển với những vận tốc rất cao cũng có thể được dùng để hình thành khối
lượng của những hạt mới. Hình sau đây cho thấy một thí dụ rất lạ của một
sự va chạm như vậy: một photon (từ bên trái) đi vào một phòng quang phổ,
bắn một electron ra khỏi một nguyên tử (vết hình xoắn), va vào một photon
khác và sinh ra mười sáu hạt mới trong cuộc va chạm này.
Sự hình thành và phá hủy hạt vật chất là một trong những
hệ quả ấn tượng nhất của đẳng thức giữa khối lượng và năng lượng. Trong
các cuộc va chạm trong vật lý cao năng lượng thì khối lượng không còn được
bảo toàn. Các hạt va chạm nhau bị phá hủy, khối lượng của chúng một phần
biến thành khối lượng, phần khác biến thành động năng của các khối lượng
mới sinh ra. Chỉ tổng số tất cả năng lượng tham dự trong tiến trình đó,
tức là tổng số động năng cộng với năng lượng nằm trong dạng khối lượng,
tổng số đó phải được bảo toàn. Tiến trình va chạm các hạt hạ nguyên tử là
công cụ quan trọng nhất của ta để nghiên cứu tính chất của chúng, và mối
liên hệ giữa khối lượng và năng lượng là chủ yếu nhằm mô tả chúng. Mối
liên hệ này đã được xác minh vô số lần và nhà vật lý hạt nhân đã làm quen
với tính tương đương giữa khối lượng - năng lượng, đến nỗi họ đo khối
lượng hạt nhân bằng đơn vị tương ứng của năng lượng.
Trong vật lý hiện đại, khối lượng không còn có một chất
liệu vật chất nữa và do đó mà người ta không còn nghĩ hạt phải có một chất
liệu căn bản nữa, mà nó là một chùm năng lượng. Thế nhưng vì năng lượng
luôn luôn liên hệ với hoạt động, với tiến trình nên hạt hạ nguyên tử phải
có một thuộc tính động. Như đã thấy, chúng không thể xem là những vật thể
ba chiều tĩnh như trái banh bi-da hay một hạt cát, mà chúng là một cấu
trúc bốn chiều không- thời gian. Dạng của chúng phải hiểu là động trong
không gian - thời gian. Hạt hạ nguyên tử là những cấu trúc động, nó có
khía cạnh không gian và khía cạnh thời gian. Khía cạnh không gian cho phép
nó xuất hiện như vật thể có khối lượng, khía cạnh thời gian của nó là tiến
trình với năng lượng tương ứng.
Cấu trúc động hay bó năng lượng này tạo nên cơ cấu nhân,
nguyên tử và phân tử ổn định, chúng xây dựng nên vật chất và làm cho vật
chất có dạng tưởng như nó gồm những chất liệu chắc thật. Trên bình diện vĩ
mô, khái niệm chắc thật đó là một sự gần đúng có ích, còn trên bình diện
nguyên tử thì nó hết giá trị. Nguyên tử gồm các hạt và những hạt đó không
được cấu thành từ một chất liệu vật chất nào cả. khi quan sát chúng, ta
không hề thấy chất liệu nào cả, điều mà ta thấy là những cấu trúc động,
chúng liên tục chuyển hóa lẫn nhau - một vũ điệu triền miên của vũ trụ.
Thuyết lượng tử cho thấy, hạt không phải là những đơn vị
độc lập mà là những cấu trúc xác suất liền lạc trong một tấm lưới bất phân
của vũ trụ. Còn thuyết tương đối phải nói là đã cho cấu trúc đó sự sống,
bằng cách vén màn cho thấy tính chất động của nó. Nó chứng tỏ rằng chính
hoạt động của vật chất là cái tự tính đích thực của sự hiện hữu của nó.
Các hạt của thế giới hạ nguyên tử không những là năng động vì chúng vận
hành nhanh chóng, mà cong vì bản thân chúng là những tiến trình! Sự hiện
hữu của vật chất và hoạt động của chúng không thể tách rời lẫn nhau. Chúng
đều chỉ là hai khía cạnh của một thể thực tại không gian - thời gian.
Trong những chương trước ta đã nói, nhận thức về sự
dung thông giữa không gian - thời gian đã đưa nền đạo học phương Đông
tới một thế giới quan động. Nghiên cứu kinh sách của họ, ta sẽ thấy không
những họ xem thế giới trong khái niệm động,của sự trôi chảy và biến dịch,
mà họ có một tri kiến trực giác về tính chất của không gian - thời gian
của vật thể vật chất; tri kiến đó cũng là đặc trưng của vật lý tương đối.
Khi nghiên cứu thế giới hạ nguyên tử, nhà vật lý phải thống nhất không
gian - thời gian và từ đó mà họ thấy vật thể của thế giới này, hạt không
phải tĩnh tại mà năng động, xem chúng là năng lượng, hoạt động và tiến
trình. Các nhà đạo học phương Đông, trong tình trạng ý thức phi thường của
họ, đã biết về sự dung thông không gian - thời gian trên một bình diện vĩ
mô cũng như nhà vật lý nhìn hạt hạ nguyên tử. Một trong những lời dạy
chính yếu của Đức Phật là mọi pháp hữu vi đều vô thường. Pháp
là từ chỉ biến cố, hành động và sau đó mới nói sự thật. Qua đó ta thấy
thêm Phật giáo xem tiến trình vận động là chủ yếu của thế giới. Hãy nghe
lời của D.T.Suzuki:
Người theo Phật giáo quan niệm sự vật là tiến trình,
không phải là vật thể hay chất liệu…Khái niệm Phật giáo về “sự vật” là
samskara (hành), có nghĩa là “tạo tác” hay “tiên trình”, điều đó nói rõ,
Phật giáo hiểu kinh nghiệm của chúng ta chính là thời gian và sự vận hành.
Cũng như nhà vật lý hiện đại, Phật giáo xem mọi vật thể
là những tiến trình trong một dòng chảy rộng khắp và từ chối sự hiện hữu
của một chất liệu vật chất. Điều đó ta cũng tìm thấy trong tư tưởng Trung
quốc, trong đó có một thế giới quan tương tự, xem sự vật là giai đoạn quá
độ trong sự trôi chảy miên viễn của đạo và họ quan tâm đến mối liên hệ lẫn
nhau giữa chúng hơn là tìm trong chúng một chất liệu cơ bản. Joseph
Needham viết: “Triết học phương Tây tìm thực tại nơi chất liệu, triết học
phương Đông tìm thực tại nơi mối liên hệ”.
Yếu tố cơ bản của vũ trụ trong quan điểm vật lý hiện đại
cũng như trong đạo học phương Đông là cấu trúc động; là giai đoạn quá độ
trong dòng chảy vĩnh viễn của thay đổi và biến dịch (Trang Tử).
Theo mức hiểu biết hiện nay thì cơ cấu cơ bản của vật
chất là những hạt hạ nguyên tử và tìm hiểu tính chất cũng như tương tác
của chúng là mục đích chính yếu của ngành vật lý cơ bản. Ngày nay chúng ta
biết đến hơn hai trăm hạt cơ bản, phần lớn chúng là những hạt được hình
thành trong các cuộc thí nghiệm va chạm và chỉ có một thời gian sống vô
cùng ngắn, ít hơn cả một phần triệu giây đồng hồ! Rõ ràng là những hạt
sống hết sức non tuổi này chỉ nói lên cấu trúc chuyển tiếp của những tiến
trình động. Vì thế xuất hiện câu hỏi cơ bản sau đây về cấu trúc của những
hạt đó: Đặc tính của chúng là gì để có thể phân biệt hạt này hạt kia? Phải
chăng chúng có những thành phần nhỏ hơn, chúng bao gồm những cấu trúc gì?
Chúng tác động lên nhau như thế nào, có năng lực nào tác động giữa chúng?
Và cuối cùng, nếu bản thân chúng chỉ là tiến trình thì đó là tiến trình
gì?
Chúng ta biết rõ tất cả những câu hỏi trên nối kết với
nhau không tách rời được trong nền vật lý hạt nhân. Vì tính tương đối của
các hạt hạ nguyên tử, chúng ta sẽ không hiểu tính chất của chúng nếu không
để ý tới mối liên hệ giữa chúng, và vì mối liên hệ cơ bản của chúng, ta sẽ
không hiểu một hạt nào nếu không hiểu những hạt khác. Những chương sau đây
sẽ chỉ rõ chúng ta đã hiểu hạt và mối liên hệ giữa các hạt tới đâu. Mặc dù
ta chưa có một lý thuyết hoàn chỉnh lượng tử - tương đối, thế nhưng
vẫn có nhiều lý thuyết và mô hình từng phần được đề ra, mô tả thành công
vài khía cạnh của thế giới này. Sự giải thích về những lý thuyết và mô
hình này sẽ dẫn đến những khái niệm triết học, chúng đặc biệt phù hợp với
khái niệm của đạo học phương Đông.
Chương 14. KHÔNG VÀ SẮC
Thế giới quan cơ giới cổ điển đặt cơ sở trên khái niệm
của những hạt cứng chắc, không thể vận động hoặc chỉ có thể vận động trong
chân không. Vật lý hiện đại đã mang lại cho hình ảnh này một sự điều chỉnh
triệt để. Không những nó nêu ra một khái niệm mới về hạt mà nó còn chuyển
hóa khái niệm cổ điển “ không” trống rỗng một cách sâu sắc. Sự biến đổi
này bắt đầu từ lý thuyết trường. Nó bắt đầu khi Einstein thiết lập mối
quan hệ giữa trường trọng lực và hình học không gian, và trở nên rõ nét
khi người ta phối hợp thuyết lượng tử với thuyết tương đối để mô tả các
lực trường nằm quanh các hạt hạ nguyên tử. Trong thuyết trường lượng tử
này thì biên giới giữa hạt và không gian bao quanh nó đã mất sự rõ nét ban
đầu và không gian trống rỗng được thừa nhận như một đại lượng động có vai
trò vượt trội.
Khái niệm trường được Faraday và Maxwell đề xuất vào thế
kỷ 19 để mô tả các lực giữa các điện tích và dòng điện. Một điện trường là
một điều kiện của không gian xung quanh một vật thể mang điện tích,
điều kiện đó tạo ra một lực trong một vật thể có điện khác. Như thế điện
trường là được vật thể mang điện tích sản sinh và tác dụng của nó chỉ được
một vật mang điện khác nhận ra. Từ trường được sinh ra bởi sự vận động của
vật thể mang điện, tức là bởi dòng điện và lực từ tính của nó cũng chỉ
được nhận ra bởi các vật mang điện đang vận động. Trong khoa học điện từ
cổ điển của Faraday và Maxwell thì các trường là các đại lượng lý tính tự
nó, nó có thể được nghiên cứu mà không cần phải qui kết lên vật thể vật
chất. Những trường điện và từ rung động có thể chuyển động trong không
gian dưới dạng sóng radio, sóng ánh sáng và những tia bức xạ điện từ khác.
Thuyết tương đối ra đời và cho ngành điện động một nét
đẹp quí phái, bằng cách thống nhất các khái niệm điện tích, dòng điện,
điện trường và từ trường thành một mối. Vì tất cả vận động đều tương đối,
nên mỗi điện tích cũng là dòng điện- trong một hệ qui chiếu mà nó vận động
so với quan sát viên - và cũng thế mà điện trường của nó cũng là từ
trường. Trong sự phát biểu có tính tương đối của điện động thì hai trường
này được thống nhất vào một điện trường duy nhất.
Khái niệm trường không phải chỉ áp dụng cho các lực điện
từ mà còn trong trọng lực. Trường trọng lực được tất cả các vật thể có
khối lượng sinh ra và ghi nhận, và lực tương ứng luôn luôn là lực hút;
ngược lại với trường điện từ, tùy theo điện tích của vật thể mà sinh ra
lực hút hay đẩy. Lý thuyết đúng đắn về trường đối với các trường trọng lực
là thuyết tương đối tổng quát và trong lý thuyết này thì ảnh hưởng của một
vật thể mang khối lượng lan tỏa trong không gian, xa hơn ảnh hưởng của một
vật thể mang điện tích trong điện từ. Lại một lần nữa, không gian xung
quanh một vật thể bị điều kiện hóa, trong đó một vật thể bị một lực tác
dụng, nhưng lần này thì điều kiện đó ảnh hưởng lên hình học và cấu trúc
của không gian.
Vật chất và không gian trống rỗng - cái đầy và cái không
- là hai khái niệm căn bản khác nhau, trên đó quan niệm nguyên tử của
Demokritus và Newton được xây dựng. Trong thuyết tương đối tổng quát, hai
khái niệm này không thể tách rời được nữa. Chỗ nào có khối lượng, chỗ đó
có trọng trường, và trường này biểu hiện ra bằng cách làm cong không gian
bọc quanh vật thể đó. Thế nhưng cần hiểu rõ rằng, không phải trường xâm
nhập vào không gian và làm cong nó, mà là hai cái chính là một, có nghĩa
trường chính là không gian cong. Trong thuyết tương đối tổng quát
thì trọng trường và cấu trúc hay hình thể không gian chính là một với
nhau. Chúng được diễn tả trong phương trình trường của Einstein bằng một
biểu thức toán học duy nhất. Theo thuyết của Einstein thì không thể tách
rời vật chất ra khỏi trọng trường, trọng trường ra khỏi không gian cong.
Vật chất và không gian như vậy là thành phần liên hệ với nhau, không tách
rời được của một cái nhất thể duy nhất.
Vật thể vật chất không những xác định cấu trúc của không
gian xung quanh, ngược lại nó cũng bị môi trường quanh nó ảnh hưởng đáng
kể. Theo nhà vật lý và triết gia Ernst Mach thì khối lượng, quán tính của
một vật thể không phải là tính chất tự thân của vật chất mà là đại lượng
biểu thị mối tương quan giữa nó và vũ trụ ngoài nó. Theo quan điểm của
Mach thì vật chất sở dĩ có quán tính chỉ vì trong vũ trụ có vật chất khác.
Khi một vật quay tròn thì quán tính của nó tạo ra một lực ly tâm (thí dụ
máy giặt quay tròn để vắt nước ra khỏi áo quần), nhưng lực này sinh ra,
chỉ vì vật thể vây quanh tương đối với các định tính. Giả định các
vì sao này thình lình biến mất thì lực quán tính lẫn lực ly tâm cũng mất
theo.
Quan điểm này về lực quán tính của vật thể mà ta gọi là
nguyên lý Mach có một ảnh hưởng mạnh mẽ lên Albert Einstein và đó là động
lực đầu tiên làm ông xây dựng thuyết tương đối tổng quát. Vì về mặt toán
học, lý thuyết của Einstein hết sức phức tạp nên các nhà vật lý đến nay
vẫn chưa nhất trí được liệu nó thực sự bao gồm luôn cả nguyên lý Mach hay
không. Tuy thế, phần lớn các nhà vật lý cho rằng nguyên lý Mach phải được
chứa đựng trong một lý thuyết hoàn chỉnh về trọng trường.
Như thế nền vật lý hiện đại lại cho ta thấy một lần nữa,
và trong trường hợp này trên bình diện vĩ mô, rằng vật thể vật thể vật
chất không phải là một đơn vị độc lập, mà nó kết nối một cách bất khả phân
với vật thể xung quanh của nó; rằng tính chất của chúng chỉ được hiểu
trong mối liên hệ giữa nó và thế giới còn lại. Theo nguyên lý Mach thì mối
liên hệ này vươn xa trong vũ trụ, cho đến những vì sao xa xôi, những đám
mây quay hình trôn ốc. Tính chất nhất thể cơ bản của vũ trụ hiện hình
không những trong thế giới cực tiểu mà cả trong thế giới cực đại. Thực tế
này luôn luôn được thừa nhận trong ngành thiên văn và vũ trụ hiện đại, mà
nhà thiên văn Fred Hoyle xác nhận:
Ngày nay sự phát triển trong vũ trụ học đã chứng tỏ
một cách sắt đá rằng, những điều kiện hàng ngày không thể tiếp tục tồn tại
nếu không có những thành phần xa xôi của vũ trụ, rằng hình dung của ta về
không gian và hình thể sẽ không còn chút giá trị nào, nếu những thành phần
xa xôi của vũ trụ biến mất. Những kinh nghiệm hàng ngày của chúng ta, cho
đến những chi tiết nhỏ nhặt nhất, dường như chúng tổng hòa trong vũ trụ
một cách chặt chẽ hầu như tới mức không thể xét chúng một cách riêng lẻ
được.
Sự thống nhất và mối quan hệ giữa vật thể và môi trường
quanh nó, đều đã hiện rõ trong kích thước vĩ mô trong thuyết tương đối
tổng quát, điều đó còn nổi bật hơn nữa trong phạm vi hạ nguyên tử.
Nơi đây người ta phối hợp hai hình dung của lý thuyết
trường cổ điển và của thuyết lượng tử để mô tả sự tương tác giữa các hạt.
Vì dạng toán học phức tạp của thuyết trọng trường của Einstein, người ta
chưa phối hợp được tác động của trọng lực, nhưng các lý thuyết trường cổ
điển khác, động điện học, đã được hòa lẫn với thuyết lượng tử để sinh ra
động điện lượng tử, nó mô tả mọi tác động điện từ qua lại của hạt
hạ nguyên tử. Lý thuyết này bao gồm cả thuyết lượng tử và thuyết tương
đối. Đó là mô hình đầu tiên của lượng tử-tương đối của ngành vật lý hiện
đại và cũng là mô hình thành công nhất.
Tính chất nổi bật của ngành động điện lượng tử được sinh
ra từ sự phối hợp của hai khái niệm: khái niệm của điện từ trường và khái
niệm photon, xem như khía cạnh hạt của sóng điện từ.Vì photon cũng là sóng
điện từ và sóng này là trường đang rung động, nên photon là hiện thân của
trường điện từ. Vì thế mà sinh ra khái niệm truờng lượng tử, tức là
một trường mà ở đó, nó có thể xuất hiện ở dạng của lượng tử hay hạt. Đây
quả thật là một khái niệm hoàn toàn mới, nó được mở rộng để mô tả mọi hạt
hạ nguyên tử và tương tác của chúng. Cứ mỗi hạt ta có một trường riêng.
Trong lý thuyết trường lượng tử này thì có mối đối nghịch cổ điển giữa hạt
cứng chắc và không gian xung quanh nó, mối đối nghịch này hoàn toàn đã bị
vượt qua. Trường lượng tử được xem chính là đơn vị vật lý cơ bản, đó là
một thể liên tục, hiện khắp nơi trong không gian; hạt chỉ là chỗ tập trung
địa phương của trường, một nơi hội tụ của năng lượng, năng lượng đến
rồi đi, vì thế mà hạt không mang đặc tính riêng biệt nào, và hòa vào
trường cơ bản của mình. Albert Einstein nói:
Vì thế ta có thể xem vật chất là khu vực của không
gian, nơi đó hết sức dày khít lại với nhau… trong nền vật lý này thì không
có chỗ cho cả hai, trương và vật chất, vì chỉ trường mới là thực tại duy
nhất .
Hình dung này về vật chất và hiện tượng, xem chúng là
hiện thân vô thường của một đơn vị cơ bản, cũng là thế giới quan phương
Đông. Cũng như Einstein, các nhà đạo học phương Đông xem đơn vị cơ bản đó
là thực tại duy nhất; trong lúc tất cả mọi dạng xuất hiện của nó đều tạm
thời và là ảo ảnh. Thực tại này của đạo học phương Đông không thể xem là
một với trường lượng tử của nhà vật lý được, vì họ xem nó là thể tính của
tất cả mọi hiện tượng thế giới và vì vậy nằm ngoài mọi khái niệm và
hình dung. Ngược lại trường lượng tử là một khái niệm có thể định nghĩa,
nó chỉ sản sinh một phần của hiện tượng vật lý thôi. Tuy thế trực giác của
nhà đạo học phương Đông, người cũng lý giải mọi hiện tượng của thế giới
giác quan xuất phát từ một thực tại cuối cùng, cũng cho thấy lý giải của
nhà vật lý về thế giới hạ nguyên tử trên cơ sở trường lượng tử, hai nhận
định đó rất gần nhau. Sau khi khái niệm trường được sinh ra, các nhà vật
lý cố công tìm cách thống nhất mọi trường khác nhau vào trong một trường
cơ bản duy nhất, trường đó bao gồm tất cả mọi hiện tượng vật lý. Đặc biệt
trong những năm cuối cùng của đời mình, Einstein đã ra sức đi tìm một
trường thống nhất đó. Cái Brahman của Ấn Độ giáo, cũng như Pháp thân trong
Phật giáo hay Đạo trong Lão giáo có lẽ được xem là trường thống nhất,
chung quyết, trong đó không chỉ các hiện tượng vật lý được sản sinh mà tất
cả các hiện tượng khác cũng thế.
Theo quan điểm phương Đông thì thực tại làm nền tảng cho
mọi hiện tượng nằm ngoài mọi sắc hình, không thể mô tả hay định nghĩa.
Thường người ta nói nó vô sắc hay trống rỗng. Nhưng sự trống rỗng này
không được hiểu là không có gì. Ngược lại nó là tự tính của tất cả mọi sắc
hình và suối nguồn tất cả đời sống, như các bài thuyết giảng
Với từ không chỉ thực tại cao nhất, Phật giáo
cũng có hình dung như vậy và nói về một tính không sinh động, từ đó mà
phát sinh mọi hiện tượng thế gian. Lão giáo cũng thấy trong Đạo một sự
sáng tạo vô tận như thế cũng gọi nó là trống không. Tuân Tử nói
“Đạo của trời là trống rỗng và vô sắc”, và Lão Tử dùng nhiều hình tượng để
giảng giải cái trống không đó. Ngài thường ví Đạo như hang sâu, như bình
trống, nhờ thế mà dung chứa vô tận sự vật.
Mặc dù dùng từ “Không”, các nhà đạo học phương Đông chỉ
rõ, khi nói Brahman, Không hay Đạo, họ không hề nói đến cái “không” thông
thường, mà ngược lại, tính Không với khả năng sáng tạo vô tận. Thế nên
Không của đạo học phương Đông dễ dàng được so sánh với trường lượng tử của
vật lý hạ nguyên tử. Cũng như trường lượng tử, Không có thể sản sinh thiên
hình vạn trạng sắc thể, Không giữ vững chúng và có khi thu hồi
chúng lại. Trong các bài thuyết giảng (Upanishad) ta nghe:
Trong tĩnh lặng, hãy cầu khẩn Nó,
Nó là tất cả, suối nguồn xuất phát,
Nó là tất cả, nơi chốn trở về,
Nó là tất cả, trong đó ta thở.
Mọi dạng hình của tính Không huyền bí đó cũng như các
hạt nhân, chúng không tĩnh lặng và bền vững, mà luôn luôn động và biến
dịch; chúng sinh thành và hoại diệt trong một trò nhảy múa không nghỉ của
vận hành và năng lượng. Cũng như thế giới hạ nguyên tử của nhà vật lý, thế
giới sắc thể của đạo học phương Đông là một thế giới của lang thang
luân hồi, gồm liên tục những sống chết nối tiếp nhau. Là sắc thể vô
thường của Không, sự vật của thế gian này không hề có tự tính căn bản gì
cả. Điều này được nêu rõ đặc biệt trong triết lý Phật giáo, lý thuyết này
phủ nhận sự hiện hữu của một chất liệu vật chất; và nhấn mạnh rằng, hình
dung về một cái Ta (ngã) bất biến, cái ta đó là kẻ thu lượm những kinh
nghiệm khác nhau, hình dung đó chỉ là ảo giác. Phật giáo hay so sánh ảo
giác về một tự thể vật chất và một cái ngã cá thể như những đợt sóng,
trong dó sự vận động lên xuống của những hạt nước làm ta nghĩ rằng có một
khối nước di chuyển trên bề mặt, đi từ chỗ này đến chỗ kia. Thật thú
vị khi thấy rằng nhà vật lý cũng dùng ẩn dụ tương tự để nói về ảo giác
tưởng rằng có một chất liệu do hạt di chuyển sinh ra. Hermann Weyl viết
như sau:
Theo lý thuyết trường của vật chất thì một hạt khối
lượng - như một electron chẳng hạn - chỉ là một phạm vi nhỏ của điện
trường, trong đó đại lượng trường mang một trị số cực cao, xem như năng
lượng rất lớn của trường tập trung vào một không gian rất nhỏ. Một điểm
nút năng luợng như thế, nó không hề tách biệt với trường bọc xung quanh,
lan rộng ra ngoài xuyên qua không gian trống rỗng cũng như một đợt sóng
lan ra trên mặt hồ. Cho nên cái tưởng như là chất liệu duy nhất mà
electron luôn luôn được cấu tạo nên, cái đó không hề có.
