| ...... ... |
. |
So sánh kinh Trung A-hàm
chữ Hán
và
kinh Trung Bộ chữ Pàli
Nguyên tác: Bhiksu Thich Minh Chau (1961),
"A Comparative Study of the Chinese Madhyama Agama
and the Pali Majjhima Nikaya",
Ph.D. Thesis, Bihar University, India
---o0o---
MỤC
LỤC
-ooOoo-
|
C
: Trung A-hàm, bản chữ Hán.
NC : Nghiên cứu so sánh Trung A-hàm và Trung bộ kinh (xem Phụ
Lục 5)
P : Trung bộ kinh, bản chữ Pàli.
S : chữ Phạn (Sanskrit).
Bảng viết tắt
phần chú thích:
A.M.R.H.
: "Đại thừa liên hệ với Tiểu thừa", N.
Dutt.
C : Chữ Hán.
C.A.P.N. : "Bản
so sánh kinh A-hàm chữ Hán và Kinh bộ Pali", C.
Akanuma.
CMA : Trung A-hàm chữ Hán.
C No 30,vi,18b,3-4 : Kinh
chữ Hán số 30, hộp Tsê số 6, trang 18b, dòng 3 và 4.
C.S. No : Nghiên cứu so sánh Số... (xem Phụ
Lục 5)
D.P.P.N. : Tự điển tên riêng Pali.
E.M.B. : Phật giáo Nguyên thủy.
F.H.T.T.T. : Fu-hsueh-ta-tzu-tien (Phật học Đại từ điển).
H.I.L. : Lịch sử Văn học Ấn độ, quyển 2, Winternitz.
JRAS. : Bào Hội Hoàng-gia Á-châu.
M.A. : Sớ giải Trung-bộ-kinh (Hội kinh-điển Pali).
M.L.S. : Trung-bộ-kinh (tiếng Anh).
M.R.E.T. : Những bản thảo Phật giáo còn sót lại được tìm
thấy ở Đông Turkestan.
Ms. : Trung-a-hàm chữ Phạn.
Mv. : Đại-phẩm (ấn bản của Hội PTS)
P : Pàli
P.E.D. : Tự điển Pàli-Anh (Hội PTS).
PMN : Trung-bộ-kinh chữ Pàli.
P. No 2, (I, 89, 7-32) : Kinh Pàli số 2, quyển I, trang
89, dòng 7 tới dòng 32.
PTS : Hội kinh-điển Pàli.
Q.A. : Hỏi và Trả lời.
Rev. Fr. : Thưa hiền-giả.
Sarv. : Nhất-thiết hữu-bộ.
Sk. : chữ Phạn.
S.L. : Văn học Nhất-thiết hữu-bộ.
Ther. : Thượng-tọa-bộ.
ThigA. : Sớ giải Trưởng-lảo tăng-kệ. (Hội PTS).
T.M.N. : Trung-bộ-kinh Pàli (Hội PTS).
Tse : Hộp Tsê, Tục-tạng, ấn bản chữ Nhật.
Ven. : Thượng-tọa.
W.H.One : Thế-tôn.
|
-ooOoo-
Những
người học Phật trên khắp thế giới phải cám ơn Tiến sĩ Thích
Minh Châu về tác phẩm công phu này. Công trình của Tiến sĩ là
so sánh kinh Trung bộ (Pàli Majjhima Nikàya) với Trung A-hàm (Madhyama
Àgama), tạng kinh thuộc Nhất thiết hữu bộ (Sarvàstivàdins),
hiện được duy trì trong bản dịch chữ Hán. Bởi ít ai đề
cập một cách chi tiết, tạng kinh A-hàm (Àgama) hầu như
bị niêm phong đối với phần đông học giả quan tâm đến
Phật giáo, vì họ thiếu kiến thức về chữ Hán. Tác phẩm
của Tiến sĩ Thích Minh Châu có nhiều khám phá đáng ngạc nhiên.
Ông đã chứng minh rằng bản kinh A-hàm (Àgama) bằng chữ Hán
và bản kinh bộ Pàli (Pàli Nikàya) này có rất nhiều điểm
tương đồng và cũng khá nhiều dị biệt. Đối với tôi, ông đã
rất đúng khi xác nhận rằng cả hai phái Nhất thiết hữu bộ (Sarvàstivàdins)
và Thượng tọa bộ (Theravàdins) đều căn cứ trên một di
sản chung. Mặc dù một người ngưỡng mộ văn học Pàli có
thể đồng ý với những nhà luận giải như Buddhaghosa,
rằng truyền thống Pàli gìn giữ giáo lý nguyên thủy thuần túy
và tiêu biểu cho lời dạy đích thực của đấng Đạo sư, ngày
nay những học giả đều phê phán lời tuyên bố quá đáng này.