Trong triết học Trung quốc, ý niệm về trường không những
được hàm chứa trong Không và vô sắc mà cả trong khái niệm Khí . Khái niệm
này đóng một vai trò quan trọng trong từng trường phái của khoa học tự
nhiên Trung quốc và trong trường phái Tân Khổng giáo.
Khí có nguyên nghĩa là hơi hay ête, vào
thời cổ đại Trung quốc nó có nghĩa là hơi thở hay năng lực sống động của
vũ trụ. Trong thân người, khí mạch là cơ sở của nền y học Trung
quốc. Mục đích của phép châm cứu là k?ch th?ch dòng chảy của khí thông qua
những huyệt đạo đó. Dòng chảy của khí cũng là cơ sở của phép vận động Thái
cực quyền, của phép múa quyền đạo sĩ.
Phái Tân Khổng giáo phát triển một hình dung về Khí,
hình dung đó có một sự tương tự nổi bật với khái niệm trường lượng tử, khí
được xem như một thể mỏng nhẹ, không nhận biết được, nó tràn ngập khắp
không gian và kết tụ lại với nhau thành vật thể vật chất. Trương Tái
viết như sau:
Khi khí ngưng tụ thì nó thấy được, khi đó nó có dạng
hình của vật thể riêng lẻ. Khi nó loãng đi, mắt không thấy được nó , và nó
không có hình dạng. Khi nó ngưng tụ lại, người ta còn có thể nói gì khác
ngoài việc cho đó chỉ là sự tạm thời? Và khi nó tan rã, liệu ta có thể vội
nói rằng, nó không có?
Khí ngưng tụ và loãng ra như thế một cách tuần hoàn và
hình thành ở tất cả các trạng thái, trạng thái đó có khi lại tan biến
trong Không. Trương Tái viết tiếp:
Không to lớn chỉ có thể do khí mà thành; khí này phải
tụ lại để sinh thành vật thể; và vật thể này lại hoại diệt để sinh thành
không to lớn.
Như trong lý thuyết trường lượng tử thì trường - hay Khí
- không phải chỉ là tự tính của mọi vật thể vật chất, mà trường cũng là
nơi mang truyền mọi liên hệ hỗ tương, thông qua dạng sóng. Sự mô tả sau
đây về khái niệm trường của vật lý hiện đại của Walter Thirring và quan
điểm Trung quốc về thế giới vật lý của Joseph Needham cho thấy sự giống
nhau rõ rệt:
Nền vật lý lý thuyết hiện đại…đã hướng suy nghĩ của ta
về tự tính của vật chất theo một hướng khác. Nó đã đưa cái nhìn từ vật
thấy được - các hạt - đến với cái nằm đằng sau, đến trường. Sự hiện hữu
của hạt chỉ là một sự nhiễu loạn tình trạng hoàn toàn cân bằng của trường
tại chỗ đó, một thứ ngẫu hứng, thậm chí ta có thể gọi nó là một “ ô
nhiễm”. Thế nên không thể có những qui luật đơn giản để mô tả các lực giữa
các hạt… Điều cần tìm là trật tự và đối xứng trong trường làm cơ sở cho
chúng.
Trong thời Cổ đại và thời Trung cổ thì vũ trụ vật lý
Trung quốc là một thể thống nhất, toàn hảo, liên tục. Lúc đó thì Khí ngưng
tụ thành vật chất sờ được vẫn chưa mang ý nghĩa nào về hạt, thế nhưng các
vật thể riêng lẻ tác động và phản ứng với mọi vật thể khác trong thế giới
thông qua dạng sóng hay dao động, dạng đó đều phụ thuộc vào sự biến dích
tuần hoàn của hai lực cơ bản âm dương trên mọi mức độ. Thế nên các vật
riêng lẻ hòa nhập trong sự hòa điệu chung của thế giới.
Với khái niệm trường lượng tử, nên vật lý hiện đại tìm
ra được một câu trả lời bất ngờ cho câu hỏi xưa nay là, liệu vật chất do
những hạt nguyên tử bất phân cấu thành hay từ một thể lên tục sinh ra.
Trường là một thể có mặt cùng lúc khắp nơi trong không gian, thế nhưng ở
khía cạnh hạt của nó có một cơ cấu hạt phi liên tục. Hai khái niệm
tưởng chừng như mâu thuẫn đó được thống nhất với nhau và được xem như hai
khía cạnh của một thực tại duy nhất. Như mọi lần khác trong thuyết tương
đối, sự thống nhất này cũng thực hiện theo cách động: hai khía này của vật
chất chuyển hóa lẫn nhau liên tục không nghỉ. Nhà đạo học phương Đông nhấn
mạnh đến tính nhất thể động giữa Không và Sắc, Sắc do Không tạo ra. Lama
Govinda nói:
Mối liên hệ giữa Sắc và Không không thể được xem là hai
tình trạng loại bỏ lẫn nhau, mà chỉ là hai khía cạnh của một thực tại duy
nhất, nó cùng hiện hữu và liên tục kết nối với nhau.
Sự trộn lẫn những khái niệm đối nghịch này trong một cái
nhất thể được một kinh sách Phật giáo diễn tả trong những câu nổi tiếng:
Sắc chính là Không, Không chính là Sắc. Sắc chẳng khác
Không, Không chẳng khác Sắc. Cái gì là Sắc, cái đó là Không. Cái gì là
Không, cái đó là Sắc.
Lý thuyết trường của vật lý hiện đại không những đem lại
một cách nhìn mới về hạt hạ nguyên tử, nó còn thay đổi một cách quyết định
hình dung của chúng ta về các lực giữa các hạt đó. Khái niệm trường vốn
liên hệ với khái niệm lực và cả trong thuyết trường lượng tử thì khái niệm
đó vẫn còn liên quan đến lực giữa các hạt. Thí dụ trường điện từ có thể
xem như trường tự do, chứa sóng hay photon đang di động hay nó cũng
có thể được quan niệm như một trường đầy những lực giữa các hạt mang điện
tích. Trong cách nhìn thứ hai thì lực hiện thân thành những hạt photon
chạy giữa hạt mang điện tích. Thí dụ sự đẩy nhau giữa electron cũng có thể
xem được gây ra bởi sự trao đổi photon.
Quan niệm mới mẻ này về lực xem ra khó hiểu, nhưng nó sẽ
rõ hơn nếu sự trao đổi một photon được trình bày trong biểu đồ không gian
-thời gian. Biểu đồ trang sau vẽ hai electron đang tiến gần nhau. Một
trong hai điện tử đó phóng thích tại A một photon (mang biểu tượng g),
electron kia hấp thụ photon tại B. Khi phóng thích photon thì electron đầu
tiên đổi hướng đi và thay đổi vận tốc(xem hướng và độ nghiêng của vạch vũ
trụ trong biểu đồ), electron thứ hai cũng phản ứng tương tự khi hấp thụ.
Cuối cùng hai electron bay ra xa, chúng đã thông qua sự trao đổi photon mà
đẩy lẫn nhau.
Sự tương tác trọn vẹn giữa electron gồm một loạt những
trao đổi giữa các photon và do đó mà ta thấy dường như chúng tránh nhau
qua một đường cong linh động.
Trong vật lý cổ điển người ta sẽ nói các electron đã sinh
ra một lực đẩy lẫn nhau. Bây giờ, ta thấy rằng cách nói đó chỉ là một sự
mô tả mơ hồ. Không electron nào cảm thấy một lực đẩy mình đi cả,
khi chúng tiến gần với nhau.
Chúng chỉ tác động thông qua sự trao đổi photon. Lực
không khác gì hơn là tổng số của những tác dụng trao đổi photon này trên
mặt vĩ mô. Vì thế mà khái niệm lực không còn được sử dụng trong vật lý hạ
nguyên tử nữa. Đó là một khái niệm cổ điển mà ta ( dù có khi vô thức) luôn
liên hệ với hình dung của Newton về lực, thứ lực tác động xuyên qua một
khoảng cách xa. Trong thế giới hạ nguyên tử không có thứ lực đó mà chỉ là
tương tác giữa các hạt, sinh ra bởi trường, tức là thông qua những hạt
khác. Do đó mà nhà vật lý hay nói tương tác, chứ không nói lực.
Theo lý thuyết trường lượng tử thì tất cả tương tác được
sinh ra vì có sự trao đổi hạt. Trong trường hợp trường điện tử thì hạt đó
là photon; còn các nucleon thì tác động thông qua một lực mạnh hơn nhiều,
lực hạt nhân hay tương tác mạnh nó được sinh ra bởi sự trao đổi của
một hạt loại mới, có tên là menson. Có nhiều loại menson khác nhau,
chúng được trao đổi giữa proton và neutron. Các nucleon càng tiến gần nhau
thì menson càng xuất hiện nhiều, càng nặng, vì thế dễ trao đổi. Như thế,
sự tương tác giữa nucleon được gắn chặt với sự trao đổi menson,và bản thân
menson có bị trao đổi cũng thông qua việc trao đổi với những hạt khác. Vì
lý do đó mà ta sẽ không hiểu gì về lực hạt nhân nếu không hiểu toàn bộ các
hạt hạ nguyên tử.
Trong lý thuyết trường lượng tử thì tất cả tương tác
giữa hạt được biểu diễn trong biểu đồ không gian - thời gian và mỗi biểu
đồ được gắn liền với một công thức toán học, công thức đó phát biểu độ xác
suất xảy ra của một tiến trình. Mối liên hệ chính xác giữa biểu đồ và công
thức toán học được Richard Feyman đề xuất năm 1949 và kể từ đó ta gọi
những biểu đồ này là biểu đồ Feyman. Một tính chất then chốt của thuyết
này là sự tạo thành và phân hủy của hạt. Thí dụ photon trong trường hợp
trên được phóng thích ra tại A (tạo thành) và bị hấp thụ tại B (phân hủy).
Một tiến trình như thế chỉ được hiểu trong thuyết tương đối, nơi đó hạt
không còn la vật thể không thể phân hủy nữa mà là được quan niệm như một
cấu trúc động chứa năng luợng, năng lượng đó có thể phân bố cách khác khi
cấu trúc mới xuất hiện.
Sự sinh ra một hạt khối lượng chỉ có thể xảy ra khi năng
lượng liên quan với nó được sẵn sàng và đầy đủ, thí dụ như trong một tiến
trình va chạm. Trong trường hợp của tương tác mạnh, thí dụ hai
nucleon tác động lên nhau trong nhân nguyên tử, thì năng lượng này thường
không sẵn có. Do đó, trường hợp này thì lẽ ra sự trao đổi giữa các menson
mang khối lượng (vì khối lượng cần mang năng lượng cao) không thể xảy ra.
Thế nhưng nó lại xảy ra. Thí dụ hai proton có thể trao đổi nhau một
pi-menson (hay pion), mà khối lượng của pion bằng khoảng một phần bảy
của khối lượng proton.
Tại sao tiến trình vẫn có thể xảy ra mặc dù năng lượng
để sinh ra một menson rõ ràng không đủ? Đó là nhờ hiệu ứng lượng tủ,
hiệu ứng này liên hệ chặt chẽ với nguyên lý bất định. Các tiến trình hạt
vốn diễn ra ngắn ngủi, nhanh chóng, chúng có một tính chất bất định về
năng lượng. Sự trao đổi menson, tức là hình thành và tiêu hủy menson, là
một tiến trình của loại bất định này. Chúng diễn ra quá ngắn ngủi và nhờ
sự bất định này mà năng lượng lại trở nên đầy đủ để sinh sản menson. Những
menson này được gọi là hạt giả. Nó khác với những menson thật
(real) được sinh ra trong quá trình va chạm, vì những hạt giả này chỉ hiện
hữu trong khoảng thời gian mà nguyên lý bất định cho phép. Menson càng
nặng (tức càng cần nhiều năng lượng để sinh ra) thì càng ít thời gian được
dành cho chúng để trao đổi. Đó là lý do tại sao các nucleon chỉ có thể
trao đổi các menson nặng khi chúng thật sát gần nhau. Ngược lại, sự trao
đổi các photon giả có thể thực hiện trong khoảng cách bất kỳ vì những
photon phi khối lượng có thể tạo thành từ những đại lượng có năng lượng
nhỏ mấy cũng được. Phép phân tích này về các lực điện từ và lực hạt nhân
đã giúp Hideki Yukawa năm 1935, không những tiên đoán sự hiện hữu của các
pion mười hai năm trước khi người ta phát hiện ra chúng, mà còn dự đoán cả
khối lượng của chúng chỉ nhờ vào biên độ của các lực trong nhân.
Thế nên, trong lý thuyết trường lượng tử, tất cả các
tương tác đều được lý giải bằng sự trao đổi của các hạt giả. Tương tác
càng lớn, tức là lực giữa các hạt càng lớn, thì xác suất của một
tiến trình trao đổi đó càng lớn, tức là các hạt giả trao đổi với nhau càng
nhiều. Hơn thế nữa, vai trò của các hạt giả không chỉ dừng lại ở tương
tác. Thí dụ, một nucleon tự nó một mình có thể phóng thích một hạt giả ra
rồi sau đó hấp thụ lại. Giả định rằng một menson được hình thành rồi được
phân hủy trong khoảng thời gian mà nguyên lý ats định cho phép thì không
có gì ngăn cấm một tiến trình như vậy xảy ra. Trong trường hợp đó thì biểu
đồ Feyman của neutron, nó phóng thích ra pion rồi lại hấp thụ nó, được vẽ
như dưới đây.
Xác suất của một tương tác tự thân như thế là
rất lớn đối với các nucleon, vì tầm tương tác mạnh của chúng. Điều đó có
nghĩa là trong thực tế các nucleon luôn luôn phun hạt giả ra và nuốt chúng
trở lại. Theo lý thuyết trường, người ta phải xem nó như tâm điểm của một
hoạt động liên tục, được bọc xung quanh bởi một đám mây chỉ toàn hạt giả.
Các hạt menson giả phải biến mất rất sớm sau khi được tạo thành, vì thế
chúng không thể rời nucleon đi đâu xa được. Thế nên đám mây menson cũng
phải rất nhỏ. Vùng biên của chúng chứa đầy menson hạng nhẹ (thường là
pion), các menson hạng nặng nằm ở phần trong của đám mây, vì chúng lại bị
hấp thụ sau một thời gian ngắn hơn.
Mỗi nucleon được một đám mây của menson giả bọc quanh,
các menson giả đó có đời sống hết sức ngắn ngủi. Trong một số điều kiện
đặc biệt thì menson giả có thể biến thành menson thật. Khi nucleon bị một
hạt khác có vận tốc cao va chạm thì một phần của động năng hạt đó có thể
truyền lên một menson giả và giải thoát nó ra khỏi đám mây. Với cách thế
này mà menson được sinh ra thật trong các va chạm cao năng lượng. Mặt khác
khi hai nucleon tiến gần nhau đến mức mà đám mây của chúng hoà lên nhau
thì có thể vài hạt giả, thay vì trở về nơi sinh của chúng là nucleon mẹ,
nhảy qua nucleon kia và bị cái kia hấp thụ. Đó chính là tiến trình trao
đổi, chúng diễn tả tương tác mạnh.
Hình ảnh này chỉ rõ, tương tác giữa các hạt, tức các lực
giữa chúng, như thế đã được qui định bởi thành phần của các đám mây
giả. Cự ly của tương tác, tức là khoảng cách giữa hai hạt mà tác động đó
bắt đầu có hiệu quả, tùy thuộc vào kích thước của đám mây giả và dạng cụ
thể của sự tác động cũng dựa trên tính chất của các hạt trong đám mây. Thế
nên các lực điện từ là do sự hiện diện của các photon giả trong hạt
có điện tích mà thành, trong lúc sự tương tác mạnh của các nucleon
là do sự hiện diện của các pion và các menson khác trong các
nucleon mà thành. Trong lý thuyết trường thì lực giữa các hạt trở thành
tính chất nội tại của các hạt. Lực và vật chất, hai khái niệm mà trong
quan điểm nguyên tử của Hy Lạp và của Newton bị tách rời nghiêm nhặt, theo
cách nhìn ngày nay, chúng có một nguồn gốc chung trong những cấu trúc động
mà ta gọi là hạt.
Cách nhìn đó về lực cũng là đặc trưng của đạo học phương
Đông, họ nhìn vận hành và biến dịch là tự tính nội tại của mọi vật. Trương
Tái nói về trời “Tất cả vật quay tròn, chúng đều có lực tự nhiên nội tại,
sự vận hành của chúng không phải từ bên ngoài tác động vào” và trong Kinh
Dịch ta đọc thấy “Nguyên lý của tự nhiên không xem lực nằm ngoài vật, mà
chúng biểu hiện sự hòa hợp của sự vận động nội tại của chúng”.
Cách mô tả cổ đại này của Trung quốc, xem lực là đại
biểu cho sự hòa hợp của vận hành nội tại trong sự vật hiện ra dưới ánh
sáng của lý thuyết trường lượng tử rất phù hợp, trong đó lực giữa các hạt
được xem là sự phát biểu của những cơ cấu động (đám mây giả), những đám
mây này là tính chất nội tại của hạt.
Lý thuyết trường của vật lý hiện đại đòi hỏi ta phải từ
bỏ sự phân biệt cổ điển giữa hạt mang khối lượng và không gian trống rỗng.
Thuyết trọng trường của Einstein và thuyết lượng tử cả hai đều cho thấy,
hạt không thể tách rời khỏi không gian chung quanh. Một mặt chính nó quyết
định cấu trúc của không gian đó, mặt khác không thể xem nó là một đơn vị
độc lập, mà là sự kết tụ của một trường liên tục, hiện diện khắp nơi trong
không gian. Trong thuyết trường lượng tử thì trường này là nguồn gốc của
mọi hạt và tương tác giữa các hạt với nhau.
Trường luôn luôn hiện diện, cùng khắp; không có gì
hủy diệt được nó, nó là chất liệu của mọi tiến trình vật chất. Nó là cái
“không”, từ đó mà photon đã sản sinh ra những p-menson (pion). Hạt sinh ra
hay phân hủy chỉ là những dạng vận động của trường.
Cuối cùng sự phân biệt giữa vật chất và không gian trống
rỗng phải hoàn toàn được từ bỏ, khi ta phát hiện rằng những hạt giả có thể
từ Không tự nhiên sinh ra và lại hoại diệt trong. Không mà không hề cần có
sự hiện diện của bất kỳ một nucleon nào hay một loại hạt nào của tương tác
mạnh. Biểu đồ chân không sau đây trình bày một tiến trình như thế: ba hạt
- một proton (p), một đối hạt antiproton (`p) và một pion (p) - được sinh
ra từ chân không và phân hủy lại trong chân không. Theo thuyết trường
lượng tử thì tiến trình như thế xảy ra liên tục. Chân không không hề trống
rỗng. Ngược lại nó chứa vô lượng các hạt, chúng sinh thành và phân huỷ vô
tận.
Ở đây, vật lý hiện đại có sự tương đồng sát sao nhất với
khái niệm Không của đạo học phương Đông. Như Tính Không của phương Đông,
chân không vật lý - được gọi như thế trong lý thuyết trường - không
phải là một tình trạng không có gì mà hàm chứa khả năng của tất cả mọi
dạng hình của thế giơí hạt. Những dạng này không phải là những đơn vị vật
lý độc lập, mà là những dạng xuất hiện tạm thời của cái Không cơ bản đó.
Như Kinh nói: “Sắc chính là Không, Không chính là Sắc”.
Mối liên hệ giữa các hạt giả và chân không tự nó cũng là
một mối liên hệ động. Chân không thực tế là một “Không sinh động”, nó cũng
thở trong một nhịp điệu vô tận của sinh thành và phân hủy. Nhiều nhà vật
lý cho rằng sự phát hiện tính động của chân không là một trong những khám
phá quan trọng nhất của vật lý hiện đại. Từ vai trò chỉ là cái bình trống
rỗng của các hiện tượng vật lý, chân không đã trở nên một đại lượng động
với ý nghĩa quan trọng nhất. Kết quả của vật lý hiện đại dường như đã xác
định lời nói của nhà đạo học Trung quốc Trương Tái:
Khi đã rõ, cái Không to lớn chứa đầy Khí,
Thì ai nấy đều biết, không có cái “không có gì”.
Việc nghiên cứu thế giới hạ nguyên tử trong
thế kỷ 20 đã phát hiện tính chất động nội tại của vật chất. Nó cho thấy,
thành phần của nguyên tử, các hạt, đều là những cơ cấu động; chúng không
hiện hữu như những đơn vị độc lập, mà là phần tử không tách rời của một
thể thống nhất, với nhiều mối tương quan.
Chương 15: ĐIỆU MÚA VŨ TRỤ
Những liên hệ này biểu diễn một dòng năng lượng không
ngừng nghỉ, năng lượng đó biểu hiện dưới sự trao đổi hạt; một mối liên hệ
động , mà trong đó các hạt cứ được tạo thành và phân hủy vô tận qua những
cấu trúc năng lượng. Các hạt tương tác sinh ra những cấu trúc ổn định,
chính các cấu trúc đó xây dựng nên thế giới vật chất, rồi thế giới vật
chất cũng không nằm yên, nó vận động tuần hoàn. Toàn bộ vũ trụ cứ thế mãi
mãi lao vào trong hoạt động và vận hành vô tận, trong điệu múa vĩ mô của
năng lượng.
Vũ điệu này bao gồm thiên hình vạn trạng những cấu trúc,
nhưng lạ lùng thay chúng cho phép ta phân chia chúng dưới vài loại hình
nhất định. Sự nghiên cứu các hạt hạ nguyên tử và tương tác của chúng cho
phép phát hiện ra một trật tự lớn. Tất cả mọi nguyên tử, tức là tất cả mọi
dạng hình của vật chất của thế giới chúng ta chỉ gồm có ba hạt mang khối
lượng cấu thành: proton, neutron, electron. Một hạt hạt thứ tư, photon thì
phi khối lượng và là đơn vị của các tia bức xạ điện từ. Proton, photon và
electron đều là những hạt ổn định, tức là chúng có thể sống vô tận, nếu
chúng không rơi vào một cuộc va chạm có thể tiêu diệt chúng. Còn neutron
thì ngược lại, nó có thể thình lình tự phân hủy. Sự tự phân hủy này được
gọi phân hủy beta (b) và là tiến trình cơ bản của một loại hoạt động phóng
xạ nhất định. Trong tiến trình đó, neutron tự biến thành proton, đồng thời
sinh ra thêm một electron và thêm một loại hạt phi khối lượng mới, mang
tên neutrino. Như proton và electron,neutrino cũng ổn định. Nó thường được
biểu diễn bằng chữ Hy Lạp u; cách viết của sự tự phân hủy beta này là :
N đ p + e-+ v
Sự phân hủy của neutron thành proton trong nguyên tử của
một chất phóng xạ làm cho nguyên tử này chuyển hóa thành một nguyên tử
hoàn toàn khác. Trong quá trình này lại có thêm electron được sinh ra nên
nó phát ra bức xạ mạnh, bức xạ này được áp dụng rộng rãi trong các ngành
sinh vật, y khoa và công nghiệp. Còn neutrino ngược lại, mặc dù chúng cũng
được sinh ra với một số lưọng như thế, nhưng rất khó phát hiện ra chúng,
vì chúng không có khối lượng, chẳng có điện tích.
Như ta đã biết, cứ mỗi hạt lại có một đối hạt cùng khối
lượng nhưng điện tích ngược lại. Đối hạt của photon cũng chính là nó; đối
hạt của electron là positron; thế nên ta óc đối hạt antiproton;
antineutron và antineutrino. Hạt neutrino sinh ra trong phân hủy beta vì
không có khối lượng, nói chính xác, không phải là neutrino mà la
antineutrino (`v), cho nên ta phải viết tiến trình này là:
N đ p + e- + `v
Đến nay, những hạt được nhắc tới chỉ là một phần nhỏ của
các hạt được biết tới. Tất cả mọi hạt khác đều bất ổn định và tự phân hủy
biến thành hạt khác trong thời gian rất ngắn, trong số đó một phần lại
phân hủy tiếp cho đến khi hình thành một nhóm những hạt ổn định. Việc
nghiên cứu các hạt bất ổn định rất tốn công, vì mỗi hạt của chúng phải
được sinh ra trong các quá trình va chạm, trong đó ta cần đến các thiết bị
gia tốc hạt khổng lồ, buồng đo và các thiết bị phức tạp khác nhằm phát
hiện hạt.