Tất cả những học giả phương Tây cũng như phương Đông hầu
như đều có chung quan điểm với Tiến sĩ Thích Minh Châu là,
cả hai bản dịch chữ Hán ngữ cũng như Pàli đều căn
cứ trên một bản gốc mà ngày nay đã thất lạc.
Tác phẩm này được tác
giả đệ trình làm luận án Tiến sĩ, và đã được Hội đồng
giám khảo đồng thanh phê chuẩn. Công trình của ông quả thực
đã mở rộng chân trời hiểu biết của chúng ta. Ông đã đề
cập đề tài này với cái nhìn của học giả và với thái độ
vô tư, cốt đề cao chân lý chứ không với mục đích dựng lên
một giáo điều hay phân phái. Sự hiểu biết của chúng ta về
Phật giáo trên các phương diện học thuyết, triết lý và giới
luật đều phải bị hạn hẹp và cục bộ vì thiếu tài liệu.
Rủi thay, hầu như phần lớn giáo lý Phật giáo bằng nguyên
bản Sanskrit đã mất, chỉ trừ một ít đoạn được các
nhà nghiên cứu đưa ra ánh sáng. Mặc dù số lượng tác phẩm
bằng Sanskrit ngữ hiện có được so sánh một cách bất
lợi với số lượng văn học Pàli, giá trị nội tại
của kinh Phạn ngữ, với cái nhìn sâu sắc và đánh giá vấn đề
một cách hợp lý, đã chứng minh sự sai lầm của việc khai thác
thái độ thù hằn ganh tị của thời Trung cổ, một thái độ đã
làm cho Phật giáo trong quá khứ mất hết sinh lực. Nếu ta trung
thành với lý Trung đạo của đức Phật, thì ngày nay ta không còn
có thể bảo rằng Phật giáo tạng Sanskrit lạc xa giáo lý
nguyên thủy. Những phần nhỏ và những tác phẩm nguyên bản Sanskrit
này được tìm thấy tại Népal và Tây Tạng, đã chứng tỏ
nguồn sinh lực vô địch của đức tin Phật giáo. Nhờ biết
được những kho tàng này mà chúng ta có được cái nhìn sâu
sắc hơn về bí quyết truyền bá đạo Phật tại các nước châu
Á. Những học giả thường phải lấy làm lạ khi thấy Phật giáo
đã đạt đến tầm vóc một tôn giáo toàn cầu, mặc dù không có
sự bảo trợ rộng rãi của triều đình và giới thương gia giàu
có. Dĩ nhiên, sự bảo trợ ấy cuối cùng vẫn xảy đến, vì
Phật giáo tiêu biểu yếu tố thiêng liêng trong con người, chỉ
đường vượt qua những bản năng thú vật. Sự bảo trợ của
vua chúa là hậu quả của sự hoằng dương chứ không phải là
điều kiện để truyền bá đạo Phật. Nhờ luôn nhấn mạnh tính
vô thường của tài sản thế gian cũng như của nghịch cảnh,
Phật giáo củng cố được nghị lực tâm hồn của tín đồ
xuất gia và tại gia. Nó tịnh hóa những người quyền thế và
khích lệ những người nghèo khổ, những kẻ bị chà đạp.
Lịch sử trung cổ và
cận đại đều cho thấy quyền lực và tài sản thế gian rất
cần thiết trong việc bảo vệ tiến bộ tâm linh và truyền
thống dân tộc. Những sự xâm lăng của ngoại bang đã làm cho
nhiều dân tộc bị trị khắp thế giới mất hết sinh lực.