Phần lớn các hạt bất ổn đều tồn tại hết sức ngắn ngủi,
theo khái niệm con người: nhỏ hơn một phần triệu giây đồng hồ. Thế nhưng
ta cần xem đời sống đó trong mối tương quan với độ lớn của chúng, độ lớn
đó cũng hết sức nhỏ bé. Nếu nhìn như thế, thì nhiều hạt đó sống tương đối
lâu dài và một phần triệu giây đồng hồ trong thế giới hạt thật ra là một
khoảng thời gian rất lớn. Trong một giây, con người có thể đi một đoạn dài
gấp vài lần cơ thể họ. Thì đó xem như là thời gian mà một hạt đi một đoạn
dài gấp vài lần độ lớn của nó: ta có thể xem đơn vị thời gian đó là
giây đồng hồ hạt.
Để đi xuyên qua một nhân nguyên tử có độ lớn trung bình,
một hạt phải cần khoảng mười giây đồng hồ hạt đó, trong đó hạt đi với vận
tốc gần bằng vận tốc ánh sáng, đó là vận tốc khi hạt bị va chạm. Trong một
số lượng lớn các hạt phi ổn định thì có khoảng trên hai chục hạt, những
hạt này đủ sức xuyên qua nhiều nhân nguyên tử trước khi chúng tự phân hủy.
Khoảng cách này như thế dài gấp vài trăm ngàn lần độ lớn của chúng và
tương ứng khoảng thời gian vài trăm giờ đồng hồ hạt. Những hạt này
được ghi trong bảng trang sau đây, chung với các hạt ổn định đã được nhắc
đến. Phần lớn các hạt phi ổn định ghi trong bảng này đều đi được gần cả
cen-ti-mét, thậm chí vài cen-ti-mét trước khi chúng tự phân hủy, và những
hạt sống lâu nhất, một phần triệu giây, chúng đi cả vài trăm mét trước khi
tự phân hủy, so sánh với độ lớn của chúng thì đó là một đoạn đường khổng
lồ.
Tất cả những hạt được biết khác thì thuộc về loại
cộng hưởng, trong chương sau sẽ được nói kỹ hơn. Đời sống của chúng
ngắn hơn nhiều, chỉ vài giây hạt sau là chúng đã phân hủy, chúng
chỉ đi được một đoạn dài gấp vài lần độ lớn của chúng. Điều đó có nghĩa là
người ta không thể thấy chúng trong buồng đo và chỉ suy đoán gián tiếp sự
hiện diện của chúng. Trong buồng đo người ta chỉ thấy vết của các hạt được
ghi trong bảng sau đây.
| Các hạt ổn định và hạt có đời
sống tương đối dài |
|
Tên |
Ký hiệu |
| |
Hạt |
đối hạt |
| Photon |
g |
|
Lepton |
neutrino |
V |
|
|
Lepton |
Electron |
e- |
|
|
Lepton |
Myon |
m- |
|
| Hadron |
Menson |
Pion |
p+
po p- |
| Hadron |
Menson |
Kaon |
K+ Ko |
Ko K- |
| Hadron |
Menson |
Eta |
h |
| Hadron |
Baryon |
Proton |
p |
`p |
| Hadron |
Baryon |
Neutron |
n |
`n |
| Hadron |
Baryon |
Lambda |
|
|
| Hadron |
Baryon |
Sigma |
S+ So
S- |
|
| Hadron |
Baryon |
Cascaden |
|
|
| Hadron |
Baryon |
Omega |
|
|
Bảng này trình bày 13 loại hạt khác nhau, trong đó nhiều
hạt xuất hiện dưới những dạng điện tích khác nhau. Thí dụ những pion có
thể có điện tích dương (p+) hoặc điện tích âm (p-)
hay điện tích trung hoà (p0). Có hai loại neutrino, một loại
chỉ xuất hiện khi tương tác với electron (v), loại kia chỉ tương tác với
myon (vm). Các đối hạt cũng được trình bày, có ba loại hạt (g, p0,
h) cũng chíng là đối hạt của mình.Các hạt được xếp thứ tự theo khối lượng
càng lúc càng tăng của chúng: photon và neutrino là phi khối lượng,
electron có khối lượng bé nhất; các myon, pion và kaon nặng hơn electron
khoảng vài trăm lần, các hạt khác nặng hơn từ một đến ba ngàn lần.
Tất cả những hạt này có thể được sinh ra hay phân huỷ
trong quá trình va chạm. Mỗi hạt đều có thể được hoán đổi với tính cách là
hạt giả và nhờ thế nó tham gia vào sự tương tác giữa những hạt khác.
Điều này sinh ra một số lượng lớn tương tác giữa các hạt
và may thay, mặc dù ta chưa biết nguyên do thế nào, các tương tác đó được
xếp thành bốn loại có độ tương tác khác nhau rõ rệt:
-tương tác mạnh
-tương tác điện từ
-tương tác yếu và
-tương tác trọng trường
Trong số bốn loại này đối với chúng ta, tương tác điện
từ và trọng trường là gần gũi nhất vì chúng nghiệm được trong đời sống
hàng ngày. Tương tác trọng trường tác động lên các hạt nhưng chúng quá nhỏ
nên không thể chứng minh bằng thí nghiệm được. Thế nhưng trong thế giới vĩ
mô thì vô số các hạt làm nên các vật thể, số lượng đó cộng tương tác trọng
trường lại với nhau và sinh ra lực trọng trường, điều hành cả vũ trụ!
Tương tác điện từ cũng sinh ra giữa các hạt chứa điện tích. Chúng là nguồn
gốc sinh ra các tiến trình hóa học và sinh ra các cấu trúc nguyên tử cũng
như phân tử. Tương tác mạnh là lực giữ chặt proton và neutron trong nhân
lại với nhau.Chúng chính là lực hạt nhân, là năng lực mạnh nhất vượt xa
các lực khác trong thiên nhiên. Sức hút điện từ của nhân nguyên tử lên
electron chỉ bằng mười đơn vị (Electro-Volt), trong lúc đó thì lực hạt
nhân buộc chặt proton và neutron với một năng lực khoảng mười triệu đơn vị
đó.
Những nucleon không phải là những hạt duy nhất bị tương
tác mạnh tác động. Đại đa số các hạt đều là những hạt có tương tác mạnh
cả. Trong các hạt ngày nay được biết tới, chỉ có năm hạt (và những đối hạt
của chúng) không tham dự vào tương tác mạnh. Đó là photon và các lepton
được ghi ở đầu bảng. Vì thế, tất cả các hạt được chia thành hai nhóm:
lepton và hadron, loại sau có tương tác mạnh. Các hadron lại được chia làm
thành menson và baryon, chúng khác nhau nhiều cách, thí dụ tất cả baryon
đều có đối hạt riêng, trong lúc menson có thể đồng nhất với đối hạt của
mình.
Các lepton là những hạt tham dự vào loại tương tác thứ
tư, tương tác yếu. Loại tương tác này yếu và có biên độ nhỏ đến nỗi chúng
không ràng buộc gì với nhau được cả, trong lúc ba loại tương tác kia sản
sinh ra lực liên kết. Tương tác mạnh thì giữ nhân nguyên tử lại với nhau,
tương tác điện từ giữ phân tử và nguyên tử với nhau, tương tác trọng
trường giữ hành tinh, thiên thể và thiên hà với nhau. Tương tác yếu chỉ
thể hiện trong vài dạng va chạm của hạt và trong sự phân hủy của chúng,
như đã nói trong sự phân hủy beta.
Tất cả tương tác giữa các hadron được sinh ra bởi sự
hoán chuyển của các hadron khác. Sự chuyển hoá các hạt mang khối lượng này
là nguyên nhân tại sao các tác động tương tác chỉ có một biên độ nhỏ.
Chúng chỉ vươn xa khoảng được vài lần độ lớn của chúng và vì thế mà không
bao giờ xây dựng được một sức mạnh vĩ mô. Vì thế mà chúng ta không chứng
nghiệm được loại tương tác mạnh trong đời sống hàng ngày. Ngược lại tương
tác điện từ được sinh ra từ sự hoán chuyển của các photon phi khối lượng
và biên độ của chúng nhờ thế mà không bị hạn chế, đó là lý do mà ta gặp
năng lực điện và từ trong thế giới thông thường. Tương tác trọng trường
cũng được cho là do một loại hạt phi khối lượng sinh ra, gọi là
graviton. Nhưng chúng quá yếu nên tới nay vẫn chưa quan sát được
graviton, mặc dù không có lý do chính đáng nào có thể nghi ngờ được sự
tồn tại của nó.
Cuối cùng loại tương tác yếu có một biên độ hết sức ngắn
- ngắn hơn nhiều so với biên độ của tương tác mạnh - vì thế người ta cho
rằng chúng sinh ra do sự hoán chuyển của các hạt rất nặng. Các giả định đó
xem như hiện hữu dưới ba loại với tên là W+, W - và
Z. Người ta đoán rằng, chúng đóng một vai trò như photon trong tương tác
điện từ, chỉ khác là chúng có khối lượng lớn. Sự song hành này là cơ sở
của một phát triển gần đây về một loại thuyết trường lượng tử có tên là
thuyết Gauge và có khả năng mang lại một lý thuyết nhất quán về trường, nó
hợp nhất được sự tương tác điện từ và tương tác yếu.
Trong nhiều quá trình va chạm của vật lý năng lượng cao
thì sự tác động của tương tác điện từ, tương tác mạnh và tương tác yếu
sinh ra một hậu quả phức tạp với nhiều tiến trình sau đó. Những hạt bị va
chạm ban đầu thường bị phân hủy, rồi nhiều hạt mới được sinh ra, chúng lại
bị va chạm hay tự phân hủy thành những hạt ổn định, có khi qua nhiều lần
khác nhau. Hình sau cho thấy hình chụp trong buồng đo, trong đó có cả một
loạt những tiến trình sinh thành và phân hủy. Đó là một sự minh họa đầy
thuyết phục về tính biến dịch của vật chất trên bình diện hạt và cho thấy
sự tuôn trào của năng lựợng, trong đó những cơ cấu hay hạt khác nhau được
hình thành và phân hủy.
Hình trên: một tiến trình phức tạp của sự va chạm hạt
và hủy diệt: một pion mang điện tích âm (p-) đến từ bên trái và
va chạm với một proton - tức là với nhân của một nguyên tử hydrogen - đã
nằm chờ sẵn trong buồng đo; hai hạt này đều bị hủy diệt và sinh ra một
neutron (n) với thêm hai kaon (K và K+). Neutron bay xa mà
không để lại dấu vết gì, K đụng một proton khác trong buồng đo, hai hạt
này hủy diệt lẫn nhau và sinh ra một lambda (l) và một photon (g). Thế
nhưng cả hai hạt này đều không thấy được, vì l sau đó đã phân hủy nhanh
chóng thành một proton và một p -, cả hai hạt này để lại dấu
vết. Ta có thể thấy trong hình khoảng cách ngắn từ lúc sản sinh l và lúc
phân hủy. Còn K + hình thành trong sự va chạm ban đầu bay được
một đoạn và phân hủy thành ba pion.
Trong tiến trình sau đây, sự hình thành của vật chất
thật sự gây ấn tượng mạnh, khi một photon (g) phi khối lượng mang năng
lượng cao, vô hình trong buồng đo bỗng nổ ra, biến thành một cặp hạt mang
điện tích (một electron và một positron), hai hạt này bay theo hai đường
cong ngày càng xa nhau. Hình sau đây cho thấy một thí dụ tuyệt đẹp của
tiến trình này, trong đó hai cặp này được sinh ra.
Một loạt tiến trình, trong đó hai cặp được hình
thành: một K phân hủy thành một p - và hai photon (g), rồi từ
mỗi g lại sinh ra một cặp electron-positron, positron (e +) bay
về phía phải, electron (e -) bay lên phía trái.
Năng lượng ban đầu của tiến trình va chạm càng cao thì
càng nhiều hạt được sinh ra. Hình bên cho thấy sự hình thành của tám pion
trong một sự va chạm giữa một đối hạt antiproton và một proton và hình kế
tiếp cho thấy một trường hợp cực hiếm: sự hình thành của mười sáu hạt chỉ
trong một sự va chạm duy nhất giữa một pion và một proton.
Sự hình thành tám pion trong tiến trình va chạm giữa
một đối hạt antiproton (`p) và một proton (proton nằm chờ sẵn trong buồng
đo, do đó không thấy đường đi).
Tất cả những tiến trình va chạm này đều được cố ý thực
hiện trong phòng thí nghiệm với những máy móc khổng lồ, trong đó hạt được
gia tốc để đạt năng lượng cần thiết. Trên mặt đất, phần lớn các tiến trình
tự nhiên không đủ năng lượng để sinh hạt. Thế nhưng trong không gian, tình
hình hoàn toàn khác hẳn. Các hạt hạ nguyên tử xuất hiện tại trung tâm
thiên thể với số lượng lớn, trong đó tiến trình va chạm tương tự như trong
phòng thí nghiệm với gia tốc cao, chúng diễn ra một cách liên tục trong
thiên nhiên. Trong vài thiên thể, những tiến trình này sinh ra những bức
xạ điện từ cực mạnh dưới dạng sóng radio, sóng ánh sáng hay quang tuyến X,
chúng giúp các nhà thiên văn học có thêm các nguồn thông tin về vũ trụ.
Như thế không gian giữa các thiên hà là đầy những bức xạ điện từ có tần số
khác nhau, tức là đầy những photon với cường độ năng lượng khác nhau. Thế
nhưng chúng không phải là những hạt duy nhất bay trong không gian. Cùng
với photon, những bức xạ vũ trụ này cũng còn chứa những hạt khối
lượng các loại, nguồn gốc của chúng không được rõ. Phần lớn chúng là
proton, một số trong đó mang năng lượng cực lớn, hơn xa năng lượng của
những thiết bị gia tốc mạnh nhất.
Khi những bức xạ vũ trụ mang năng lượng cực mạnh
này đụng khí quyển trái đất thì chúng sinh ra va chạm với nhân của các
phân tử không khí và sinh ra nhiều hạt phụ, các hạt phụ này hoặc bị phân
hủy hoặc va chạm tiếp, lại sinh ra các hạt khác, lại phân hủy hay va chạm,
cứ thế cho tới lúc các hạt cuối cùng chạm mặt đất. Theo cách thế này mà
một proton duy nhất, khi đã đến vùng khí quyển mặt đất, có thể gây nên cả
một loạt tiến trình, trong đó nguồn động năng ban đầu của nó biến thành
một đám mưa chứa nhiều hạt khác nhau, các hạt đó dần dần được hấp
thụ khi chúng đi vào không khí với nhiều cuộc va chạm. Thế nên, hiện tượng
của những tiến trình va chạm được quan sát trong phòng thí nghiệm cao năng
lượng thực tế xảy ra liên tục trong tự nhiên, chỉ khác là trong bầu khí
quyển, chúng xảy ra mãnh liệt hơn nhiều, đó là một dòng năng lượng liên
tục, dòng đó đi suốt một quá trình nhảy múa tuần hoàn của hình thành và
phân hủy của một số lớn những hạt. Dưới đây là hình ảnh hoành tráng của vũ
điệu năng lượng đó, tình cờ được ghi lại trong buồng chụp của Trung tâm
Nghiên cứu Hạt nhân của châu Âu CERN, xem như sự phát kiến bất ngờ về vũ
trụ trong một cuộc thí nghiệm.
Không phải tất cả các tiến trình của hình thành và phân
hủy trong thế giới hạt đều có thể ghi lại trong buồng đo. Có những sự hình
thành và phân hủy của các hạt giả, chúng được hoán chuyển trong sự tương
tác các hạt, nhưng chúng hiện diện quá ngắn ngủi nên không thể quan sát.
Hãy giả định sự hình thành hai hạt pion trong tiến trình va chạm của một
proton và đối hạt antiproton. Biểu đồ không - thời gian của biến cố này
được vẽ như sau:
Người ta thấy rằng, trong biểu đồ này vạch vũ trụ của
proton (p) và antiproton (`p), chúng va chạm nhau trong một điểm của không
gian - thời gian, phá hủy lẫn nhau và sinh ra hai pion (p + và
p -). Thế nhưng biểu đồ này chưa biểu diễn đầy đủ hình ảnh thật
sự. Sự tương tác giữa proton và antiproton có thể xem là sự hoán chuyển
của một neutron giả, như biểu đồ sau đây cho thấy:
Tương tự như thế, quá trình bên, trong đó một proton và
antiproton va chạm sinh ra bốn pion, có thể được diễn giải là một sự hoán
chuyển phức tạp của ba hạt giả, ba hạt này gồm có hai neutron và một
proton.
Hình này chỉ có tính chất tượng trưng và không chỉ
đúng các góc của đường đi của hạt. Ta cần chú ý proton nguyên thủy nằm đợi
trong buồng đo, nó không hiện lên trong hình chụp, nhưng trong biểu đồ
không - thời gian nó lại được biểu diễn vì nó vận động trong thời gian.
Thí dụ này cho thấy những hình chụp trong buồng đo thật
ra chỉ là một hình ảnh thô sơ về sự tương tác giữa các hạt. Tiến trình
thật sự chính là một loạt hoán chuyển phức tạp của những hạt. Tình hình
thực sự phức tạp hơn, nếu người ta nhớ rằng, mỗi hạt tham gia vào quá
trình tương tác bản thân đó cũng liên tục phát ra những hạt giả và hấp thụ
chúng lại. Thí dụ một proton luôn luôn phát ra một pion trung hòa p 0;
có khi nó lại phát ra một p + và tự biến thành neutron n, sau
đó lại hấp thụ p + rồi trở thành proton. Trong trường hợp đó
thì biểu đồ Feyman của poton phải được thay thế bằng những biểu đồ như
hình sau.
Trong những tiến trình giả này thì một hạt nguyên thủy
có thể biến mất hoàn toàn trong một thời gian ngắn, như trong tiến trình
(b) cho thấy. Lấy thí dụ khác, một pion âm p-, có thể tự biến
thành một neutron (n) và một đối hạt antiproton (`p), hai hạt giả này tự
hủy diệt lẫn nhau để trở thành pion nguyên thủy:
Cần nhớ rằng tất cả những tiến trình này đều tuân thủ
quy luật của thuyết lượng tử, tức là tuân thủ phép xác suất, nó chỉ nói
lên khuynh hướng có thể xảy ra chứ không nói chúng nhất định sẽ xảy ra.
Với một xác suất nhất định, mỗi một proton chỉ có khả năng hiện hữu với
dạng proton và p0(a), hay neutron và p+ (b) và với
những dạng khác. Những thí dụ nêu trên chỉ là những tiến trình giả đơn
giản nhất. Nhiều tiến trình phức tạp hơn hẳn sẽ xảy ra khi những hạt giả
sinh ra những hạt giả khác và do đó mà tạo nên cả một mạng lưới những
tiến trình tương tác giả. Trong tác phẩm The World of Elementary
Paticles (Thế giới các hạt cơ bản) Kenneth Ford dựng nên một thí dụ
phức tạp của một mạng lưới gồm sự hình thành và phân hủy của 11 hạt giả và
ghi chú thêm: “Biểu đồ cho thấy một loạt những biến cố, nhìn xem thì thấy
hỗn độn, nhưng hoàn toàn thực tế. Thỉnh thoảng mỗi proton chuyển động đúng
như trong vũ điệu hình thành và phân hủy này”.
Ford không phải là nhà vật lý duy nhất sử dụng cách nói
như “sự nhảy múa của hình thành và phân hủy” hay nhảy múa năng lượng. Hình
ảnh về nhịp điệu và nhảy múa sẽ hiện đến khi ta hình dung về dòng năng
lượng chảy qua các cấu trúc, những cấu trúc sinh ra thế giới của các hạt
cơ bản. Nền vật lý hiện đại đã chỉ rõ, rằng vận động và nhịp điệu là tính
chất cơ bản của vật chất; rằng mọi vật chất, dù trên mặt đất hay trong
không gian, đều tham gia vào một vũ điệu liên tục của vũ trụ.
Các xác suất của chúng cũng không hề tuỳ tiện, chúng bị
hạn chế bởi một số qui luật mà trong chương 16 sẽ bàn tới.
Nhà đạo học phương Đông có một quan điểm động về vũ trụ,
tương tự như vật lý hiện đại và vì thế không có gì đáng ngạc nhiên khi họ
cũng dùng hình ảnh của vũ điệu. Trong tác phẩm Tibetan Journey
(Thời gian sống tại Tây Tạng), Alexandra David Neel kể lại một thí dụ đẹp
về hình ảnh đó của tiết điệu và nhảy múa, trong đó bà kể về một vị Lạt-ma,
người tự nhận là “đạo sư âm thanh” đã kể cho bà nghe quan niệm của mình về
vật chất như sau:
Mọi sự đều do nguyên tử tập hợp lại, những nguyên tử
đó nhảy múa và qua sự vận động của chúng mà sinh ra âm thanh. Nếu nhịp
điệu của điệu múa thay đổi thì âm thanh phát ra cũng thay đổi… mỗi một
nguyên tử là một bài ca bất tận và mỗi một âm thanh hình thành trong mỗi
chớp mắt bằng những dạng hình cô đọng và tinh tế.
Sự tương đồng của quan điểm này với nền vật lý hiện đại
tỏ rõ khi ta nhớ rằng, âm thanh là một sóng có tần số nhất định, tần số đó
thay đổi theo âm thanh cao thấp và nhớ rằng, hạt cơ bản, khái niệm hiện
đại của nguyên tử, chẳng qua cũng chỉ là sóng mà tần số tỉ lệ với năng
lượng của chúng. Theo thuyết lượng tử thì quả thật mỗi hạt cơ bản ca
bài ca bất tận của nó và sản sinh ra những cơ cấu năng lượng có tiết điệu
(những hạt giả) trong dạng hình cô đọng và tinh tế.
Hình tượng của về vũ điệu vũ trụ được diễn tả sâu sắc và
đẹp đẽ nhất trong Ấn Độ giáo với hình ảnh của thần Shiva nhảy múa. Một
trong những hiện thân của Shiva - một trong những vị thần Ấn Độ xưa cũ
nhất và cũng được ngưỡng mộ nhất - là vị hoàng đế vũ công. Trong niềm tin
của Ấn Độ giáo thì tất cả đời sống chỉ là một phần trong tiến trình tuần
hoàn của sinh thành và hoại diệt, của tử vong và tái sinh, và điệu nhảy
của Shiva biểu diễn tiết điệu vô cùng này của sống chết, nó tiếp diễn
trong vô tận đại kiếp. Hãy nghe lời của Anada Coomaraswamy:
Trong đêm tối của Brahman thì thế giới tự nhiên bất
động và không thể nhảy múa, cho đến ngày Shiva muốn: từ báo thân của mình,
ngài đứng dậy và gửi cho vật chất đang im lìm những sóng nhảy múa hầm hập
gồm toàn âm thanh thức tỉnh và xem kìa! Vật chất sống dậy, nhảy múa và
biến thành hào quang nằm quanh Ngài. Trong lúc nhảy múa Ngài giữ vững tính
thiên hình vạn trạng của hiện tượng. Vẫn tiếp tục nhảy múa, theo thời
gian, Ngài dùng lửa hủy diệt mọi sắc danh và tạo lại sự tĩnh lặng. Đây là
thi ca mà cũng chính là khoa học.
Vũ điệu của Shiva không những biểu diễn sự tuần hoàn
sinh diệt của vũ trụ mà cũng là nhịp điệu hàng ngày của sống chết, đối với
đạo học Ấn Độ thì nhịp điệu đó là cơ sở của mọi hiện hữu. Đồng thời Shiva
nhắc nhở chúng ta hiện tượng muôn vẻ đó trong thế gian chỉ là do ảnh
- nó không cơ bản, nó chỉ là ảo giác và liên tục biến đổi. Ngài tạo ra nó
rồi hủy diệt nó trong dòng nhảy múa bất tận của mình, như Heinrich Zimmer
mô tả:
Vũ điệu ào ạt và cao quý của Ngài gia tăng thêm cho sự
ảo giác về vũ trụ. Tay chân quay cuồng và cơ thể uốn lượn của Ngài kích
thích sự sinh thành và hoại diệt liên tục của vũ trụ, trong đó cái tử cân
bằng với cái sinh và sự hủy diệt luôn luôn chấm dứt sự sinh thành.
Nghệ sĩ Ấn Độ của thế kỷ thứ 10, thứ 12 đã diễn tả thần
Shiva nhảy múa tuyệt đẹp bằng tượng đồng với hình ảnh bốn tay, với sự cân
bằng tuyệt hảo nhưng lại trình bày được tính chất động của nhịp điệu và
tính nhất thể của đời sống. Những ý nghĩa khác nhau của điệu múa được diễn
tả bằng những chi tiết bức tượng qua một biểu tượng phức tạp. Tay phải bên
trái phía trên của thần cầm trống, đại diện cho âm thanh sinh thành nguyên
thủy, tay trái phía trên là ngọn lửa, yếu tố của hủy diệt. Sự cân bằng của
hai tay này đại diện cho sự cân bằng động giữa sinh thành và hoại diệt
trong thế giới, được khắc hoạ thêm nhờ khuôn mặt tĩnh lặng và ánh sáng
ngời của vũ công giữa hai tay, trong đó có sự đối cực của thành hoại đã bị
vượt lên và chuyển hóa. Tay phải thứ hai bắt ấn vô úy và biểu diễn tính
bảo toàn, cứu nguy và an lạc; trong lúc tay trái kia chỉ xuống chân đang
nhấc lên, tượng trưng cho sự giải thoát khỏi ảo giác. Vị thần nhảy múa
trên xác quỷ, quỷ tượng tưng cho sự vô minh của con người, nó phải được
đối trá để đạt sự giải thoát.
Vũ điệu Shiva, nói như Coomaraswamy, là “hình ảnh rõ
nhất của hoạt động thượng đế, mà bất cứ nghệ thuất hay tôn giáo nào muốn
ca tụng”. Vì Thượng đế ở đây là hóa thân của Brahman nên hoạt động của
Ngài chính là muôn hình vạn trạng những xuất hiện của Brahman trong thế
giới. Vũ điệu của Shiva chính là vũ trụ đang nhảy múa, là nguồn năng lượng
bất xuyên chảy qua vô cùng những cấu trúc đang xen kẽ vào nhau.
Nền vật lý hiện đại đã chỉ rõ, rằng nhip điệu sinh thành
và biến hoại không không những chỉ là bốn mùa xuân hạ thu đông và sự sống
chết của sinh vật, mà còn trong bản chất đích thực của vật chất vô sinh.
Theo thuyết trường lượng tử thì tất cả mọi tương tác của mọi nguyên tố cấu
thành vật chất diễn ra thông qua sự hình thành và hấp thụ các hạt giả. Hơn
thế nữa, điệu múa thành hoại chính là cơ sở hiện hữu của vật chất, vì tất
cả các hạt vật chất cơ bản thông qua sự sản sinh và tái hấp thụ các hạt
giả mà tự tương tác với chính mình. Thế nên, nền vật lý hiện đại đã khám
phá rằng, mỗi hạt hạ nguyên tử không những chỉ có một sự nhảy múa năng
lượng, mà là một sự nhảy múa, bản thân nó là một tiến trình đầy
sức sống của sinh thành và hoại diệt.
Cấu trúc của vũ điệu này là khía cạnh chủ yếu và quy
định tính chất mỗi hạt. Thí dụ năng lượng tham gia khi phát ra hay hấp thụ
hạt giả là tương ứng với khối lượng tương tự của hạt tương tác. Vì thế
những hạt khác nhau có vũ điệu khác nhau, năng lượng và khối lượng khác
nhau. Cuối cùng các hạt giả không những là chủ yếu trong sự tương tác hạt
và tính chất của chúng, mà còn bị không gian trống rỗng sinh ra và huỷ
diệt. Cho nên không phải chỉ vật chất thôi mà cả không gian trống rỗng
cũng tham gia vũ điệu, hình thành và phân huỷ các cấu trúc năng lượng, kéo
dài vô tận.
Theo huyền thoại Ấn Độ giáo nói về một tiến trình liên
tục của thành hoại của toàn vũ trụ, thì tiến trình này là cơ sở của mọi
hiện hữu và của mọi hiện tượng tự nhiên. Cách đây hàng trăm năm, nghệ sỹ
Ấn Độ đã diễn tả Shiva nhảy múa bằng tượng đồng. Ngày nay thì nhà vật lý
đã dùng những phương tiện hiện đại nhất để diễn tả những cấu trúc của nhịp
điệu vũ trụ đó. Những hình ảnh ghi lại sự tương tác hạt trong buồng đo,
những hình minh chứng tiết điệu thành hoại liên tục của vũ trụ, là những
hình ảnh thấy được của điệu múa Shiva, những hình ảnh đó có thể đặt ngang
hàng với vẻ đẹp và ý nghĩa sâu kín với các tác phẩm của Ấn Độ. Như thế,
những biểu tượng của điệu múa vũ trụ này đã thống nhất huyền thoại cũ xưa,
nghệ thuật tôn giáo vật lý hiện đại lại vào một mối. Thực tế đó là thi ca
mà cũng chính là khoa học.
Thế giới hạ nguyên tử là một thế giới của nhịp điệu,vận
hành và biến dịch liên tục. Thế nhưng nó không tùy tiện và hỗn loạn mà
luôn giữ một dạng nhất định và rõ ràng.
Chương 16:
CẤU TRÚC ĐỐI XỨNG QUARK - MỘT
CÔNG ÁN MỚI?
Trước hết là tất cả các hạt của một loại đều giống nhau,
chúng có một khối lượng như nhau, điện tích như nhau và các tính chất đặc
trưng khác cũng giống nhau. Hơn thế nữa, các hạt mang điện tích đều có
đúng điện tích của một electron (hay có dấu ngược lại), hoặc có điện tích
gấp đôi của electron. Điều này cũng đúng với các đại lượng mang tính chất
khác, những trị số đó không tùy tiện mà được giới hạn trong một số lượng
có hạn. Qua đó ta có thể xếp loại các hạt trong một số ít loại nhất định
hay những họ. Điều này dẫn đến câu hỏi, thế thì những cấu trúc nhất định
này làm sao có thể sinh thành trong một thế giới động và liên tục thay đổi
được.
Sự xuất hiện các dạng nhất định trong cấu trúc của vật
chất thật ra không phải là hiện tượng mới, người ta đã thấy nó trong thế
giới nguyên tử. Cũng như các hạt hạ nguyên tử, các nguyên tử của cùng một
loại thì hoàn toàn giống nhau và những nguyên tử khác nhau của các yếu tố
hóa tính được xếp loại trong những nhóm của bảng phân loại tuần hoàn. Ngày
nay ta hiểu rõ sự phân loại này, nó dựa trên số lượng của proton và
neutron trong nhân nguyên tử và trên sự phân bố của electron trong các vân
đạo. Tính chất sóng của electron qui định các vân đạo đó cách xa bao nhiêu
và độ quay của một electron trên một vân đạo cho sẵn. Tính chất sóng đó
hạn chế các đại lượng này trong vài con số nhất định, chúng liên hệ với sự
dao động nhất định của sóng electron. Thế nên trong cấu trúc nguyên tử chỉ
có một số mẫu hình nhất định, chúng được qui định bởi một nhóm số lượng
tử, mẫu hình đó thể hiện bởi các dạng dao động của sóng electron trong các
vân đạo. Những dao động này quyết định các tình trạng tương tự của một
nguyên tử và vì thế mà hai nguyên tử hoàn toàn giống nhau nếu chúng cùng ở
trong trạng thái cơ bản hay trạng thái kích thích như nhau.
Cấu trúc của các hạt cơ bản cho thấy sự tương đồng lớn
với cấu trúc của nguyên tử, thí dụ phần lớn các hạt đều quay quanh trục
của mình như một con vụ. Độ quay nội tại Spin của nó được hạn chế trên các
đại lượng nhất định, chúng được diễn tả bằng những số nguyên của một đơn
vị gốc. Thí dụ spin của baryon có thể là, 3/2, 5/20…, trong lúc đó thì
spin của menson là 0, 1, 2… Điều này nhắc ta nhớ nhiều đến các độ quay của
các electron trên vân đạo của chúng, các độ quay đó cũng được hạn chế bởi
các trị số được biểu diễn bằng số nguyên.
Tính tương tự với các cấu trúc nguyên tử càng rõ hơn với
thực tế là, các hạt có tương tác mạnh hay hadron có thể được xếp họ chung
với nhau mà các thành viên có tính chất như nhau, không kể khối lượng và
spin của chúng. Các thành viên cao của những họ này là những hạt cơ bản
sống hết sức ngắn ngủi, ta gọi chúng là resonance và được phát hiện rất
nhiều trong vài chục năm qua. Khối lượng spin của các resonance tăng dần
theo một cách có qui định trong các họ và xem ra sẽ tiến tới vô cực. Tính
chất có qui luật này làm ta nhớ đến các mức độ của những tình trạng kích
thích các nguyên tử và làm cho nhà vật lý tiến đến cách nhìn, là các thành
viên cao (khối lượng nặng) của hadron không hề là những hạt gì khác, mà
chẳng qua chính là thành viên có khối lượng thấp nhưng ở dạng bị kích
thích. Cũng như một nguyên tử, một hadron có thể lưu trú trong những dạng
bị kích thích, và sống rất ngắn ngủi, dạng kích thích đó được biểu diễn
bằng spin cao hơn hay năng lượng (chính là khối lượng ) cao hơn.
Sự tương tự giữa những tình trạng lượng tử của nguyên tử
và những hạt hadron cho thấy, bản thân hadron cũng có thể là những vật thể
được tạo thành bởi cấu trúc nội tại, cấu trúc đó có thể bị kích thích, tức
là chúng hấp thụ năng lượng để làm thành một cấu trúc khác. Tuy nhiên hiện
nay ta chưa hiểu được các cấu trúc đó hình thành như thế nào. Trong vật lý
nguyên tử, ta có thể lý giải chúng dựa trên tính chất và sự tương tác với
các hạt cấu thành nguyên tử (proton, neutron, và electron), nhưng trong
nền vật lý hạt thì chưa lý giải được. Các cấu trúc tìm thấy được trong thế
giới hạt chỉ được xác định và phân loại một cách thuần tịnh thực nghiệm
chứ chưa được suy luận từ các chi tiết của cấu trúc hạt.
Khó khăn chủ yếu mà nhà vật lý hạt gặp phải là khái niệm
của vật thể do các phần tử khác tạo thành khái niệm đó không còn ứng dụng
được trong hạt hạ nguyên tử nữa. Khả năng duy nhất để tìm phần tử tạo
thành của một hạt cơ bản là phá vỡ nó bằng tiến trình va chạm với năng
lượng cao. Thế nhưng các hạt vỡ ra đó lại không hề nhỏ hơn hạt cơ bản ban
đầu. Thí dụ hai hạt proton va chạm với nhau với vận tốc lớn sẽ sinh ra một
loạt các mảnh, thế nhưng không có mảnh nào có thể được gọi là mảnh vỡ của
proton. Các mảnh đó luôn luôn đều là hadron toàn vẹn, chúng được sinh ra
từ động năng và khối lượng của các proton ban đầu. Vì thế mà việc tách một
hạt để tìm phần tử cấu thành của nó là điều rất không rõ ràng, vì chúng
tùy thuộc nơi năng lượng tham gia trong các tiến trình va chạm. Nơi đây ta
có tình trạng của tương đối, trong đó một cấu trúc năng lượng biến mất,
một cấu trúc khác sinh ra và khái niệm tĩnh tại về vật thể do nhiều phần
tử hợp thành không còn áp dụng được nữa trong những cấu trúc đó. Cấu trúc
của một hạt chỉ có thể hiểu theo nghĩa động: đó là tiến trình và sự tương
tác.
Khi hạt bị vỡ thành những mảnh trong tiến trình va chạm,
điều đó có qui định nhất định và vì các mảnh lại là các hạt cùng loại nên
ta có thể dùng các qui luật đó để mô tả những tính chất nhất định được
quan sát trong thế giới hạt. Trong những năm sáu mươi, khi phần lớn các
hạt ngày nay ta biết đến được phát hiện và các họ của các hạt bắt đầu xuất
hiện thì phần lớn các nhà vật lý đều tìm hiểu các tính chất nói trên, số
ít khác lại tìm hiểu vấn đề khó khăn do nguyên nhân động của cấu trúc hạt
sinh ra. Với cách làm như thế họ rất thành công.
Khái niệm của đối xứng đóng một vai trò quan trọng trong
những nghiên cứu này. Nhà vật lý tổng quát hóa nó lên và cho nó một ý
nghĩa trừu tượng và qua đó mà khái niệm này trở thành hữu dụng khi phân
loại các hạt. Trong đời sống hàng ngày, sự đối xứng trục là trường hợp
thông thường nhất của đối xứng. Một dạng hình là đối xứng trục khi ta có
thể vẽ một đường thẳng và chia hình ra hai phần như nhau.
Loại đối xứng cao cấp hơn là dạng hình, trong đó có
nhiều trục đối xứng như hình dưới đây của một biểu tượng Phật giáo. Tuy
nhiên sự phản chiều không phải là cách duy nhất liên quan tới đối xứng.
Một dạng hình cũng có thể gọi là đối xứng sau khi quay một góc nhất định,
nó sẽ trở về vị trí cũ. Thí dụ đồ hình âm dương của Trung quốc dựa trên
loại đối xứng quay này.
Trong vật lý hạt, tính đối xứng, ngoài loại phản chiếu
và quay, còn có mối liên hệ với nhiều phương pháp khác và chúng không
những chỉ xảy ra trong không gian bình thường (và trong thời gian) mà cả
trong không gian toán học trừu tượng. Chúng được áp dụng cho hạt và nhóm
các hạt , và vì tính chất hạt không thể tách rời khỏi sự tương tác lẫn
nhau giữa chúng, nên tính đối xứng cũng có thể áp dụng cho sự tương tác,
tức là cho những tiến trình có hạt tham dự. Các tính đối xứng này hữu ích,
vì lẽ chúng liên hệ chặt chẽ với qui luật bảo toàn. Một khi một tiến trình
trong phạm vi hạt có một sự đối xứng thì nơi đó có một đại lượng đo được,
đại lượng đó được bảo toàn, tức là một đại lượng bất biến trong suốt quá
trình. Những đại lượng này cho ta những yếu tố bất biến trong quá trình
chuyển biến phức tạp của hạt vật chất hạ nguyên tử và chúng phù hợp một
cách lý tưởng cho việc mô tả sự tương tác các hạt. Một số đại lượng thì
bất biến xuyên qua mọi tương tác, một số khác chỉ bất biến qua một số
tương tác, thế nên mỗi tiến trình tương tác đều được liên hệ với một nhóm
đại lượng bảo toàn nhất định. Do đó tính đối xứng hiện ra trong tính chất
của hạt với tính cách là qui luật bảo toàn trong liên hệ tương tác của
chúng. Trong ngôn ngữ của nhà vật lý thì hai khái niệm này hoán chuyển
được. Trong một số trường hợp, ta gọi là sự đối xứng của tiến trình,
trường hợp khác ta gọi là luật bảo toàn, tùy theo lúc nào hữu ích hơn.
Có bốn luật bảo
toàn cơ bản, chúng được quan sát trong tất cả mọi tiến trình. Trong số đó
thì đã có ba loại liên hệ với điều kiện đối xứng đơn giản trong không gian
thông thường và thời gian thông thường.
Tất cả mọi tương
tác giữa hạt đều đối xứng trong không gian - chúng giống hệt nhau, dù
chúng xảy ra ở London hay New York, về mặt thời gian thì chúng cũng đối
xứng, tức là chúng xảy ra bất kỳ, dù ngày thứ hai hay ngày thứ tư trong
tuần. Tính đối xứng đầu tiên liên hệ với sự bảo toàn năng lượng. Điều đó
có nghĩa là toàn bộ xung lực của các hạt tham gia vào một quá trình tương
tác và toàn bộ năng lượng của chúng (kể cả khối lượng) không thay đổi
trước và sau tiến trình. Tính đối xứng cơ bản thứ ba nói về định hướng
trong không gian. Thí dụ trong một tiến trình va chạm thì bất kỳ, dù các
hạt va chạm nhau có chuyển động theo trục tung hay hoành. Kết quả của tính
đối xứng này là tổng trị số của xung lượng quay (kể cả spin của các hạt)
được bảo toàn trong một tiến trình. Cuối cùng là sự bảo toàn của điện
tích. Điều này liên hệ với một điều kiện đối xứng phức tạp, nhưng nếu phát
biểu như tính bảo toàn thì nó rất đơn giản, đó là tổng số điện tích của
mọi hạt trong một tương tác được bảo toàn. Ngoài ra còn có vài luật bảo
toàn khác nữa, chúng được phát biểu bằng tính đối xứng trong không gian
toán học trừu tượng như trường hợp của bảo toàn điện tích. Đến nay ta
biết, một vài luật trong đó có giá trị cho tất cả mọi tương tác, một số
khác chỉ có giá tị trong một số tương tác (thí dụ chỉ đúng cho tương tác
yếu). Những đại lượng bảo toàn liên hệ có thể được gọi là điện tích ảo
của hạt. Vì chúng là những số nguyên (± 1, ± 2…) hay có số chia đôi (±
1/2, ± 3/2, ± 5/2…), nên người ta gọi nó là số lượng tử, tương tự như số
lượng tử trong vật lý nguyên tử. Mỗi hạt như thế được chỉ định bởi một
nhóm số lượng, nhóm số này cùng với khối lượng của hạt xác định toàn bộ
tính chất của hạt.
Thí dụ hadron có
những trị số rõ rệt “Isospin” và “Hypercharge” hai trị số lượng tử, chúng
không thay đổi trong các tương tác mạnh. khi tám menson của bảng trình bày
trong chương trước được xếp theo hai trị số lượng tử này, chúng tạo ra một
cấu trúc có hình bát giác cân đối, được gọi là “Menson octet”. Hình này
cho thấy một sự đối xứng rõ rệt, thí dụ, những hạt và đối hạt giữ các vị
trí đối nghịch trong hình bát giác, hai hạt ở trung tâm lại chính là đối
hạt của bản thân mình.
Tám hạt baryon
nhẹ nhất cũng tạo nên cấu trúc như thế, nó được gọi là “Baryon octet”. Thế
nhưng lần này, các đối hạt không còn được chứa đựng trong hình bát giác,
mà chúng tạo nên một “Đối octet” có dạng như vậy.
Các baryon còn
lại trong bảng các hạt, các omega thì thuộc về cấu trúc khác mang tên là
“Baryon decuplet”, đứng chung với chín resonance.
Tất cả các hạt
nằm trong một cấu trúc đối xứng nhất định đều có những trị số lượng tử như
nhau, chỉ trừ isospin và hypercharge là những số cho chúng các vị trí khác
nhau trong cấu trúc. Thí dụ, tất cả mọi menson trong đó octet đều có spin
bằng không (tức chúng không quay gì cả); những baryon trong octet thì có
spin bằng 1/2 và các baryon trong decuplet có spin bằng 3/2.
Thế nên, các trị
số lượng tử vốn được sử dụng để xếp hạt trong họ của chúng, tạo nên những
cấu trúc đối xứng rõ ràng, chúng cũng chỉ định vị trí của các hạt riêng lẻ
trong mỗi cấu trúc đồng thời cũng phân loại các tương tác khác nhau của
hạt đúng theo luật bảo toàn. Nhờ thế mà hai tính chất liên hệ giữa đối
xứng và bảo toàn được xem là hết sức hữu ích nhằm trình bày có tính qui
luật trong thế giới hạt.
Điều đáng ngạc
nhiên là phần lớn các qui luật này lại được diễn tả một cách rất đơn giản,
nếu ta giả định rằng tất cả hadron được tạo bởi một số ít những đơn vị,
đơn vị đó hiện nay chưa phát hiện được.
Những đơn vị
(hay hạt) đó được Murray Gell-Mann gọi bằng một cái tên giả tưởng là
“Quark”, là người đã lấy những dòng của James Joyce trong tác phẩm
Finnergarn’s Wake, khi ông giả định chúng hiện hữu. Gell-Mann thành công
trong việc suy ra một loạt các cấu trúc hadron, như các octet hay decuplet
nói trên, bằng cách cho những trị số lượng tử phù hợp gắn vào ba hạt quark
và ba đối hạt antiquark, rồi ông biết để những viên gạch đó ở những vị trí
tương quan với nhau để tạo nên baryon và menson, trong đó các trị số lượng
tử của chúng chỉ do các trị số của các hạt quark cộng lại. Với nghĩa này
thì baryon được gọi gồm có ba quark, có ba đối hạt antiquark và
menson gồm một quark và một antiquark.
Tính đơn giản và
hữu dụng của mô hình này thì thật đáng kinh ngạc, thế nhưng nó sẽ mang lại
khó khăn trầm trọng nếu quark thật sự được xem là thành phần vật chất của
hadron. Tới nay, chưa hadron nào được phá vỡ mà thành ra các quark cả, mặc
dù ta bắn phá chúng với các nguồn năng lượng lớn nhất có thể có, điều đó
có nghĩa là các quark phải được giữ chặt với nhau bằng những lực liên kết
cực mạnh. Theo hiểu biết hiện nay của chúng ta về hạt và tương tác của
chúng thì những lực này phải bao gồm luôn cả những hạt khác và như thế
quark cũng phải có những cấu trúc, cũng như tất cả các hạt có tương tác
mạnh khác.
Thế mà mô hình
quark chủ yếu gồm các điểm, phi cơ cấu. Vì sự khó khăn cơ bản này,
tới nay không thể phát biểu mô hình quark dưới dạng động để phù hợp với
đối xứng và các lực liên kết.
Về mặt thực
nghiệm, trong những thập niên qua người ta có những cuộc săn lùng kiếm
quark quyết liệt nhưng không thành công. Nếu các quark thật sự hiện
hữu thì nó phải dễ thấy vì mô hình Gell-Mann cho chúng những tính chất rất
bất thường, như điện tích bằng 1/3 và 2/3 điện tích electron, điều không
đâu có trong thế giới hạt. Tới nay người ta không quan sát hạt nào có tính
chất đó mặc dù có những nỗ lực rất lớn. Vì thực nghiệm không phát hiện ra
chúng, cộng thêm những phản đối lý thuyết về thực tại của chúng, tất cả
những điều đó làm sự hiện hữu của quark rất đáng nghi ngờ.
Mặt khác, mô
hình quark vẫn rất thành công nếu tính thêm những qui luật được phát hiện
trong thế giới hạt, mặc dù mô hình đó không còn được sử dụng một cách đơn
giản nữa. Trong mô hình Gell-Mann nguyên thủy, tất cả hadron có thể được
xây dựng bằng ba loại quark và ba đối hạt antiquark. Nhưng trong thời gian
qua, nhà vật lý giả định rằng có thêm những hạt khác để đáp ứng nhiều dạng
khác nhau của cấu hadron. Ba hạt quark nguyên thủy được tạm đặt tên là u,
d và s, viết tắt của up, down và strange. Sự mở rộng
đầu tiên của mô hình quark trên toàn bộ thông tin có được của hạt, là đòi
mỗi quark phải xuất hiện trong ba cách khác nhau, hay ba màu. Từ
màu được sử dụng nơi đây một cách tùy tiện, không liên hệ gì với màu
sắc bình thường. Dựa trên mô hình quark có màu, baryon gồm có ba
quark có màu khác nhau, trong lúc đó thì menson gồm có một quark và một
đối hạt cùng một màu.
Việc sử dụng các
màu đã nâng số lượng của quark lên chín(ba màu của ba loại u, d, s), và
trong thời gian gần đây người ta giả định có thêm một quark, nó cũng xuất
hiện trong ba màu. Với khuynh hướng ưa đặt tên giả tưởng của nhà vật lý,
hạt quark mới này mang tên c, viết tắt của “charm”. Điều này mang tổng số
các hạt lên mười hai, gồm có bốn loại, mỗi loại xuất hiện trong ba màu. Để
phân biệt các loại quark với các màu khác nhau, nhà vật lý đưa từ vị và
ngày nay người ta nói về những quark có màu và vị khác nhau.