Hậu quả là tình trạng bội giáo, cải đạo xảy ra như núi
lở. Sức mạnh và vinh quang của đạo Phật bắt nguồn ở lòng
từ bi bao la của nó. Đức Phật chinh phục bằng lòng từ bi, và
những tín đồ của Ngài cũng vậy. Thế giới ngày nay hết sức
cần đến triết lý tình yêu này, và thật không đáng ngạc nhiên
khi những học giả trí thức đang tìm đến Phật giáo như ánh sáng
xua tan bóng tối gây nên bởi sự thi đua quyền lực, quân sự và
binh bị. Thế giới đang bị siết chặt trong cơn hãi hùng khủng
khiếp, và không gì làm người ta xuống tinh thần hơn là sự
mất hết tự tin. Cuộc đời đức Phật là một tấm gương
sống động về tinh tấn (viriya) và tỉnh giác (appamàda).
Nếu chúng ta có thể có được dù chỉ một phần nhỏ những đức
tính ấy trong cuộc đời rộn rịp, thế giới cũng sẽ đi đến
một tương lai tốt đẹp và cao thượng hơn.
Tiến sĩ Thích Minh Châu
không làm gì gián tiếp nhắm đến mục đích này. Công việc
của ông là công việc của một nhà học giả, có tính cách phê
phán, thận trọng và trung thành với sự thật. Nhưng kinh Trung
A-hàm (Madhyama Àgama) và Trung bộ (Majjhima Nikàya) đều
có những cuộc đối thoại và ngụ ngôn phong phú để tịnh hóa
tâm hồn chúng ta, giúp chúng ta đi đúng chíùnh đạo. Người nào
dành thì giờ để nghiên cứu tác phẩm này tự nhiên cũng muốn
đọc đến nguyên bản các kinh Trung bộ và A-hàm, những kinh sẽ
gieo vào tâm hồn họ những đức tính mà Phật giáo đề cao.
Hậu quả tức thời của việc nghiên cứu có thể không có tính
cách thực tiễn cho lắm nói theo nghĩa rộng. Tuy vậy, đấy không
phải là một công việc vô bổ. Nó đem lại những hậu quả trường
cửu hơn, hùng mạnh hơn vì có cơ sở trên sự nghiên cứu khách
quan. Sự áp dụng những giá trị lý thuyết vào đời sống là
một dư vị đến sau. Xét theo viễn tượng ấy, tác phẩm của
Tiến sĩ Minh Châu sẽ tưởng thưởng cho công khó của những người
đọc sách ông về ngắn hạn cũng như dài hạn. Tôi hy vọng
rằng Tiến sĩ Thích Minh Châu sẽ không từ bỏ đường hướng
nghiên cứu sưu tầm này. Chúng ta rất cần một sự khám phá toàn
diện về đạo Phật, và bằng nỗ lực và tấm gương của ông,
Tiến sĩ Thích Minh Châu có thể gợi cảm hứng cho nhiều học
giả về sau. Phật giáo phải được phục hồi trở lại với
vinh quang và nguồn sinh lực nguyên thủy, và điều này chỉ có
thể thực hiện nhờ đi theo đường hướng làm việc của tác
giả trong chân tinh thần truyền giáo.
Tôi hết sức hài lòng
vì tác phẩm này đã được hoàn tất trong khuôn viên Tân tòng lâm
Nalanda (Nava Nalanda Mahavihara). Chúng tôi sẽ mãi mãi hãnh
diện về những gì Tiến sĩ Thích Minh Châu và những người cộïng
sự của ông đã làm. Khi ông trở về quê hương (Việt Nam),
Tiến sĩ Thích Minh Châu cũng sẽ như Huyền Trang (Hsuan-tsang),
dành trọn cuộc đời của mình để làm tròn sứ mạng truyền bá
chân diệu pháp (Saddharma) vì an lạc cho nhiều người, vì
hạnh phúc cho nhiều người, phát triển từ bi bằng cách nêu rõ
sự vô ích của thiên kiến ngã chấp.
S.
Mookerjee
Viện trưởng,
Tân tòng lâm Nalanda
(Nava Nalanda Mahavihara)
23-3-1964
---o0o---
Mục
lục | 1.1
| 1.2 | 2.1 | 2.2
| 2.3 | 2.4 | 2.5
| 2.6 | 2.7
| 3.1 | 3.2 | 3.3
| 3.4 | 3.5 | 3.6
| 4.1 | 4.2 |
---o0o---
|
Thư Mục Tác Giả |
---o0o---
Chân thành
cám ơn Đạo hữu Bình Anson đã gửi tặng phiên bản điện tử
(Quang Duc Website, tháng 5, 2002)
Trình bày: Nhị Tường
Cập
nhật : 01-05-2002
|
|