Các qui luật nói
trên được mô tả bằng mười hai quark này một cách hùng hồn. Không còn nghi
ngờ nữa, hadron cho thấy một sự đối xứng quark. Mặc dù hiểu biết đến nay
của chúng ta về hạt và sự tương tác của chúng loại bỏ sự hiện diện một hạt
quark vật chất, hadron vẫn thường có tính chất hầu như nó gồm có những
phần tử điểm tạo thành. Tính chất nghịch lý này của mô hình quark làm ta
nhớ đến những ngày đầu tiên của vật lý nguyên tử khi những mâu thuẫn kỳ lạ
đã dẫn nhà vật lý đến sự bừng tỉnh lớn lao để hiểu được nguyên tử. Những
hạt quark có tất cả tính chất của một công án mới, mà ngày nay đến phiên
nó, có thể dẫn đến một sự bừng tỉnh để hiểu hạt hạ nguyên tử. Thực tế là
sự bừng tỉnh này đã trên đường đi đến, và chúng ta sẽ thấy chúng trong
những chương sau. Một số ít nhà vật lý đang tìm cách đưa lời giải cho công
án quark, mà họ được cảm hứng, gợi mở ra những tư tưởng mới về tự tính của
thực tại vật lý.
Sự khám phá ra
cấu trúc đối xứng trong thế giới hạt đã làm cho nhiều nhà vật lý nghĩ
rằng, những cấu trúc đó phản ánh qui luật cơ bản của thiên nhiên. Trong
năm mươi năm qua, con người đã nỗ lực để đi tìm mộ cái đối xứng uyên
nguyên nhằm kết hợp mọi hạt đã biết và nhờ đó mà lý giải cơ cấu của vật
chất. Mục đích này phản ánh một thái độ triết học đã được đề ra bởi các
nhà Hy Lạp cổ đại và đã được quan tâm suốt nhiều thế kỷ. Tính đối xứng,
cùng với hình học, đã đóng mội vai trò quan trọng trong khoa học, triết
học và nghệ thuật Hy Lạp, nó đồng nghĩa với thiện mỹ, tương hòa và hoàn
hảo. Cho nên những người theo phái Phythagoras xem những cơ cấu đối xứng
là then chốt của mọi sự vật. Platon tin rằng nguyên tử của bốn yếu tố tạo
nên dạng của mọi vật thể rắn và phần lớn các nhà thiên văn Hy Lạp nghĩ
rằng các thiên thể vận động trong hình tròn vì vòng tròn là hình ảnh hình
học có mức đối xứng cao nhất.
Thái độ của
triết lý phương Đông về tính đối xứng là hoàn toàn ngược lại với thái độ
triết lý Hy Lạp cổ đại. Các truyền thống đạo học Viễn Đông hay dùng cấu
trúc đối xứng như một biểu tượng hay phương tiện thiền định. Ngoài ra,
phép đối xứng xem ra không đóng một vai trò quan trọng gì trong triết lý
của họ. Cũng như hình học,nó được cho rằng cũng chỉ do đầu óc tạo ra hơn
là một tính chất của tự nhiên, vì thế không có tầm quan trọng cơ bản. Theo
đó, nhiều nghệ thuật phương Đông thường chuộng tính bất đối xứng và hay
tránh mọi qui định về hình thể. Các bức họa mang nặng tính thiền của Trung
quốc hay tranh của Nhật thường được diễn tả bằng hướng một góc hay cách
xếp đặt không theo qui luật của kiến trúc vườn Nhật Bản, minh họa rõ khía
cạnh này của nghệ thuật Viễn Đông.
Hình như việc đi
tìm kiếm một phép đối xứng cơ bản trong thế giới hạt là một phần của gia
tài để lại của người Hy Lạp, điều này khong thể tương thích được với thế
giới quan đang hình thành từ khoa học hiện đại. Sự nhấn mạnh về tính đối
xứng, tuy thế không phải là khía cạnh duy nhất của vật lý hạt. Ngược lại
với quan điểm đối xứng, luôn luôn có một trường phái tư tưởng động, họ
không xem cấu trúc hạt là tính chất then chốt của tự nhiên, mà hiểu chúng
chỉ là mặt xuất hiện của một thế giới tự nhiên năng động và của những
tương tác trong thế giới đó. Hai chương còn lại sau đây sẽ trình bày những
trường phái tư tưởng đó, trong những thập niên qua, đã hình thành những
quan điểm khác hẳn về đối xứng và qui luật của tự nhiên, chúng hòa hợp với
thế giới quan của nền vật lý hiện đại tới nay được biết và chúng cũng phù
hợp một cách hoàn hảo với triết lý phương Đông.
Chương 17: CÁC MẪU HÌNH BIẾN
DỊCH
Cuối cùng thì
vấn đề đặt ra là làm sao cùng một lúc mà nối kết cả thuyết lượng tử lẫn
thuyết tương đối. Những cấu trúc hạt dường như phản ánh tính lượng tử của
hạt, vì mẫu hình tương tự như thế đã xảy ra trong thế giới nguyên tử rồi.
Thế nhưng trong vật lý hạt, chúng không thể được lý giải bằng mô hình sóng
trong khuôn khổ thuyết lượng tử, vì năng lượng tham gia vào đây quá cao
nên thuyết tương đối phải được áp dụng đến. Vì thế chỉ có một lý thuyết
lượng tử - tương đối cho hạt là có hy vọng chuyên chở được tính đối xứng
đã được quan sát.
Thuyết trường
lượng tử là mô hình đầu tiên của loại này. Nó cho ta một sự mô tả xuất sắc
về sự tương tác điện từ giữa electron và photon, nhưng nó không phù hợp
lắm để mô tả loại tương tác mạnh. Khi các hạt của loại này ngày
càng được phát hiện, nhà vật lý sớm nhận ra rằng thật khó lòng liên hệ mỗi
một hạt đó với một truờng cơ bản, và khi thế giới hạt cho thấy rằng nó là
hiện thân của tấm lưới dệt ngày càng phức tạp gồm toàn sự tương tác, thì
nhà vật lý thấy phải tìm những mô hình khác để biểu diễn cho được thực tại
động và luôn thay đổi này. Cái cần thiết là một mô hình toán học đủ sức mô
tả ở dạng động một số lớn hình thái của cấu trúc hadron, đó là sự chuyển
hóa lẫn nhau liên tục của chúng từ hạt này qua hạt khác, sự tương tác giữa
chúng bằng cách hoán chuyển hạt, sự hình thành các trạng thái liên kết
của hai hay nhiều hadron, và sự tự phân hủy để thành những liên hợp khác
của hạt. Tất cả những tiến trình này, có lúc được gọi chung là phản ứng
hạt, là tính chất chủ yếu của tương tác mạnh và phải được lưu ý trong
một mô hình lượng tử tương đối của Hadron.
Khuôn khổ xem ra
phù hợp nhất để mô tả hadron và tương tác của chúng được gọi là thuyết
ma trận S. Cơ sở then chốt của nó, ma trận S, nguyên được Heisenberg
đề xuất năm 1943 và được phát triển trong suốt hai thập kỷ qua, thành một
cơ cấu toán học phức tạp, có thể xem là thích hợp nhất để mô tả tương tác
mạnh. Ma trận S là tập hợp các xác suất của tất cả phản ứng có thể có với
hadron. Tên của nó xuất phát từ điều mà toàn bộ phản ứng khả dĩ của hadron
được xếp trong trận đồ vô tận mà nhà toán học gọi là ma trận. Chữ S
đại diện cho tên nguyên là scattering matrix (ma trận phân tán), nó
nói lên các tiến trình va chạm - hay phân tán, đó là phần đa số của phản
ứng các hạt.
Tất nhiên, trong
thực tế không ai quan tâm đến toàn bộ tập hợp của các tiến trình hadron,
mà chỉ một ít phản ứng đặc biệt. Thành thử, không bao giờ ta xem xét toàn
bộ ma trận S, mà chỉ một phần của nó, hay các yếu tố liên quan đến tiến
trình đang xét. Những yếu tố này được biểu diễn tượng trưng bằng biểu đồ
như hình sau đây, nói lên phản ứng đơn giản nhất và cũng chung nhất của
hạt.
Hai hạt A và B
chịu một lực va chạm để sinh ra hai hạt khác C, D. Tiến trình phức tạp hơn
có thể chứa nhiều hạt hơn và được đại diện bởi các hình sau đây.
Cần nhấn mạnh
rằng biểu đồ ma trận S rất khác với biểu đồ Feyman của lý thuyết trường.
Nó không minh họa cơ chế cơ lý chi tiết của phản ứng mà chỉ định những hạt
đầu tiên và cuối cùng. Thí dụ tiến trình cơ bản A+B = C+D có thể diễn tả
trong lý thyết trường như một sự hoán chuyển của một hạt giả V (xem hình
dưới), trong lúc trong thuyết ma trận S, tiến trình đó chỉ được vẽ bằng
một vòng tròn mà không ghi rõ trong đó xảy ra những gì.
Hơn nữa biểu đồ
ma trận S không hề là biểu đồ về không gian - thời gian, nó chỉ là sự biểu
diễn tiêu biểu chung của phản ứng hạt. Những phản ứng này cũng không được
giả định là xảy ra tại một điểm nhất định nào trong không gian - thời
gian, mà chỉ được mô tả với trị số vận tốc (hay chính xác hơn, với trị số
xung lượng) của các hạt đến và các hạt đi.
Tất nhiên ,điều
đó có nghĩa là biểu đồ ma trận S không mang nhiều lượng thông tin như biểu
đồ của Feyman. Mặt khác, thuyết ma trận S lại tránh được khó khăn xảy ra
trong lý thuyết trường. Các hiệu ứng liên hợp của thuyết lượng tử và tương
đối không cho phép ta xác định một cách chính xác sự tương tác giữa các
hạt cho sẵn. Vì nguyên lý bất định, trạng thái bất định của vận tốc hạt sẽ
tăng trong khu vực tương tác được qui định rõ ràng hơn, và vì thế trị số
của động năng của nó cũng bất định hơn. Tới lúc nào đó thì năng lượng này
đủ lớn để sinh ra hạt mới, theo thuyết tương đối, lúc đó người ta không
còn chắc chắn liệu mình đang xét hạt nguyên tử nữa hay không. Vì thế,
trong một thuyết bao gồm cả thuyết lượng tử và thuyết tương đối, người ta
không thể chỉ định được vị trí của các hạt một cách rõ ràng. Nếu điều này
vẫn cứ xảy ra như trong lý thuyết trường, thì người ta phải đối phó với
những mâu thuẫn toán học, mà đó chính là khó khăn then chốt của mọi lý
thuyết trường lượng tử. Thuyết ma trận S tránh khỏi khó khăn này bằng cách
chỉ định xung lượng của hạt và chấp nhận sự nhất định về vị trí nơi đó
phản ứng xảy ra.
Điều quan trọng
của thuyết ma trận S là nhấn mạnh đến biến cố, chứ không quan tâm
đến vật thể, không quan tâm chủ yếu về hạt mà về phản
ứng của chúng. Sự dời chuyển đó từ hạt lên biến cố đều được cả hai
thuyết lượng tử và tương đối đòi hỏi. Một mặt, thuyết lượng tử đã nói rõ
một hạt cơ bản chỉ có thể được hiểu như là dạng xuất hiện của sự tương tác
giữa các tiến trình đo lường khác nhau. Nó không phải là một vật thể độc
lập mà là một sự xảy ra, một biến cố, nó nối những biến cố khác với nhau
trong một cách thế đặc biệt. Hãy nghe Heisenberg nói:
Trong vật lý
hiện đại, người ta không thể chia thế giới thành những nhóm vật thể mà
thành những nhóm của sự liên hệ…Điều cần phân biệt là cách liên hệ, đây là
yếu tố quan trọng nhất trong một số hiện tượng…Thế nên thế giới hiện ra
như một tấm lưới dệt toàn những biến cố, trong đó có những mối liên hệ của
nhiều cách thế khác nhau, xúc tác hay đan lẫn hay nối kết lẫn nhau và qua
đó mà xác định toàn bộ tấm lưới.
Mặt khác, thuyết
tương đối cũng buộc ta phải xem hạt trong tiến trình của không gian -
thời gian : là một cấu trúc bốn chiều, phải xem là tiến trình hơn là
vật thể. Giả thuyết ma trận S vì thế nối kết cả hai quan điểm này. Dùng
phép toán học bốn chiều của thuyết tương đối, nó mô tả được tất cả tính
chất của hadron theo nghĩa phản ứng (hay nói chính xác hơn theo nghĩa
khả năng phản ứng) và nhờ thế mà tạo dựng một gạch nối chặt chẽ giữa
hạt và tiến trình. Mỗi phản ứng của hạt đều nối hạt đó với những phản ứng
khác và như thế mà xây dựng một mạng lưới của những quá trình.
Thí dụ, một
neutron n có thể tham gia vào hai phản ứng theo sau nhau, bao gồm hai hạt
khác nhau; phản ứng đầu tiên là một proton và một p -, và phản
ứng thứ hai là một S - và một K +. Thế nên neutron
đã nối kết hai phản ứng đó và hòa nhập chúng trong một tiến trình lớn hơn.
Mỗi một hạt đầu
tiên hay cuối cùng của tiến trình vừa kể lại có thể tham gia trong những
phản ứng khác; thí dụ proton có thể sinh ra từ một tương tác của một K+
và một l (xem b). Sau đó K+ của hình a lại có thể xem là nối
với một K- và một po; p- với ba pionkhác
nữa (xem hình trang 313).
Thế là neutron
nguyên thủy có thể được xem là một phần tử của một mạng lưới biến cố, tất
cả được mô tả trong ma trận S. Mối tương quan trong mạng lưới đó không thể
xác được định một cách chắc chắn, chúng chỉ liên hệ với xác suất. Mỗi phản
ứng có thể xảy ra với một xác suất nào đó, nó tùy thuộc vào năng lượng
hiện diện và vào những đặc trưng của phản ứng và những xác suất này được
nhiều yếu tố của ma trận S chỉ rõ.
Phép tính này
cho phép ta xác định cấu trúc của một hadron trong một cách thế trước sau
đều động. Thí dụ hạt neutron trong một mạng lưới này có thể xem là trạng
thái liên kết của một proton và p, từ đó sinh ra; cũng là trạng thái liên
kết của p- và một K+, trong đó nó tự hủy. Cả hai
trạng thái liên kết này cũng như các cách khác đều có thể hình thành một
neutron và vì thế mà ta có thể nói chúng là phần tử của một “cơ cấu”
neutron. Cấu trúc của hadron vì thế không nên hiểu là một sự xếp đặt rõ
rệt của những thành phần mà là được sinh ra bởi mọi hạt mà chúng có thể
tương tác với nhau để tạo thành hadron đó. Thế nên proton có thể hiện hữu
như là một cặp neutron - pion, cặp kaon - lambda, vân vân. Proton lại có
thể tự hủy để chuyển thành những hạt khác khi có đầy đủ năng lượng. Những
khuynh hướng của một hadron có thể hiện hữu trong những trạng thái khác
nhau được biểu thị bằng xác suất xảy ra của những phản ứng liên hệ, tất cả
những thứ đó có thể xem là các khía cạnh của cơ cấu nội tại của hadron.
Khi xác định cấu
trúc của một hadron bằng khuynh hướng của nó đối với các phản ứng, lý
thuyết ma trận S đã cho khái niệm cơ cấu một nôi dung động chủ yếu. Đồng
thời, nội dung này của cấu trúc cũng phù hợp một cách toàn hảo với các yếu
tố thực nghiệm. Cứ mỗi khi hadron bị vỡ ra trong các quá trình va chạm cao
năng lượng, thì chúng tự phân hủy thành những liên kết của hadron khác;
thế nên có thể nói là chúng có khả năng chứa những mối liên kết đó.
Một trong những hạt sinh ra từ va chạm đó, đến phiên mình lại chịu nhiều
phản ứng, xây dựng nên cả một mạng lưới biến cố có thể chụp lại trong
buồng đo. Hình bên dưới và các hình trong chương 15 là những thí dụ của
một loạt những phản ứng đó:
Trong một thí
nghiệm, mặc dù một mạng lưới sinh ra do sự ngẫu nhiên, thế nhưng nó cũng
có cấu trúc theo qui luật nhất định. Qui luật này chính là luật bảo toàn
đã được nói tới; các phản ứng chỉ có thể khả dĩ khi các trị số lượng tử đã
định được bảo toàn. Trước hết, tổng số năng lượng phải được bảo toàn trong
mỗi phản ứng. Điều này có nghĩa là mỗi nhóm hạt nhất định chỉ có thể sinh
ra từ một phản ứng nếu năng lượng tác động vào đủ cao để tạo ra khối lượng
đòi hỏi. Hơn thế nữa, nhóm hạt sinh ra phải mang đúng tổng trị số lượng tử
đã được mang lại trong phản ứng với các hạt ban đầu. Thí dụ, một proton và
một p- mang một điện tích tổng thể bằng không, có thể vỡ ra
trong va chạm và sinh ra một neutron và một po ,
chúng không thể sinh ra neutron và một p+ vì cặp sau này sẽ có
điện tích là +1.
Thế nên, phản
ứng hadron đại diện một dòng chảy năng lượng, trong đó hạt được hình thành
và phân hủy, nhưng năng lượng hầu như được chảy trong một kênh có
đặc trưng là những trị số lượng tử được bảo toàn trong tương tác mạnh.
Trong thuyết ma trận S, khái niệm kênh phản ứng là cơ bản hơn khái
niệm hạt. Khái niệm đó được định nghĩa là một nhóm trị số lượng tử, nó có
thể phù hợp với một số khác nhau hadron va có khi chỉ cho một hadron duy
nhất. Nhóm hadron nào sẽ chảy xuyên qua kênh đó, đó là vấn đề của xác
suất, nhưng chủ yếu nó tùy thuộc vào năng lượng dành cho tiến trình. Thí
dụ hình trang sau chỉ sự tương tác giữa một proton và một p-
trong đó một neutron được sinh ra ở đoạn giữa. Thế là kênh phản ứng được
xây dựng nên trước hết bằng hai hadron, sau bằng một hadron duy nhất và
cuối cùng một cặp hadron.
Nếu có nhiều
năng lượng hơn thì kênh đó có thể được làm thành từ một cặp l - K0,
một cặp S- - K+ và từ những liên hợp khác.
Khái niệm về những
kênh phản ứng lại càng phù hợp hơn để làm việc với những quá trình cộng
hưởng, đó là những hạt hadron sống cực ngắn, chúng là đặc trưng của tất cả
mọi tương tác mạnh.
Chúng sống ngắn
đến mức các nhà vật lý mới đầu ngại xem chúng là những hạt và ngày nay
việc lý giải tính chất của chúng vẫn là một trong những trách nhiệm chính
của ngành vật lý thực nghiệm cao năng lượng. Cộng hưởng xảy ra trong các
cuộc va chạm hadron và tự phân hủy hầu như ngay sau khi chúng sinh ra.
Chúng không thể được thấy trong buồng đo, nhưng chúng có thể được phát
hiện vì một tính chất rất đặc biệt xác suất phản ứng. Xác suất để cho hai
hadron đang di động phản ứng được với nhau - tức là tương tác lên nhau -
tuỳ thuộc vào năng lượng chứa sẵn trong sự va chạm. nếu trị số năng lượng
này biến đổi thì xác suất cũng thay đổi theo; năng lượng tăng thì xác suất
có thể tăng hay giảm, tùy theo chi tiết của phản ứng. Tuy thế, người ta
quan sát rằng tại một trị số nhất định của năng lượng thì xác suất phản
ứng gia tăng rõ rệt, một phản ứng dễ xảy ra tại trị số này hơn bất kỳ tại
trị số năng lượng khác. Sự tăng vọt này của xác suất liên hệ với sự hình
thành của một đời sống ngắn tạm bợ của hadron với một khối lượng tương tự
cuả năng lượng tại nơi tăng vọt xác suất.
Lý do mà những
giai đoạn ngắn ngủi này của hadron được gọi tên là resonance (cộng hưởng)
xuất phát từ sự tương đồng với hiện tượng cộng hưởng trong sự dao động.
Thí dụ trong âm thanh, không khí trong một lỗ trống thường dội lại một
cách yếu ớt với âm thanh đến từ bên ngoài, nhưng nó sẽ bắt đầu cộng hưởng
hay doa động mạnh mẽ khi sóng âm thanh đạt đến một tần số nhất định được
gọi là tần số cộng hưởng. Kênh của phản ứng hadron cũng có thể so sánh như
một lỗ trống cộng hưởng, vì năng lượng của hạt hadron đang di động liên
quan đến tần số của sóng xác suất liên hệ. Khi năng lượng này, hay tần số,
đạt tới một trị số nhất định thì kênh này bắt đầu cộng hưởng; sự dao động
của sóng xác suất bỗng nhiên trở nên mãnh liệt và sinh ra sự tăng vọt
trong xác suất phản ứng. Phần lớn kênh phản ứng đều có vài năng lượng cộng
hưởng, mỗi trị số của chúng liên hệ với khối lượng của một hadron tạm bợ
sống ngắn ngủi, chúng sẽ hình thành khi năng lượng của những hạt đang va
chạm đó đạt tới trị số cộng hưởng.
Trong khuôn khổ
của thuyết ma trận S, vấn đề liệu ta có thể gọi những cộng hưởng là hạt
hay không, không được đặt ra. Tất cả mọi hạt đều được xem là giai đoạn
chuyển tiếp cả trong một tấm lưới của phản ứng, và việc các resonance tồn
tại rất ngắn so với các hadron khác không hề làm cho chúng có sự khác biệt
căn bản với các hạt khác. Thực tế là từ resonance (cộng hưởng) là một từ
rất thích hợp. Nó được áp dụng cho cả hai trường hợp, cho kênh phản ứng và
cho hadron được sinh ra trong hiện tượng này, nên nó chỉ rõ mối liên hệ
chặt chẽ giữa hạt và phản ứng. Một resonance là một hạt, không phải là một
vật thể. Tốt hơn ta gọi nó là một biến cố, một sự việc xảy ra.
Sự mô tả này của
hadron trong nền vật lý hạt nhắc ta lại những lời của D.T.Suzuki nói cuối
chương 13: “ Phật tử xem vật thể là một tiến trình chứ không phải là một
vật hay một chất”. Điều mà Phật tử đã nhận ra bằng kinh nghiệm đạo học của
họ về thế giới tự nhiên nay đã được phát hiện lại bằng thực nghiệm và bằng
lý thuyết toán học của khoa học hiện đại.
Nhằm mô tả tất
cả hadron trong giai đoạn chuyển tiếp của chúng trong một hệ thống lưới
đầy phản ứng, ta phải quan tâm đúng mức đến các lực mà xuyên qua đó chúng
tương tác với nhau. Đó là những lực của tương tác mạnh, chúng tách - hay
tung ra xa - các hadron đang lao vùn vụt, giải thể chúng rồi lại xếp chúng
theo những khuôn mẫu khác nhau, rồi lại kết chúng lại để đạt tới trạng
thái liên kết chuyển tiếp. Trong thuyết ma trận S cũng như trong lý thuyết
trường, lực tương tác có liên quan tới hạt, thế nhưng khái niệm của hạt
giả không được sử dụng. Thay vào đó mối liên hệ giữa lực và hạt được đặt
trên tính chất đặc biệt của ma trận S, được gọi là “crossing” (tác động
giao nhau). Nhằm minh họa tính chất này, hãy xem hình trang 320 về tương
tác giữa một proton và một p-.
Nếu được quay 90
và ta giữ qui ước như cũ (xem chương 12), nhưng mũi tên hướng xuống
chỉ các đối hạt, thì biểu đồ mới sẽ biểu diễn một phản ứng giữa một đối
hạt antiproton (`p) và một proton (p), t? đ? sinh ra một cặp pion, p+
là đối hạt của p- trong phản ứng nguyên thủy.
Bây giờ, tính
chất chất của ma trận S dựa trên thực tế là hai tiến trình kể trên được mô
tả chỉ bằng một yếu tố của ma trận S. Điều đó có nghĩa là hai biểu đồ trên
chỉ đại diện hai khía cạnh, hay hai kênh của một phản ứng duy nhất.
Nhà vật lý nay đã quen đổi từ kênh này qua kênh kia trong bài toán của
mình, và thay vì quay biểu đồ, họ chỉ việc đọc từ dưới lên trên hay từ
trái qua phải và gọi chúng là kênh trục dọc hay kênh ngang. Thế nên phản
ứng trong thí dụ chúng ta được đọc trong kên dọc là p + p - đ p
+ p+, trong kên ngang là `p + p đ p- + p+
Mối liên hệ giữa
lực và hạt được thiết lập thông qua giai đoạn chuyển tiếp trong hai kênh.
Trong kênh dọc của thí dụ này, proton và p - có thể tạo nên một
neutron chuyển tiếp, trong lúc đó, ở kênh ngang một pion trung gian p
0 có thể xuất hiện.
Pion trung gian
trong giai đoạn chuyển tiếp của kênh ngang này có thể được xem là biểu
trưng của lực, lực đó tác động trong kênh dọc, nối proton và p -
với nhau để tạo thành neutron. Thế nên hai kênh này đều được cần đến để
liên kết lực và hạt với nhau, cái xuất hiện dưới dạng lực ở một kênh này
lại là biểu trưng cho hạt chuyển tiếp ở một kênh kia.
Mặc dù tương đối
dễ dàng khi đổi từ kênh này qua kênh kia về mặt toán học, nhưng lại hơi
khó - nếu không muốn nói là không thể - có một hình ảnh trực tiếp về tình
trạng này. Điều đó là vì crossing (tác động giao nhau) chủ yếu là
một phương thức xuất phát từ hệ bốn chiều của thuyết tương đối và vì thế
mà rất khó có hình ảnh về nó. Một tình trạng tương tự xảy ra trong lý
thuyết trường là nơi mà lực tương tác được xem là sự hoán chuyển các hạt
giả. Thực tế là, biểu đồ trình bày các pion chuyển tiếp trong kênh ngang
nhắc ta rất nhiều đến các biểu đồ Feyman cũng vẽ nên sự hoán chuyển hạt và
ta có thể nói đơn giản, rằng proton và p - đã tương tác “thông
qua một hoán chuyển một p 0”. Những chữ này được nhà vật lý sử
dụng, nhưng họ không mô tả hết tình trạng này. Một sự mô tả hợp lý chỉ có
thể có được bằng cách trình bày kênh dọc và kênh ngang, tức là phải chịu
một khái niệm trừu tượng mà phần lớn chúng ta không tưởng tượng ra được.
Mặc dù có hình
thái khác nhau, nội dung chung của một lực tương tác trong thuyết ma trận
S rất giống với lực trong lý thuyết trường. Trong cả hai lý thuyết thì lực
biểu trưng cho hạt mà khối lượng của hạt nói lên sức mạnh của lực (xem
chương 15) và trong cả hai thuyết chúng được nhận ra là tính chất nội tại
của hạt đang tương tác; chúng phản ánh cấu trúc của đám mây hạt giả trong
lý thuyết trường và trong thuyết ma trận S thì chúng được sinh ra ở trạng
thái liên kết của hạt tương tác. Sự song hành với quan điểm phương Đông về
lực đã được bàn đến, sự song hành này được áp dụng cho cả hai thuyết. Hơn
thế nữa, quan điểm về lực tương tác đưa đến một kết luận quan trọng rằng
tất cả các hạt được biết phải có một cấu trúc nội tại nào đó, vì chỉ như
thế mà bị phát hiện. Hãy nghe những lời của Geoffrey Chew, một trong những
kiến trúc sư chính của thuyết ma trận S:
Một hạt cơ bản
đích thực - tức là không hề còn có một cơ cấu nội tại nào cả - thì không
thể là đối tượng của một lực nào, lực đó cho phép chúng ta phát hiện sự
hiện hữu của nó. Chỉ duy việc biết đến sự hiện hữu của một hạt là đã nói
được rằng hạt đó phải có một cơ cấu nội tại!.
Một ưu điểm đặc
biệt của dạng ma trận S là nó có khả năng mô tả sự hoán chuyển của toàn bộ
cả họ hadron. Như đã nói trong chương trước, hầu như tất cả hadron đều nằm
trong những chuỗi mà các phần tử của chúng có những tính chất đồng nhất
với nhau, chỉ trừ khối lượng và spin của chúng. Có một mô hình được
Tullion Reege đề xuất đầu tiên, nó giúp ta xem chuỗi này chỉ là một hạt
hadron đơn nhưng lại hiện hữu ở những trạng thái kích thích khác nhau.
Trong những năm gần đây, người ta đã đưa mô hình Reege vào trong khuôn khổ
ma trận S và được xem là bước đầu tiến tới một lý giải động cho cấu trúc
hạt.
Khuôn khổ của ma
trận S giờ đây đã đủ khả năng mô tả cấu trúc của hadron, các lực tương tác
giữa chúng, và một số cấu trúc của chúng được xem là một phần không thể
tách rời của một mạng lưới đầy những phản ứng, trong một cách nhìn động.
Thách thức chính yếu đặt ra cho thuyết ma trận S là sử dụng cách mô tả
động này mà lý giải được tính đối xứng, là tính chất đã dẫn đến các cấu
trúc hadron và luật bảo toàn đã nói trong chương trước. Trong thuyết như
thế, tính chất đối xứng của hadron sẽ phản ánh lại trong cơ cấu toán học
của ma trận S dưới dạng là ma trận đó chỉ chứa những yếu tố liên quan đến
những phản ứng mà luật bảo toàn cho phép. Các luật bảo toàn này sẽ không
còn có tính chất thực nghiệm nữa mà là hệ quả của cơ cấu ma trận S và đó
là một hệ quả của tính chất động của hadron.
Để đạt được mục
đích đầy tham vọng này, nhà vật lý phải giả định nhiều nguyên lý chung,
nhằm hạn chế bớt các khả năng xây dựng yếu tố của ma trận S và nhờ đó mà
cho ma trận S một cấu trúc xác định. Tới nay thì có ba nguyên lý chung đã
được hình thành.
Nguyên lý chung
thứ nhất bắt nguồn từ thuyết tương đối và với kinh nghiệm thuộc về thế
giới vĩ mô không gian - thời gian. Nguyên lý đó nói rằng xác suất phản ứng
(tức là các yếu tố của ma trận S) phải độc lập với sự xếp đặt thiết bị thí
nghiệm trong không gian - thời gian, độc lập với hướng của chúng trong
không gian, và độc lập với trạng thái di chuyển của người quan sát. Như đã
nói trong chương trước, sự độc lập của phản ứng hạt đối với chiều hướng
cũng như đối với sự xếp đặt trong không gian - thời gian đã sinh ra luật
bảo toàn về độ quay, xung lượng và năng lượng chứa trong phản ứng. Những
đối xứng này là then chốt trong công trình khoa học của chúng ta. Nếu kết
quả các thí nghiệm mà thay đổi tùy theo không gian và thời gian thực hiện
thì không thể có khoa học dưới hình thức như hiện nay. Sau hết, đòi hỏi
cuối là kết quả thí nghiệm không được tùy thuộc nơi trạng thái vận động
của người quan sát, đó là nguyên lý tương đối, là cơ sở của thuyết tương
đối.
Nguyên lý chung
thứ hai được đề xuất từ thuyết lượng tử. Nó cho rằng, kết quả của một phản
ứng hạt chỉ có thể tiên đoán bằng xác suất, và hơn thế nữa, tổng số xác
suất của tất cả mọi khả năng, kể cả khả năng không có sự tương tác nào
giữa các hạt, tổng số đó phải bằng một. Nói cách khác, chúng ta chắc chắn
một điều rằng, các hạt hoặc sẽ phản ứng với nhau, hoặc không phản ứng với
nhau. Câu nói nghe qua tầm thường này thật ra là một nguyên lý đầy uy lực,
mang tên Unitarity (đơn nhất), nó là tác nhân hạn chế một cách
nghiêm khắc những khả năng hình thành các yếu tố của ma trận S.
Nguyên lý chung
thứ ba và cuối cùng là liên hệ đến khái niệm nguyên nhân kết quả và được
gọi là nguyên lý nhân quả. Nó chỉ định rằng, năng lượng và xung
lượng chỉ được chuyển hóa trong không gian thông qua hạt, rằng sự chuyển
dịch này xảy ra trong cách mà một hạt có thể được hình thành trong một
phản ứng và phân hủy trong một phản ứng khác, nếu phản ứng sau xảy ra sau
phản ứng đầu. Biểu thức toán học của nguyên lý nhân quả làm cho ma trận S
phụ thuộc một cách liên tục vào năng lượng và xung lượng của hạt tham gia
trong phản ứng, chỉ trừ khi các trị số đó (của năng lượng và xung lượng)
đạt đến khả năng hình thành hạt mới. Tại những trị số này thì cấu trúc
toán học của S thay đổi thình lình; nó tạo nên những điểm mà nhà toán học
gọi là Singularity (điểm kỳ dị). Mỗi kênh phản ứng đều chứa nhiều
điểm kỳ dị, đó chính là nơi có nhiều trị số của năng lượng và xung lượng
trong kênh, nơi đó hạt mới có thể hình thành. Những năng lượng cộng
hưởng đã nói trên là thí dụ cho những trị số này.
Việc ma trận S
có những điểm kỳ dị là một hệ quả của nguyên lý nhân quả, nhưng nó không
xác định được vị trí của các điểm kỳ dị. Trị số của năng lượng xung lượng,
nơi đó hạt được hình thành, là khác nhau trong các kênh khác nhau và phụ
thuộc nơi khối lượng và các tính chất khác của hạt được hình thành. Thế
nên vị trí các điểm kỳ dị phản ánh tính chất của những hạt đó và vì tất cả
hadron đều có thể sinh ra trong các phản ứng hạt, các điểm kỳ dị trong ma
trận S phản ánh lại tất cả cấu trúc và tính đối xứng của hadron.
Thành thử, mục
đích trung tâm của thuyết ma trận S là suy ra một cơ cấu kỳ dị của
ma trận S từ những nguyên lý chung. Tới nay người ta chưa thiết lập được
mô hình toán học thỏa ứng được tất cả ba nguyên lý đó, và rất có thể là ba
nguyên lý đó đủ để xác định một cách rõ rệt tất cả tính chất của ma trận S
- tức là tất cả tính chất của hadron (giả định này được gọi là giả thiết
Boostrap sẽ được bàn tới trong chương 18). Nếu đúng như vậy thì hệ quả
triết học của một lý thuyết như thế sẽ rất sâu sắc. Tất cả ba nguyên lý
chung nói trên đều liên hệ với phương pháp của ta về việc quan sát và đo
lường, tức là liên hệ với khuôn khổ của khoa học. Nếu chúng đầy đủ để xác
định cơ cấu của hadron thì có nghĩa là cơ cấu cơ bản của thế giới vật lý
cuối cùng đã được xác định bằng cách chúng ta nhìn thế giới đó như thế
nào. Mỗi một sự thay đổi cơ bản của ta trong cách quan sát sẽ dẫn đến sự
thay đổi trong các nguyên lý chung đó và nó lại đưa đến sự thay đổi trong
cơ cấu ma trận S và như thế sẽ dẫn đến một cơ cấu khác của hadron.
Một lý thuyết
như thế về các hạt hạ nguyên tử phản ánh việc không thể tách rời nhà quan
sát khoa học với hiện tượng bị quan sát, điều này đã được bàn tới trong
thuyết lượng tử, nhưng ở đây nói một cách khẳng định nhất. Cuối cùng, nó
dẫn đến điều là, cơ cấu và hiện tượng mà ta quan sát trong thiên nhiên
không gì khác hơn chính là biểu hiện của tư duy đo lường và phân loại của
chúng ta.
Đây chính là một
trong những pháp môn cơ bản nhất của triết học phương Đông. Nền đạo học
phương Đông luôn luôn chỉ cho ta thấy rằng, sự vật và biến cố mà ta cảm
nhận chính là sự sáng tạo của tâm, chúng xuất phát từ một dạng ý thức đặc
biệt rồi lại tan đi một khi tâm đó biến đổi. Ấn Độ giáo quả quyết rằng tất
cả sắc thể và cấu trúc quanh ta đều được hình thành bởi một tâm thức đang
chịu sự tác động của ảo giác và khuynh hướng cho chúng một tầm quan trọng
sâu xa chính là ảo giác căn bản của con người. Phật giáo gọi sự ảo giác
này là vô minh và xem đó là một dạng của tâm ô nhiễm. Hãy
nghe lời của Mã Minh:
Khi không nhận
rõ sự nhất thể (Chân Như) thì vô minh và phân biệt liền hiện, và tất cả
mọi dạng của tâm ô nhiễm liền phát…Tất cả mọi hiện tượng trong thế gian
đều do vô minh vọng tâm của chúng sinh mà tồn tại, nên tất cả các pháp đều
không có thật thể.
Đó cũng là quan
niệm luôn luôn được nêu lên của Duy Thức tông Phật giáo, trong đó mọi sắc
thể mà ta cảm nhận chỉ là thức; là phản chiếu, hay bóng dáng
của tâm:
Vô số sự vật
xuất phát từ tâm, do trí phân biệt qui định…Người ta xem sự vật này là thế
gian bên ngoài… Mọi điều xuất hiện bên ngoài không hề hiện hữu thật có, đó
chỉ là tâm hiện ra muôn ngàn sai khác; thành thân thành vật sở hữu và mọi
thứ - tất cả những thứ đó, ta nói, không gì khác hơn là thức.
Trong vật lý hạt,
việc suy ra được một cấu trúc hadron từ những nguyên lý chung của thuyết
ma trận S là một bài toán lâu dài và khó khăn và đến nay cũng mới chỉ đi
được từng bước nhỏ cho thành tựu đó.
Cũng không phải
vì thế mà ta coi nhẹ khả năng một ngày kia, tính chất của các hạt hạ
nguyên tử sẽ được suy ra từ những nguyên lý chung, tức là chúng sẽ được
xem là phụ thuộc vào khuôn khổ khoa học của chúng ta. Thật là thú vị khi
cho rằng nó có thể trở thành tính chất chung của nền vật lý hạt, nó sẽ
xuất hiện trong các lý thuyết tương lai nói về tương tác điện từ, tương
tác yếu và tương tác trọng trường. Nếu điều này được xác định là đúng thì
vật lý hiện đại phải đi con đường hướng tới sự nhất trí với minh triết
phương Đông cho rằng, thế giới lý tính chẳng qua là ảo giác, chỉ là
thức.
Thuyết ma trận S
đến rất gần với tư tưởng phương Đông không phải chỉ trong kết luận cuối
cùng của nó, mà cũng trong quan điểm chung về sự vật. Nó mô tả thế giới
của những hạt hạ nguyên tử như một mạng lưới động gồm toàn biến cố và nhấn
mạnh đến sự thay đổi và chuyển hóa hơn là đến cấu trúc cơ bản hay những
đơn vị nào đó. Tại phương Đông, sự nhấn mạnh này đặc biệt rõ nét trong tư
tưởng Phật giáo, trong đó mọi vật được đều xem là động, vô thường và chỉ
là ảo giác. Thế nên S.Radhakrishnan viết :
Sao ta lại
nghĩ về sự vật, thay vì nghĩ về tiến trình trong dòng chảy tuyệt đối này
được? Bằng cách nhắm mắt lại trước những biến cố nối tiếp lẫn nhau. Đó là
một thái độ giả tạo nhằm cắt dòng chảy của sự biến đổi ra từng miếng và
gọi chúng là sự vật… Khi đã biết sự thật của vật thể, ta sẽ thấy rằng thật
vô lý khi tôn thờ các sản phẩm cô lập của dòng chảy không ngừng nghỉ của
sự biến hóa, làm như chúng là vĩnh cửu và đích thực. Đời sống không phải
là vật thể hay là dạng của vật thể mà là một sự vận động liên tục hay
chuyển hóa.
Cả hai, nền vật
lý hiện đại và đạo học phương Đông đều nhìn nhận tất cả mọi hiện tượng của
thế giới đầy đổi thay và biến hóa này đều tương quan lẫn nhau trong nguyên
lý động. Ấn Độ giáo và Phật giáo xem sự tương quan này là qui luật vũ trụ,
luật của Nghiệp, nhìn chung họ không mấy quan tâm đến cấu trúc đặc
trưng nào của mạng lưới hiện tượng vĩ mô. Mặt khác, triết lý Trung Quốc
cũng nhấn mạnh đến tính vận động và thay đổi, đã đề ra một khái niệm của
cấu trúc vận hành, chúng liên tục sinh thành và lại hoại diệt trong dòng
chảy vũ trụ, của Đạo. Trong Kinh Dịch (xem chương 8), những cấu trúc này
được xếp đặt trong một hệ thống của mẫu hình tượng trưng, được gọi là Bát
quái.
Nguyên lý cơ bản
của cấu trúc trong Kinh Dịch là sự tương tác giữa hai cực Âm Dương. Dương
được biểu thị bằng một vạch liền (-), âm bằng một vạch đứt (- -) và toàn
bộ hệ thống bát quái được xây dựng trên hai vạch này. Khi xếp chúng trong
từng cặp thì ta có bốn loại hình sau đây (ảnh trong sách) và nếu thêm một
vạch thứ ba nữa thì ta có tám “quẻ” như sau: (ảnh minh hoạ trong sách).
Trong thời cổ
đại Trung quốc thì tam quẻ được xem là đại diện cho tất cả mọi tình hình
trong vũ trụ hay nhân sinh. Chúng được mang những tên phản ánh những tính
chất cơ bản đó, như Càn (tính mạnh),, Khôn (tính thuận), Chấn (tính
động)…và chúng cũng được liên hệ với nhiều hình tượng xuất phát từ thiên
nhiên hay từ đời sống xã hội. Thí dụ chúng tượng trưng cho trời (Càn), đất
(Khôn), tiếng sấm (Chấn), nước (Khảm)… cũng như trong gia đình gồm có cha
(Càn), mẹ (Khôn), ba con trai (Cấn, Khảm, Chấn), ba con gái (Đoài, Ly,
Tốn). Hơn thế nữa chúng liên hệ với phương hướng trời đất và bốn mùa trong
năm và được xếp như sau: (hình trong sách).
Trong cách xếp
đặt này, tám quẻ được xếp quanh một vòng trong trong trật tự tự nhiên,
trong đó chúng đã được hình thành, bắt đầu từ đỉnh (là nơi người Trung
Quốc luôn luôn xem là hướng nam) và sau đó đặt bốn quẻ đầu lên phía bên
trái vòng tròn, rồi bốn quẻ sau phía bên phải. Cách xếp đặt này cho thấy
một mức độ đối xứng cao, các quẻ đối diện trên vòng tròn có sự hoán chuyển
của hai vạch âm dương.
Nhằm tăng thêm
số lượng khả năng phối hợp, tám quẻ lại được liên kết với nhau từng cặp
bằng cách chồng lên lẫn nhau. Theo cách này sáu mươi bốn quẻ được sinh ra,
mỗi quẻ gồm sáu vạch liền hay đứt. Những quẻ này cũng được xếp trong những
cấu trúc khác nhau, trong đó thì hai cách xếp đặt dưới đây là phổ biến
nhất; đó là một hình vuông với tám quẻ trong mỗi cạnh, hay một hình tròn
cho thấy tính đối xứng như tám quẻ bát quái nói trên.
Sáu mươi bốn quẻ
là những mẫu hình nguyên thủy vũ trụ, trên đó người ta sử dụng Kinh
Dịch như một cuốn sách bói toán.
Về ý nghĩa của
mỗi quẻ, người ta lấy hai quẻ nhỏ làm cơ sở để tính toán. Thí dụ, khi
quẻ Chấn (vận động) nằm trên quẻ Khôn (tính thuận) thì được hiểu là vận
động gặp sự thuận hòa và sinh ra quẻ Dự, tượng trưng sự hòa vui.
Quẻ Tấn cho ta
một thí dụ khác, gồm có quẻ Ly phía trên, quẻ Khôn phía dưới được diễn tả
là mặt trời mọc ở trên đất, dấu hiệu của Tấn, “sáng tỏ thịnh lớn”.
Trong Kinh Dịch,
các quẻ ba vạch hay sáu vạch đại diện cho cấu trúc của Đạo, chúng được
sinh ra thông qua sự tương tác động của âm - dương, chúng được phản ánh
trong mọi tình huống của vũ trụ và con người. Tuy thế những tình huống này
không được xem là tĩnh, mà là một giai đoạn trong dòng chảy liên tục và
biến động. Đó là tư tưởng cơ bản của Kinh Dịch. Tất cả mọi sự vật và tình
huống trong thế giới đều đang thay đổi biến hóa, các biểu tượng của chúng
là các quẻ cũng thế. Chúng đang vận động liên tục; cái này biến hóa thành
cái kia, vạch liền bị kéo dãn ra và vỡ thành hai vạch đứt, vạch đứt tiến
lại gần nhau và kết dính với nhau.
Vì nội dung của
các cấu trúc động, được hình thành do thay đổi và biến hóa, trong tư tưởng
phương Đông, Kinh Dịch có lẽ là sự tương đồng gần nhất với thuyết ma trận
S. Trong cả hai hệ thống, người ta nhấn mạnh tính chất tiến trình hơn tính
chất vật thể. Trong thuyết ma trận S, tiến trình này là phản ứng hạt lý
giải mọi hiện tượng thế giới hadron. Trong Kinh Dịch, tiến trình cơ bản là
biến dịch và được xem là then chốt để hiểu mọi hiện tượng thiên
nhiên:
Biến dịch là
điều làm thánh nhân đạt tới mọi điều sâu thẳm và nắm được hạt nhân của mọi
sự.
Những biến dịch
này không phải được xem là qui luật cơ bản được áp đặt lên thế giới vật
lý, mà đúng hơn - dùng chữ của Hellmut Wihelm - là “một khuynh hướng nội
tại, dựa trên đó mà sự phát triển xuất hiện một cách tự nhiên và hồn
nhiên”. Điều đó cũng có thể nói cho sự thay đổi trong thế giới hạt.
Cũng thế, chúng phản ánh khuynh hướng nội tại của hạt, chúng được diễn tả
trong thuyết ma trận S bằng những xác suất phản ứng.
Những thay đổi
trong thế giới của hadron cho phép xuất hiện cấu trúc và mẫu hình đối
xứng, chúng được biểu hiện bằng các kênh phản ứng. Cấu trúc cũng như tính
đối xứng không nên được xem là tính chất cơ bản của hadron, mà cần xem
chúng là hệ quả của tính chất động của hạt, đó là hệ quả của khuynh hướng
sẵn sàng thay đổi và biến hóa của chúng.
Trong Kinh Dịch
cũng thế, chính sự biến hóa sinh ra cấu trúc, sinh ra các quẻ. Như những
kênh phản ứng, các hình ảnh tượng trưng này đại diện các cách thế thay
đổi. Cũng như năng lượng chạy xuyên qua kênh phản ứng thì sự biến dịch
chạy xuyên qua các vạch của quẻ:
Dịch là một cuốn sách,
Ta phải biết đến nó
Đạo biến dịch vĩnh viễn
Vận hành không ngừng nghỉ,
Chảy qua sáu khoảng trống;
Xuống lên không nhất định
Mềm cứng chuyển lẫn nhau
Không theo khuôn khổ nào,
Chỉ “Dịch” đang vận hành.
Trong quan điểm
Trung quốc, tất cả mọi sự và hiện tượng quanh ta xuất phát từ những mẫu
hình biến dịch và được đại diện bởi các vạch trong quẻ. Thế nên sự vật
trong thế giới vật lý không được xem là tĩnh tại, độc lập mà chỉ là giai
đoạn chuyển tiếp trong tiến trình của vũ trụ, tiến trình đó chính là Đạo:
Đạo biến dịch
và vận động. Thế nên các vạch được gọi là vạch thay đổi (hào). Hào có từng
bậc, vì thế chúng đại diện cho sự vật.
Nhưng trong thế
giới hạt, các cấu trúc được sinh ra bởi sự biến dịch có thể xếp vào nhiều
mô hình đối xứng khác nhau, như dạng bát quái được tạo bởi tám quẻ, trong
đó các quẻ đối ứng gồm các vạch âm dương hoán chuyển lẫn nhau. Cấu trúc
này thậm chí hơi giống với hình bát giác Menson được thảo luận
trong chương trước, trong đó hạt và đối hạt antiparticle nằm ở vị trí đối
xứng.
Tuy thế, điều
quan trọng không phải là sự giống nhau tình cờ này mà điều thực tế là cả
vật lý hiện đại lẫn tư tưởng cổ đại Trung quốc xem sự thay đổi và biến hóa
là khía cạnh nguyên thủy của thiên nhiên và xem cấu trúc hay sự đối xứng
được sự biến dịch sinh ra chỉ là phụ thuộc. Khi dẫn giải về bản
dịch Kinh Dịch của mình, Richard Wilhelm xem ý niệm này là tư tưởng cơ bản
của Kinh Dịch:
Tám quẻ…đựoc
xem như trong một tình trạng sẵn sàng thay đổi, quẻ này biến hóa thành quẻ
kia, biến từ một hiện tượng này qua một hiện tượng khác, liên tục trong
thế giới lý tính. Nơi đây ta có tư tưởng cơ bản của kinh Dịch. Tám quẻ là
tám hình ảnh tượng trưng, đại diện cho giai đoạn chuyển đổi; đó là những
hình ảnh liên tục chịu sự biến đổi. Đừng chú ý đến sự vật đang ở trong
giai đoạn đó - điều mà tại phương Tây hay xảy ra - mà hãy chú ý sự vận
động của chúngtrong lúc biến dịch. Vì thế mà tám quẻ không đại diện cho sự
vật mà chúng đại diện cho khuynh hướng vận động 10.
Chương
18: SỰ DUNG THÔNG
Đến nay, thế
giới quan được đề xuất bởi vật lý hiện đại luôn luôn chỉ rõ rằng, ý niệm
về hạt cơ bản kiến tạo nên thế giới vật chất không thể đứng vững. Trong
quá khứ, khái niệm này hết sức thành công để lý giải thế giới vật lý bằng
một số nguyên tử; lý giải cấu trúc nguyên tử bằng hạt nhân với các
electron chạy vòng sung quanh; và cuối cùng lý giải cấu trúc hạt nhân bằng
hai hạt kiến tạo là proton và neutron. Do đó, nguyên tử, nhân nguyên tử
rồi hadron lần lượt đã được xem là hạt cơ bản (hạt cuối cùng kiến tạo thế
giới vật chất). Thế nhưng, không có hạt nào trong số đó thỏa ứng sự chờ
đợi. Cứ mỗi lần tới phiên mình, các hạt này lại cho thấy bản thân chúng có
cấu trúc riêng và nhà vật lý cứ luôn luôn hy vọng đợi hạt tới sẽ là những
hạt cuối cùng của vật chất.
Mặt khác, lý
thuyết vật lý nguyên tử và hạ nguyên tử lại cho thấy sự hiện hữu của những
hạt cơ bản đó ngày càng khó đứng vững. Nó phát hiện ra một mối tương quan
cơ bản của vật chất, cho thấy rằng động năng có thể biến hóa thành khối
lượng, và đề xuất phải nhìn hạt là một tiến trình chứ không phải là vật
thể. Tất cả những thành tựu đó chỉ rõ rằng một khái niệm đơn giản mang
tính cứng nhắc về “hạt kiến tạo cơ bản” cần phải được tư bỏ, thế nhưng
cũng còn nhiều nhà vật lý vẫn ngại làm điều đó. Truyền thống lâu đời
chuyên giải thích cấu trúc phức tạp bằng cách đập nhỏ chúng ra từng mảnh
đơn giản đã bắt rễ quá sâu trong tư tưởng phương Tây, vì thế ta vẫn cứ
tiếp tục tìm kiếm những hạt cơ bản đó.
Thế nhưng có một
trường phái tư tưởng hoàn toàn khác trong nền vật lý hạt, nó xuất phát từ
ý niệm rằng, thế giới tự nhiên không thể được qui lại về những đơn vị cơ
bản, dù đó là hạt cơ bản hay trường cơ bản. Thiên nhiên phải được hiểu một
cách toàn thể thông qua tự bản thân nó, với tất cả những phần tử đang ăn
khớp với nhau, với chính bản thân chúng. Ý niệm này đã xuất hiện trong hệ
thống của thuyết ma trận S và được gọi là giả thuyết Bootstrap. Cha
đẻ và lý thuyết gia quan trọng của nó là Geoffrey Chew, người mà một mặt
đã phát triển ý niệm này trở thành một triết lý Dung thông chung
nhất về thiên nhiên, mặt khác (đã cùng với những người khác), xây dựng một
lý thuyết đặc trưng về hạt, được phát biểu trong ngôn ngữ của ma trận S.
Chew đã mô tả giả thuyết Dung thông trong nhiều bài viết, và phần sau đây
là dựa vào những bài đó.
Triết học Dung
thông là tư tưởng từ bỏ hoàn toàn thế giới quan cơ học trong vật lý hiện
đại. Vũ trụ của Newton được xây dựng bằng một loạt những đơn vị cơ bản với
những tính chất nòng cốt nhất định, xem như do Thượng đế tạo nên và vì thế
không thể phân tích thêm được. Với cách này hay cách khác, khái niệm này
được chứa đựng trong nhiều lý thuyết của khoa học tự nhiên cho đến giả
thuyết Dung thông quả quyết rằng theo thế giới quan mới thì vũ trụ được
hiểu như là một mạng lưới động chứa toàn những biến cố liên hệ với nhau.
Không một tính chất nào của bất kỳ thành phần nào trong mạng lưới này là
cơ bản; tất cả chúng đều sinh ra từ tính chất của những thành phần khác,
và chúng tương thích toàn diện trong quá trình tương tác của những cấu
trúc xác định trong toàn mạng lưới.
Thế nên, triết
học Dung thông mà tiêu biểu là đỉnh cao của quan điểm về tự nhiên, nó xuất
hiện trong thuyết lượng tử với sự nhìn nhận có một mối liên hệ chủ yếu và
toàn diện trong vũ trụ, nó nhận được nội dung động trong thuyết tương đối,
và nó được phát biểu bằng xác suất phản ứng trong thuyết ma trận S. Đồng
thời, quan điểm này tiến gần hơn nữa với thế giới quan phương Đông và bây
giờ hòa điệu với tư tưởng phương Đông, trong cả triết lý chung lẫn hình
dung đặc biệt về vật chất.
Giả thuyết Dung
thông không chỉ phủ nhận sự hiện hữu của những hạt vật chất cơ bản, mà còn
không chấp nhận bất cứ một đơn vị nào là cơ bản - chẳng có qui luật nào là
cơ bản, phương trình hay nguyên lý nào - và với điều đó, từ bỏ những ý
niệm đã là nòng cốt trong khoa học tự nhiên suốt hàng năm trăm qua. Khái
niệm về qui luật cơ bản được suy ra từ niềm tin có một đấng thiêng liêng
về nắm giữ qui luật, bắt rễ sâu trong truyền thống đạo Do Thái - Cơ Đốc.
Sau đây là những dòng của Thomas Aquinas:
Có một qui
luật trường cửu nhất định, đó là Nghĩa lý, nó nằm trong ý định của Chúa và
điều hành toàn thế giới vũ trụ.
Khái niệm về qui
luật thiên nhiên thiêng liêng và trường cửu gây một ảnh hưởng lớn trong
triết học và khoa học phương Tây. Descartes viết về “qui luật mà Chúa đã
đặt để trong thiên nhiên” và Newton tin rằng, mục đích cao nhất của công
trình khoa học của mình là để minh chứng cho “qui luật Chúa đặt ra”. Ba
thế kỷ sau Newton, mục đích của nhà khoa học tự nhiên là vẫn khám phá ra
những qui luật cuối cùng của tự nhiên.
Ngày nay vật lý
hiện đại đã phát triển một thái độ rất khác. Nhà vật lý đã nhìn nhận rằng,
tất cả lý thuyết của họ về hiện tượng tự nhiên, kể cả những qui luật mà họ
mô tả, tất cả đều do đầu óc con người sáng tạo ra; tất cả là tính chất của
hình dung của chính chúng ta về thực tại, chứ không phải bản thân thực
tại. Hình dung mang nặng tính khái niệm này buộc phải hạn chế và chỉ tiến
đên sự gần đúng (xem trang 36), cũng như mọi lý thuyết khoa học và qui
luật thiên nhiên mà nó chứa đựng. Tất cả mọi hiện tượng trong tự nhiên
cuối cùng đều tương thích và liên hệ với nhau; và muốn giải thích một cái
này ta cần hiểu tất cả những cái khác, rõ là điều không thể. Điều làm khoa
học thành công là sự khám phá ra tính gần đúng. Nếu ta bằng lòng với sự
hiểu biết gần đúng về thiên nhiên, thì như thế ta có thể mô tả một nhóm
hiện tượng chọn lọc, bỏ qua các hiện tượng khác không quan trọng. Nhờ thế
mà ta có thể lý giải nhiều hiện tượng thông qua một số ít khác và hệ quả
là hiểu nhiều khía cạnh khác nhau của thiên nhiên trong dạng gần đúng, mà
không buộc phải hiểu mọi thứ khác tức khắc. Đó là phương pháp khoa học;
tất cả mọi lý thuyết khoa học và mô hình đều là sự gần đúng so với tính
chất đích thực của sự vật, nhưng cái sai sót xảy ra trong sự gần đúng đó
thường đủ nhỏ bé để cách tiếp cận đó có ý nghĩa. Thí dụ trong vật lý hạt,
các lực tương tác trọng trường giữa các hạt thường được bỏ qua, chúng nhỏ
hơn nhiều lần so với các lực tương tác khác. Mặc dù sự sai sót sinh ra do
việc này là nhỏ, trong tương lai, tương tác trọng trường cần được lưu ý để
có những lý thuyết chính xác hơn về hạt.
Thế nên, nhà vật
lý xây dựng những mảng lý thuyết từng phần và gần đúng, mỗi một phần đó
chính xác hơn thuyết trước mình, nhưng không có thuyết nào đúng một cách
toàn bộ và chung quyết cho các hiện tượng thiên nhiên. Cũng như các lý
thuyết, tất cả các “qui luật thiên nhiên” do họ đề ra cũng hay thay đổi,
phải bị thay thế bởi các luật chính xác hơn, khi các lý thuyết trở nên
hoàn chỉnh hơn. Tính chất bất toàn của một lý thuyết thường được phản ánh
trong những đại lượng mà ta gọi là các hằng số cơ bản, đó là, những trị số
không được lý giải bằng lý thuyết mà được đưa vào lý thuyết sau khi xác
định bằng thực nghiệm. Ví dụ, thuyết lượng tử không thể giải thích trị số
sử dụng cho khối lượng của electron, hay thuyết tương đối với vận tốc ánh
sáng. Trong quan điểm cổ điển, các trị số đó được xem là hằng số cơ bản
của thiên nhiên, chúng không cần lý giải gì thêm. Trong cách nhìn mới, vai
trò gọi là hằng số cơ bản chỉ được xem là tạm thời và phản ánh giới hạn
của lý thuyết đó. Theo triết học Dung thông, chúng phải được lý giải, từng
cái từng cái, trong các lý thuyết tương lai, vì tính chính xác và độ bao
trùm của những thuyết này tăng lên. Thế nên ta có thể tiếp cận dần đến
tình huống lý tưởng nhất (nhưng có lẽ chẳng bao giờ đạt tới), nơi mà lý
thuyết không chứa đựng loại hằng số cơ bản không giải thích được, và nơi
mà những qui luật của chúng thỏa ứng tất cả những đòi hỏi chung nhất.
Tuy nhiên, cần
nhìn nhận rằng ngay cả một lý thuyết tối ưu như thế cũng phải chứa vài
tính chất không giải thích được, không nhất thiết phải biểu lộ trong dạng
những hằng số. Bao lâu còn là một lý thuyết khoa học, bấy lâu nó còn đòi
hỏi sự chấp nhận mà không giải thích, một số khái niệm nhất định,chúng đã
hình thành ngôn ngữ khoa học. Nếu ta đẩy ý niệm Dung thông đi tiếp. Ta có
thể lọt ra ngoài khuôn khổ khoa học luôn :
Trong một
nghĩa rộng thì ý niệm Dung thông, mặc dù hấp dẫn và hữu ích, nó là phi
khoa học…Khoa học, như ta biết, đòi hỏi một ngôn ngữ dựa trên những khuôn
khổ không bị tra vấn. Vì thế mà về mặt ngôn ngữ, nếu muôn tìm cách giải
thích tất ca mọi khái niệm, điều đó khó gọi là “khoa học” được.
Điều rõ rệt là
quan điểm Dung thông toàn diện về tự nhiên, trong đó mọi hiện tượng trong
vũ trụ chỉ được hình thành bằng sự tự tương thích đến rất gần với thế giới
quan phương Đông.
Trong một vũ trụ
không thể phân chia, trong đó mọi sự vật và biến cố liên hệ chặt chẽ với
nhau, khó mà nói gì cho có lý nếu không nói chúng tương thích với nhau.
Trong một cách nào đó thì đòi hỏi tương thích lẫn nhau, điều đã xây dựng
nên nền tảng của giả thuyết Dung thông; và tính nhất thể lẫn mối liên hệ
giữa các hiện tượng, điều được đạo học phương Đông nhấn mạnh; chúng chính
là những khía cạnh khác nhau của một ý niệm chung. Mối liên hệ chặt chẽ
này được trình bày rõ nhất trong Lão giáo. Đối với các chân nhân đạo Lão,
tất cả mọi hiện tượng trong thế giới đều là thành phần của con đường vũ
trụ - của Đạo - và qui luật mà Đạo đi theo không do ai đặt định ra hay do
đấng thiêng liêng nào, mà là tính chất nội tại trong tự tính của nó. Thế
nên ta đọc trong Đạo Đức Kinh:
Người bắt
chước Đất (Nhơn pháp Địa), Người theo phép Đất
Đất bắt chước Trời (Địa pháp Thiên), Đất theo phép Trời
Trời bắt chước Đạo (Thiên pháp Đạo), Trời theo phép Đạo
Đạo bắt chước Tự nhiên (Đạo pháp Tự nhiên), Đạo theo pháp Tự nhiên.
Joseph Needham,
trong công trình nghiên cứu nghiêm túc của mình về khoa học và văn minh
Trung quốc, trình bày rõ ràng tại sao quan điểm phương Tây về qui luật cơ
bản tự nhiên, với nguồn gốc từ một đấng thiêng liêng là người ban luật,
không hề có sự tương đồng trong tư tưởng Trung quốc. Theo thế giới quan
Trung quốc, Needham viết, “sự hòa đồng của mọi hiện hữu được sinh ra,
không phải từ quyền phép của một uy lực siêu thế nằm ngoài chúng, mà từ
thực tế, chúng là thành phần của một cái toàn thể tạo thành cấu trúc của
vũ trụ, và điều chúng tuân thủ chính là sự nhắn nhủ từ chính nội tâm của
chúng”.
Theo Needham,
thậm chí người Trung quốc không có từ tương tự để chỉ ý niệm cổ điển của
phương Tây nói về qui luật tự nhiên. Từ gần nhất với ý niệm đó là
Lý, điều mà triết gia Tân Khổng giáo Chu Hi gọi là “vô số những mẫu
hình như mạch máu nằm trong Đạo”. Needham phiên dịch Lý là
nguyên lý tổ chức và lý giải thêm như sau:
Trong nghĩa cổ
đại nhất, nó chỉ định những mẫu hình trong sự vật, đó là vân của ngọc
thạch hay sợi trong bắp thịt… Nó đạt được từ chung là “nguyên lý”, nhưng
luôn luôn giữ một nghĩa của “cấu trúc”…Đó là “qui luật “, nhưng qui luật
này là luật mà các thành phần của cái toàn thể phải tuân thủ vì chúng
chính là phần của cái chung… Điều quan trọng nhất khi nói về thành phần là
chúng vào đúng chỗ, chính xác, ăn khớp với những thành phần khác tron một
sinh cơ toàn thể do chúng tạo nên.
Ta dễ thấy một
quan điểm như thế đưa tư tưởng gia Trung quốc vào ý niệm mới được phát
triển trong thời gian gần đây của vật lý hiện đại, đó là, sự tự tương
thích chính là cái tinh túy của mọi qui luật thiên nhiên. Câu nói sau đây
của Chen Sun, một học trò của Chu Hi sống khoảng năm 1200 Công nguyên,
diễn tả hình dung này rất rõ, những câu này có thể được xemlà sự trinh bày
toàn hảo về nọi dung tự tương thích trong triết lý Dung thông:
Lý là luật của
tự nhiên, không thể trốn thoát, luật của sự và vật…ý nghĩa của “tự nhiên,
không thể trốn thoát” là sự (của con người) và vật (của thiên nhiên) được
tạo ra để được đặt vào đúng chỗ này xảy ra không chút thừa hay thiếu…Con
người từ xưa, tìm hiểu sự vật đến chỗ tận cùng, và tìm ra lý, chỉ muốn là
sáng tỏ sự không trốn thoát được tự nhiên của sự và vật, và điều đó có
nghĩa đơn giản là những gì họ muốn tìm chính là chỗ mà vật được đặt vào ăn
khớp vớí nhau. Chỉ như thế.
Trong quan niệm
phương Đông, cũng như trong cách nhìn của vật lý hiện đại, thì mọi sự
trong vũ trụ đều có liên quan đến mọi sự khác và không có thành phần nào
là cơ bản. Tính chất của mỗi phần được xác định, không phải bởi qui luật
nào, mà bởi tính chất của tất cả các thành phần khác. Cả hai, nhà vật lý
và nhà đạo học đều thừa nhận không thể giải thích hoàn toàn một hiện
tượng, thế nhưng sau đó, hai bên mỗi người có thái độ khác nhau. Nhà vật
lý, như đã nói trên, bằng lòng với một tiếp cận gần đúng với thiên nhiên.
Nhà đạo học phương Đông, mặt khác, không quan tâm đến nhận thức gần đúng
hay tương đối. Họ quan tâm đến nhận thức tuyệt đối, nó bao
tùm sự hiểu biết của toàn bộ đời sống. Biết rõ mối quan hệ khăng khít với
nhau trong vũ trụ, họ thấy rõ giải thích một vật cuối cùng chính là trình
bày sự liên hệ vật đó với mọi vật khác như thế nào. Vì điều đó là bất khả;
nhà đạo học phương Đông quả quyết rằng không thể giải thích sự vật nào một
cách đơn lẻ. Thế nên Mã Minh nói:
Tất cả các
pháp không thể dùng danh tự để kêu gọi, không thể dùng lời nói luận bàn,
không thể dùng tâm suy nghĩ được.
Vì vậy, các
thánh nhân phương Đông, thường không quan tâm việc giải thích sự vật, mà
tìm kiếm một sự chứng thực trực tiếp, phi suy luận về tính nhất thể của
mọi sự. Đó cũng là thái độ của Đức Phật là người trả lời mọi câu hỏi về ý
nghĩa đời sống, nguyên nhân của thế giới hay tính chất của niết bàn bằng
một sự im lặng cao quí. Những câu trả lời vô nghĩa của các thiền sư
khi được yêu cầu giải thích điều gì đó, hình như cũng có mục đích đó; để
cho người học trò thấy rằng mọi sự đều là hệ quả của toàn bộ cái còn lại;
rằng giải thích tự tính không có gì khác hơn là chỉ rõ tính nhất
thể của nó; rằng cuối cùng không có gì để giải thích cả. Khi một vị tăng
hỏi Động Sơn đang cân gạo: “Phật là gì?”, Động Sơn đáp. “Ba cân”; và khi
Triệu Châu được hỏi tại sao Bồ-Đề Lạt-ma đi Trung quốc, ông trả lời: “Cây
tùng trước cổng”.
Giải thoát đầu
óc con người khỏi chữ nghĩa và lý luận là một trong những mục đích chính
của nhà đạo học phương Đông. Cả Phật giáo lẫn Lão giáo đều nói về mạng
lưới chữ nghĩa hay mạng lưới khái niệm, đã mở rộng ý niệm của
một mạng lưới liên hệ lẫn nhau vào trong lĩnh vực của tư duy. Bao lâu ta
còn tìm cách giải thích sự vật, bấy lâu ta còn bị Nghiệp trói buộc: bị
giam trong mạng lưới khái niệm của chính ta. Vượt lên chữ nghĩa và khái
niệm là phá vỡ vòng kiềm tỏa của Nghiệp và đạt giải thoát.
Thế giới quan
của đạo học phương Đông chia sẻ với triết học Dung thông của vật lý hiện
đại, không những ở chỗ nhấn mạnh đến mối liên hệ lẫn nhau và sự tương
thích của mọi hiện tượng, mà còn ở chỗ phủ nhận một bản thể cơ sở của vật
chất. Trong một vũ trụ vốn là một cái toàn thể không thể phân chia và nơi
mà mọi hình thể đều đang trôi chảy và thay đổi liên tục, nơi đó không có
chỗ cho một đơn vị cố định hay cơ bản. Vì thế mà khái niệm bản thể cơ
sở của vật chất không được nhắc tới trong tư tưởng phương Đông.
Thuyết nguyên tử vật chất không hề được phát triển trong tư tưởng Trung
quốc, và mặc dù nó xuất hiện nơi vài trường phái triết học Ấn Độ, nó chỉ
nằm bên lề của huyền thoại Ấn Độ. Trong Ấn Độ giáo, khái niệm nguyên tử
chỉ xuất hiện trong hệ Jaina (hệ này được xem là phi kinh viện vì không
chấp nhận thẩm quyền của Kinh Vệ - đà). Trong triết học Phật giáo, thuyết
nguyên tử xuất hiện trong hai trường phái của Tiểu thừa, nhưng
chúng được phái Đại thừa quan trọng hơn xem là sản phẩm của vô
minh. Thế nên Mã Minh nói:
Khi chia chẻ
vật chất, ta biến chúng thành vi trần. Nhưng vi trần lại bị chia chẻ tiếp
tục, nên tất cả dạng hiện hữu, dù thô sơ hay vi tế, không gì khác hơn là
bóng dáng của sự phân biệt và chúng không có bất cứ mức độ nào của thật
tánh.
Như thế, những
trường phái chính của đạo học phương Đông đều cùng quan điểm với triết lý
Dung thông rằng, vũ trụ là một thể chung liên hệ lẫn nhau, trong đó không
có phần nào là cơ bản hơn phần nào, rằng tính chất của một phần này được
xác định bởi tất cả các phần kia. Trong nghĩa này, người ta cũng có thể
nói mỗi phần chứa đựng tất cả các phần kia; và thực tế là một hình
ảnh về sự hóa thân để sinh ra lẫn nhau hình như đánh dấu sự chứng nghiệm
huyền bí về thiên nhiên. Sau đây là những dòng của Sri Aurobindo:
Đối với cảm
quan siêu thế, không có gì là thực sự hữu hạn; nó dựa trên một cảm giác là
tất cả ở trong mỗi một và mỗi một ở trong tất cả.
Nội dung tất
cả ở trong mỗi một và mỗi một ở trong tất cả tìm thấy sự phát triển
lớn nhất trong Hoa Nghiêm Tông của Phật giáo Đại thừa, thường được
xem là đỉnh cao cuối cùng của tư tưởng Phật giáo. Nó đặt nền tảng trên
kinh Hoa Nghiêm, theo truyền thuyết là do Đức Phật thuyết giảng trong khi
Ngài nhập định sau khi giác ngộ. Bộ Kinh này tới nay chưa được dịch ra thứ
tiếng phương Tây nào, mô tả một cách chi tiết thế giới được nhận thức thế
nào trong ý thức giác ngộ, khi “vỏ cứng của cá thể bị tan biến và cảm giác
của hữu hạn không còn đè nặng chúng ta”. Trong phần cuối, được gọi là
Phẩm Hoa Nghiêm, Kinh kể lại câu truyện của một người tầm đạo trẻ
tuổi, Thiện Tài trình bày một cách sinh động những chứng thực siêu
hình của anh về vũ trụ, vũ trụ đã hiện ra như một mạng luới toàn hảo của
những mối tương quan, trong đó tất cả sự vật và biến cố tương tác với nhau
trong cách thế là mỗi một chứa đựng tất cả cái khác. Đoạn sau này của
Kinh, được D.T.Suzuki phỏng dịch, dùng hình ảnh của một khung trời trang
hoàng tuyệt đẹp, để truyền đạt chứng nghiệm của Thiện Tài:
Cung điện rộng
lớn và bao la như bầu trời. Nền cung điện được lót bằng vô số hạt minh
châu đủ loại, và khắp nơi trong cung trời, còn vô số tháp, của lớn, cửa
sổ, lan can, lối đi, tất cả đều được gắn bảy loại hạt minh châu quí báu…
Trong cung,
khắp nơi đều trang hoàng tráng lệ lại có hàng trăm ngàn tháp, mỗi tháp lại
được trang hoàng tráng lệ như cung và cũng rộng lớn như bầu trời. Và tất
cả những tháp này, vô số không đếm được, không hề là chướng ngại lẫn nhau,
mỗi một đều giữ tính chất riêng của mình trong sụ hòa hợp tuyệt đối với
những cái kia; không có gì ngăn cản một tháp này thâm nhập vào tháp kia,
vừa cá thể vừa toàn thể; đó là một tình trạng toàn hảo của sự trộn lẫn và
trật tự. Thiện Tài, người tầm đạo trẻ tuổi, tự thấy mình trong tất cả các
tháp cũng như mỗi tháp riêng lẻ, trong đó tất cả đều chứa trong mỗi một và
mỗi một đều chứa đựng tất cả 15.
Tất nhiên, trong
đoạn này, cung điện là hình ảnh của vũ trụ và sự thâm nhập lẫn nhau
toàn hảo của các thành phần được Đại thừa Phật giáo gọi là viên dung vô
ngại. Kinh Hoa Nghiem chỉ rõ sự viên dung này là mối lên hệ động cốt
tủy, nó không những xảy ra trong không gian mà cả trong thời gian. Như đã
nói trong các chương trước không gian và thời gian cũng được xem là thâm
nhập (viên dung) với nhau.
Kinh nghiệm thực
chứng của sự viên dung trong trạng thái giác ngộ có thể được xem là linh
ảnh huyền diệu của một tình trạng Dung thông hoàn hảo, nơi đó tất
cả hiện tượng thế gian đều xen kẽ vào nhau một cách hòa hợp. Trong tình
trạng đó của ý thức, óc suy luận được chuyển hóa và các lý giải nhân - quả
không còn cần thiết, chúng được thay thế bằng một chứng thực trực tiếp về
sự liên hệ lẫn nhau của sự vật và biến cố. Thế nên, khái niệm viên dung
của đạo Phật đi xa hơn hẳn bất cứ khoa học nào về Dung thông. Cần nói thêm
rằng, có nhiều mô hình về các hạt hạ nguyên tử trong vật lý hiện đại, dựa
trên giả thuyết Dung thông, chúng cho thấy một sự tương đồng lớn lao với
Đại thừa Phật giáo.
Nếu ý niệm Dung
thông được phát biểu trong một khuôn khổ khoa học, thì nó phải được giới
hạn và xem như gần đúng với tính gần đúng của nó bắt nguồn từ việc ta bỏ
qua các lực tương tác khác, chỉ quan tâm đến lực tương tác mạnh.Vì các
tương tác mạnh này lớn gấp hàng trăm lần các tương tác điện từ và gấp
nhiều lần hơn nữa so với tương tác yếu cũng như trọng trường, sự tiếp cận
gần đúng đó có thể được xem là có lý. Vì vậy Dung thông khoa học chỉ xử lý
các tương tác mạnh của hạt, hay của hadron, và vì thế nó thường được gọi
là Dung thông hadron. Nó được phát biểu trong khuôn khổ của thuyết
ma trận S và mục đích của nó là suy ra tất cả các tính chất của hadron và
tương tác của chúng dựa trên yêu cầu của sự tương thích. Các qui luật cơ
bản duy nhất được chấp nhận trong nguyên lý ma trận S đã được nói trong
chương trước, chúng xuất phát từ cách quan sát và đo lường của chúng ta và
vì thế mà tạo nên khuôn khổ cần thiết của mọi khoa học, đó là điều không
ai tra vấn. Tất cả mọi tính chất khác của ma trận S có thể tạm thời được
xem là nguyên lý cơ bản, nhưng ta hy vọng chúng sẽ tự biến thành hệ quả
tất yếu của quá trình tương thích, viên dung trong một lý thuyết toàn bộ.
Giả định rằng tất cả hạt hadron đều nằm trong các họ được mô tả bởi dạng
Reege (xem trang 324) có thể thuộc loại này.
Trong ngôn ngữ
của thuyết ma trận S thì giả thuyết Dung thông đề xuất rằng, ma trận S với
toàn bộ trị số, tức là chứa mọi tính chất của hadron, chỉ được xác định
bởi các nguyên lý chung, vì rằng chỉ có một ma trận S duy nhất tương thích
với cả ba nguyên lý đó. Thực tế là, nhà vật lý chưa bao giờ tiến gần tới
một mô hình toán học thỏa ứng được cả ba nguyên lý chung đó. Nếu chỉ có
một ma trận S duy nhất đủ khả năng mô tả tất cả tính chất và tương tác của
hadron, như giả thiết của Dung thông tiên đoán, thì bây giờ ta hiểu tại
sao nhà vật lý không xây dựng được một ma trận S tương thích, dù chỉ là
cục bộ. Lý do là thế giới hiện tượng quá phức tạp.
Sự tương tác của
các hạt hạ nguyên tử phức tạp đến mức không ai chắc rằng liệu một ma trận
S toàn bộ tương thích đến một ngày nào đó được xây dựng nên, thế nhưng ta
có thể tin rằng một ngày nào đó được xây dựmg nên, thế nên ta có thể tin
rằng một loạt những mô hình từng phần có thể thành công, trong phạm vi
nhỏ. Mỗi một mô hình đó có thể xem là đúng cho một phạm vi của vật lý hạt
và vì thế chứa vài thông số không thể giải thích được, chính chúng tiêu
biểu cho giới hạn của mô hình, những cũng những thông số này lại có thể lý
giải bằng các mô hình kia. Nhờ vậy mà càng lúc càng nhiều hiện tượng, từng
bậc, được lý giải với một sự chính xác ngày càng tăng, bằng những mô hình
tương thích với nhau như những viên gạch, trong đó số lượng các thông số
không giải thích được ngày càng giảm đi. Vì thế mà từ Dung thông không bao
giờ phù hợp cho một mô hình riêng lẻ, mà chỉ được áp dụng cho một sự phối
hợp của nhiều mô hình tương thích lẫn nhau, không có mô hình nào trong số
đó là cơ bản hơn cái khác. Như Chew đã nói: “Nhà vật lý nào biết nhìn
nhiều mô hình riêng lẻ và có giá trị trong phạm vi của mình, mà không
thiên vị mô hình nào, người đó hiển nhiên là một nhà Dung thông học.
Một số những mô
hình cục bộ thuộc loại này đã hiện hữu và cho thấy chương trình dung thông
sẽ được thực hiện trong một tương lai không xa. Liên hệ đến hadron thì bài
toán lớn nhất của thuyết ma trận S và thuyết dung thông luôn luôn lý giải
cho được cấu trúc quark, nó đặc trưng cho tương tác mạnh. Thời gian gần
đây, thuyết Dung thông chưa giải thích được sự bất thường rất lớn này và
đó là nguyên nhân chính tại sao Dung thông chưa được coi trọng trong cộng
đồng vật lý. Phần lớn nhà vật lý nghiêng về phía thành lập một mô hình
quark, nó cung cấp, nếu không lý giải nhất quán, thì ít nhất cũng mô tả
được hiện tượng. Thế nhưng, trong sáu năm qua, tình hình đã đảo lộn. Nhiều
công trình quan sát cho phép suy ra phần lớn đặc trưng của mô hình quark,
mà không cần giả định có sự hiện hữu của hạt quark. Những kết quả
này đã tạo ra niềm hứng khởi lớn lao trong giới lý thuyết gia của ma trận
S và có lẽ sẽ buộc cộng đồng vật lý phải đánh giá lại toàn bộ thái độ của
họ đối với phép Dung thông trong nền vật lý hạ nguyên tử.
Hình ảnh của
hadron xuất hiện từ thuyết Dung thông thường được gọi một cách gợi mở là
mỗi một hạt chứa tất cả các hạt kia. Tuy thế, không nhất thiết phải hình
dung là mỗi hadron chứa những hạt còn lại trong nghĩa cổ điển, tĩnh tại.
Khi nói cái này
chứa cái kia, có nghĩa là hadron kéo cái kia trong cái
động và nghĩa xác suất của thuyết ma trận S, mỗi hadron có khả năng ở
trạng thái liên kết của một loạt những hạt có thể tương tác với nhau để
tạo thành hadron đó. Trong nghĩa đó, tất cả hadron là những cấu trúc được
hợp thành, mà thành phần của chúng là hadron, và không có thành phần nào
là cơ bản hơn thành phần nào. Lực liên kết để duy trì cấu trúc đó được
hình thành bởi sự trao đổi hạt, và những hạt được trao đổi đó lại chính là
hadron. Thế nên mỗi hadron cùng một lúc đóng ba vai trò: bản thân nó là
một cấu trúc được hợp thành, nó có thể là thành phần của một hadron khác,
và nó có thể được trao đổi giữa các thành phần để thành một lực duy trì
cấu trúc lại với nhau. Khái niệm “crossing” (giao nhau) vì thế là rất then
chốt trong hình dung này. Mỗi hadron được duy trì bởi lực do sự trao đổi
với hadron khác trong kênh ngang, rồi bản thân hadron (thứ hai)
đó lại được duy trì bởi lực mà hadron trước cũng tham gia. Thế nên, “mỗi
hạt sinh ra những hạt khác, những hạt vừa sinh, lại sinh lại hạt trước”.
Toàn bộ các hadron tự sinh ra mình theo cách này và tự kéo mình lên, như
kéo “ống giày” (bootstrap). Đó là một quá trình vô cùng phức tạp của
sự tự khẳng định, đó là cách thể duy nhất để có thể tự hình thành.
Nói cách khác chỉ có một nhóm hadron duy nhất tự tương thích - đó là nhóm
tìm thấy trong thiên nhiên.
Trong Dung thông
hadron, tất cả các hạt đều do các hạt khác tạo thành một cách động, và
trong nghĩa này ta có thể nói chúng chứa lẫn nhau.
Trong Đại thừa Phật giáo, một quan niệm rất giống như vậy cũng được dùng
để nói về toàn bộ vũ trụ. Tấm lưới vũ trụ bao gồm các viên dung vô ngại
được minh hoạ trong kinh Hoa Nghiêm bằng tấm lưới Đế Thích Indra
(Nhân-đà-la), một tấm lưới rộng lớn treo toàn các hạt minh châu trên cung
trời Đế Thích. Sau đây là những dòng của Sir Charles Eliot:
Trên cung trời
Đế Thích, người ta nói có một tấm lưới chứa toàn ngọc, được sắp đặt sao mà
bạn chỉ cần nhìn một viên, bạn thấy tất cả các viên khác phản chiếu vào
đó. Trong cách đó, mỗi sự vật trong thế gian không phải chỉ là nó thôi, mà
mang theo mỗi vật khác và thực tế là của tất cả phần còn lại. “Trong mỗi
hạt bụi là vô lượng chư Phật".
Sự tương đồng
của hình ảnh này với hình ảnh của Hadron thật là đáng kinh ngạc. Hình ảnh
cung trời Đế Thích có thể gọi ngay là mô hình đầu tiên của Dung thông,
được các nhà minh triết Phương Đông sáng tạo khoảng 2500 năm trước khi vật
lý hạt bắt đầu. Người Phật tử quả quyết rằng khái niệm của viên dung vô
ngại không thể nắm bắt được bằng tư duy trừu tượng, mà bằng sự chứng thực
của ý thức giác ngộ trong trạng thái thiền định. Thế nên D.T. Suzuki viết:
"Đức Phật (
trong phẩm Hoa Nghiêm) không còn là người sống trong thế giới của không
gian và thời gian. Ý thức của ngài không phải là ý thức thông thường được
quy định bởi cảm quan và suy luận… Đức Phật của Hoa Nghiêm sống trong thế
giới tâm thức với quy luật riêng".
Trong vật lý
hiện đại, tình huống cũng giống như thế. Ý niệm rằng mỗi hạt chứa
tất cả các hạt khác là không thể tưởng tượng được trong không gian và thời
gian. Nó mô tả một thực tại, giống như thực tại của Phật, có qui luật
riêng. Trong trường hợp của Dung thông hadron, đó là qui luật của thuyết
lượng tử và thuyết tương đối, khái niệm then chốt là các lực duy trì hạt
với nhau chính là bản thân các hạt đó được trao đổi trong kênh ngang. Khái
niệm này có thể biểu diễn bởi một ý nghĩa toán học chính xác, nhưng hầu
như không thấy được bằng hình ảnh. Đó là một tính chất mang tính tương đối
của Dung thông và vì ta không thể có kinh nghiệm về không gian - thời gian
bốn chiều, thật khó mà tưởng tượng được tại sao một hạt riêng lẻ có thể
chứa tất cả những hạt khác. Tuy nhiên, đó chính là quan điểm của Đại thừa:
Khi một cái
được đặt dối diện với Mọi cái khác, cái Một sẽ được thấy tràn ngập khắp
tất cả, đồng thời dung chứa tất cả vào mình.
Thuyết Dung thông
về hadron còn lâu mới hoàn chỉnh và tất cả những khó khăn liên quan trong
việc phát biểu nó vẫn còn đáng kể. Tuy thế nhà vật lý bắt đầu mở rộng mức
tìm hiểu về tính tự tương thích, kể cả vượt qua sự mô tả về các hạt tương
tác mạnh.
Ý niệm về một
hạt chứa tất cả hạt khác không phải chỉ sinh ra trong đạo học phương Đông,
mà còn có trong tư tưởng đạo học phương Tây. Thí dụ sau đây cho thấy rõ
rệt trong những dòng nổi tiếng của William Blake:
Nhìn
thế giới trong một hạt cát
Và bầu trời trong cánh hoa rơi.
Giữ vô cùng trong lòng bàn tay,
Và vĩnh cửu trong một giờ ngắn ngủi.
Một lần nữa, ở
đây, một tầm nhìn huyền bí lại đưa đến hình ảnh của Dung thông; khi nhà
thơ thấy thế giới trong một hạt cát thì nhà vật lý hiện đại thấy thế giới
trong một hadron.
Một hình ảnh
tương tự xuất hiện trong triết học của Leibniz, người xem thế giới được
cấu tạo bằng những phần tử cơ bản mà ông gọi là “monads”, mỗi một phần tử
đó phản ánh toàn bộ vũ trụ. Điều này đưa ông đến một quan điểm về vật
chất, với những tương đồng Đại thừa Phật giáo và với Dung thông hadron.
Trong tác phẩm Monadology (1714), Leibniz viết:
Mỗi một phần
tử của vật chất có thể được nhìn như một mảnh vườn đầy hoa lá hay một hồ
đầy cá. Thế nhưng mỗi cành hoa lá, mỗi tứ chi con vật, mỗi giọt nước cốt
của chúng cũng là một mảnh vườn hay hồ nước như vậy.
Thật thú vị thấy
rằng những dòng trong Kinh Hoa Nghiêm viết trên đây có thể ghi dấu ấn của
ảnh hưởng Phật giáo lên Leibniz. Joseph Needham đã chứng minh rằng Leibniz
đã chịu ảnh hưởng của tư tưởng và văn hóa Trung quốc nhờ những bản dịch mà
ông nhận được từ các tu sĩ Jesuit, và triết học của ông rất có thể
được cảm hứng bởi trường phái Tân khổng giáo của Chu Hi, mà ông biết rõ.
Trường phái này có một gốc rễ trong Đại thừa Phật giáo, đặc biệt trong
tông Đại thừa Hoa Nghiêm. Thực tế là Needham nhắc lại ẩn dụ tấm lưới ngọc
của Đế Thích, khi nói rõ mối liên hệ với các “phần tử cơ bản” của Leibniz.
Thế nhưng, khi
so sánh chi tiết quan niệm của Leibniz trong “tương quan phản chiếu” giữa
các phần tử cơ bản với ý niệm viên dung trong Đại thừa, có lẽ ta thấy hai
bên khác nhau nhiều và phương thức của Phật giáo nhìn vật chất tới gần hơn
với tinh thần của vật lý hiện đại so với Leibniz. Sự khác biệt chính giữa
chủ trương “phần tư cơ bản” với quan niệm của Phật giáo có lẽ “các phần tử
cơ bản” của Leibniz là những thể cơ bản, chúng được xem là thể tính cuối
cùng của vật chất. Leibniz bắt đầu Monadology với những chữ: “Monad mà ta
bàn đến ở đây chỉ là một thể tính giản đơn, nó là thành phần của thứ khác;
giản đơn được hiểu là không có đơn vị nào nhỏ hơn nữa". Ông viết tiếp: “và
những Monad này là những nguyên tử đích thực của thiên nhiên, và nói gọn
lại, chúng là yếu tố của mọi vật”. Quan điểm cơ bản này hoàn toàn ngược
với triết học Dung thông và vì vậy hoàn toàn khác với Đại thừa Phật giáo,
là người từ chối một đơn vị cơ bản hay một thể tính cơ bản . Cách nhìn cơ
bản của Leibniz cũng được phản ảnh trong quan niệm về lực, mà ông xem là
định luật của mệnh lệnh thiêng liêng (divine decree) và khác hẳn
vật chất. Ông viết “lực và hoạt động không thể chỉ là dạng của vật chất
thụ động được”. Một lần nữa, điều này ngược hẳn với quan niệm về vật lý
hiện đại của đạo học phương Đông.
Nói về mối liên
hệ thực sự giữa các monad với nhau, khác biệt chính với hadron Dung thông
có lẽ là monad không tương tác lẫn nhau; chúng “không có cửa sổ”, như
Leibniz nói, mà chỉ phản chiếu lẫn nhau. Mặt khác, trong hadron Dung thông
cũng như trong Đại thừa, sự quan trọng chính là sự tương tác hay viên dung
của tất cả các hạt. Hơn thế nữa, quan điểm của Dung thông và Đại thừa về
vật chất đều là cái nhì không gian - thời gian, chúng xem vật thể là biến
cố mà những tương tác giữa những biến cố đó chỉ có thể hiểu được nếu người
ta thừa nhận rằng cả không gian - thời gian cũng tương tác viên dung với
nhau.
Thuyết Dung
thông về hadron còn lâu mới hoàn chỉnh và tất cả những khó khăn liên quan
trong việc phát biểu nó vẫn còn đáng kể. Tuy thế nhà vật lý bắt đầu mở
rộng mức tìm hiểu về tính tự tương thích, kể cả vượt qua sự mô tả về các
hạt tương tác mạnh. Một sự mở rộng như thế phải vượt qua khuôn khổ của
thuyết ma trận S hiện nay, là thuyết đặc biệt chỉ dành để mô tả tương tác
mạnh. Người ta phải tìm ra một khuôn khổ tổng quát hơn và trong khuôn khổ
mới này, vài khái niệm hiện đang được chấp nhận mà không giải thích, chúng
phải được Dung thông hóa; tức là chúng được suy diễn ra từ một sự tự
tương thích tổng quát. Theo Geoffrey Chew, những điều này có thể bao
gồm khái niệm của ta về không gian - thời gian vĩ mô và, có lẽ bao gồm cả
ý thức con người:
Nếu đi tận
cuối cùng của logic, thì giả thuyết Dung thông hàm ý rằng sự hiện hữu của
ý thức, cùng với những khía cạnh khác của thiên nhiên, là cần thiết cho sự
ăn khớp toàn bộ của cái tổng thể.
Cách nhìn này là
sự hòa hợp toàn hảo với các quan niệm của các truyền thống đạo học phương
Đông, trong đó ý thức luôn luôn được xem là phần bất khả phân của vũ trụ.
Trong quan niệm
phương Đông, con người, cũng như tất cả dạng sinh học khác, là những thành
phần của một sinh cơ tổng thể không phân chia được. Con người được xem là
sự minh chứng sống động của mộ tư thức vũ trụ; trong ta, vũ trụ lặp đi lặp
lại lần nữa khả năng của nó sinh ra sắc hình rồi qua đó mà ý thức lại
chính mình.
Trong vật lý
hiện đại, vai trò của ý thức đã nổi lên trong mối quan hệ với sự quan sát
các hiện tượng nguyên tử. Thuyết lượng tử đã chỉ rõ rằng những hiện tượng
chỉ được hiểu như một mắt xích của một chuỗi những tiến trình, mà khâu
cuối của chúng nằm nơi ý thức của con người quan sát. Dùng những chữ của
Eugene Wigner, “Không thể phát biểu định luật (của thuyết lượng tử) trong
một cách hoàn toàn nhất quán nếu không dựa trên ý thức”. Sự phát biểu thực
từ hiện nay của thuyết lượng tử bởi các nhà khoa học trong các công trình
thì chưa dựa rõ ràng lên ý thức. Tuy nhiên Wigner và các nhà vật lý khác
cho rằng, sự bao gồm trọn vẹn ý thức con người có thể là một khía cạnh chủ
yếu của những thuyết về vật chất trong tương lai.
Một sự phát
triển như thế sẽ mở ra nhiều khả năng hấp dẫn cho một sự tác động qua lại
giữa nhà vật lý và nhà đạo học phương Đông. Sự hiểu biết về ý thức con
người và mối liên hệ của nó với phần còn lại của vũ trụ là điểm khởi đầu
của mọi thực chứng siêu hình. Nhà đạo học phương Đông đã khám phá nhiều
dạng của ý thức qua bao thế kỷ nay và những kết luận mà họ đạt được thường
khác hẳn những ý niệm phương Tây. Nếu nhà vật lý thực sự muốn gắn liền ý
thức con người vào lĩnh vực nghiên cứu của họ, thì sự tìm hiểu về các ý
niệm phương Đông có thể cung cấp nhiều quan niệm mới mẻ và gợi mở.
Thế nên, sự mở
rộng trong tương lai của Hadron - Dung thông, với sự Dung thông
hóa không gian và thời gian và có thể với ý thức của con ngưòi, chúng
có thể mở ra những khả năng không hề biết trước, đi hẳn ra ngoài khuôn khổ
qui ước của khoa học:
Một bước đi
như thế trong tuơng lai sẽ là sâu sắc hơn bất kỳ những gì liên hệ tới
Hadron Dung thông; chúng ta sẽ buộc phải đương đầu với khái niệm khó hiểu
của sự quan sát và, có thể, cả với ý thức. Thành thử, sự vật lộn hiện nay
với Hadron Dung thông có thể chỉ là mùi vị đầu của một nỗ lực hoàn toàn
mới mẻ của đầu óc con người, một cái không những chỉ nằm ngoài vật lý mà
thậm chí còn không được gọi là “khoa học” nữa.
Thế thì ý niệm
Dung thông sẽ đưa ta về đâu? Tất nhiên, không ai biết được cả, nhưng thật
là đáng say mê khi suy tư về đoạn cuối của nó. Người ta có thể tưởng tượng
ra một hệ thống lý thuyết trong tương lai bao trùm càng lúc càng lớn các
mức độ của hiện tượng thiên nhiên với độ chính xác ngày càng cao; một hệ
thống chứa đựng càng lúc càng ít các tính chất không thể giải thích; suy
ra được càng lúc càng nhiều cấu trúc tự tương thích nhau của những thành
phần. Rồi tới một ngày, sẽ đạt tới mức mà trong đó tính chất duy nhất
không giải thích được trong hệ thống lý thuyết chính là các yếu tố của
khuôn khổ khoa học. Qua khỏi mức này thì kết quả lý thuyết không còn được
diễn tả bằng lời, hay bằng khái niệm suy luận, và như thế nó ra khỏi khuôn
khổ khoa học. Thay vì một thuyết Dung thông về thiên nhiên, nó sẽ
biến thành một linh ảnh Dung thông về thiên nhiên, vượt qua lĩnh
vực của tư tưởng và ngôn ngữ; dẫn ra khỏi khoa học và đưa vào thế giới của
bất khả tư nghì, nơi đó không thể nghĩ bàn được. Nhận thức trong
linh ảnh đó là toàn trí, nhưng không thể trao truyền bằng lời: Đó sẽ là
nhận thức mà Lão Tử nói tới, cách đây hơn hai ngàn năm:
Người biết không nói, Người nói không biết
(Tri giả bất ngôn, Ngôn giả bất tri).
---o0o---
Mục lục|
Phần
1 |
Phần
2 |
Phần 3 |
Phần 4
---o0o---
Source:
http://sg.vnexpress.net/Vietnam/Khoa-hoc/Tu-sach/
Trình bày: Nhị Tường
Cập
nhật: 20-1-2005