TỨ
DIỆU ĐẾ
TỪ GÓC ĐỘ PHƯƠNG PHÁP LUẬN
KHOA HỌC
PGS. TS.
Hà Vĩnh Tân
Viện Vật lý, Viện Khoa học Công nghệ Việt Nam
Khi còn
nhỏ, những câu chuyện cổ tích mà bà và mẹ kể về Bụt đã để lại trong lòng
tôi hình ảnh một ông cụ râu tóc bạc phơ đầy từ bi, luôn hiện ra đúng lúc,
đúng chỗ, dùng phép lạ cứu giúp muôn chúng sinh qua mọi cảnh khổ nạn:
Dáng Bụt
điềm đạm, thanh cao,
Lời Bụt
ấm áp, thấm vào tâm ta
Lòng Bụt
rộng mở bao la,
Mắt Bụt
thấu hiểu, chan hòa tình thương
Lớn lên, trở thành một Phật
tử, tôi mới hiểu ra rằng Bụt không dùng phép lạ để cứu giúp chúng ta, mà
Bụt chỉ trao truyền cho chúng ta những phương pháp để tự mình tu tâm,
dưỡng tính, hoàn thiện nhân cách và hơn nữa cho chúng ta một nghệ thuật
sống và làm việc để mang lại niềm hạnh phúc đích thực cho chính mình và
mọi người, theo tinh thần “tự độ độ tha, tự giác giác tha”.
Tâm thông hết thảy đều
không,
Tâm mê có mắt mà không
thấy đàng,
Phật trao ta Ánh đạo vàng,
Tự mình khám phá thiên
đàng Tự Tâm
Trong bài ngắn này tôi xin
thử lý giải giáo lý Tứ diệu đế từ góc độ khoa học, chia sẻ tâm nguyện
của mình với những ai quan tâm đến việc hiện đại hóa Đạo Phật, và kết
hợp Phật Pháp với khoa học kỹ thuật trong việc truyền bá và áp dụng vào
cuộc sống.
Như ta biết, Tứ diệu đế là
bài thuyết pháp đầu tiên của Phật sau khi thành Đạo cho năm anh em A nhã
Kiều Trần Như, diễn ra tại vườn Lộc Uyển, về phía bắc thành Ba la nại.
Xem lại đoạn Phật thuyết giảng về Tứ diệu đế trong kinh Chuyển pháp luân
– bản dịch của Hòa thượng Thích Minh Châu, ta cảm nhận sâu sắc rằng, Tứ
diệu đế chính là một trong những tuệ giác sáng chói nhất của Phật. Ngài
đã tìm ra sự thật đen tối nhất của cõi đời là bệnh, già, chết và sự
phiền não thường trực trong lòng mỗi người, ngài gọi là Khổ (Khổ đế). Sự
thật thứ hai ngài tìm ra là nguyên nhân đau khổ, ngài gọi là Khổ tập (Tập
đế). Sự thật thứ ba ngài tìm ra là pháp môn tu tập để dứt trừ nguyên
nhân đau khổ, ngài gọi là Khổ tập diệt (Diệt đế). Và sự thật thứ tư ngài
tìm ra là con đường cho mọi người đi tới hạnh phúc, an vui vĩnh cửu,
ngài gọi là Khổ tập diệt đạo (Đạo đế).
Thiền sư Minh Đăng Quang
trong bộ sách “Chân Lý” có luận giảng một cách hình ảnh về vai trò then
chốt của giáo lý Tứ diệu đế như sau:
“Pháp chánh giác có ra là do
tứ diệu đế. Pháp là chính giác, là pháp của trong tứ diệu đế, do tứ diệu
đế sinh ra. Chánh giác là Pháp, là tiếng trống, tứ diệu đế là dùi trống,
mặt đất cõi đời là mặt trống, Bởi có mặt trống, Phật mới chỉ ra dùi
trống, dùi chạm mặt, mới sinh ra tiếng trống, tiếng ấy là pháp chánh
giác. Còn chúng sanh là người nghe.
Bởi chúng sanh sầu khổ, nên
Phật mới nói rằng: Này là khổ, vấn đề, đề mục khổ. Này nguyên nhân sanh
ra khổ, là tập, vấn đề, đề mục tập. Này phép diệt khổ, là diệt, vấn đề,
đề mục diệt. Này là Đạo diệt luân hồi khổ, vấn đề, đề mục đạo. Đạo là
con đường đi sau khi diệt luân hồi khổ. Diệt là diệt bỏ 12 nhân duyên
tập của luân hồi. Tập là sanh tử luân hồi, để chứa khổ, khổ là bởi tập
luân hồi, vì không diệt đạo”.
Phương pháp mầu nhiệm diệt
khổ đau trong Giáo lý Tứ diệu đế của Phật tổ Thích Ca Mâu Ni đã được
trao chuyền qua bao trái tim khối óc bao người, vượt bao sự thăng trầm
biến động của lịch sử, ngày nay may mắn lại đến tận tay và đi vào tâm
trí thế hệ chúng ta. Được sống và tu nương vào ánh sáng của Tứ diệu đế,
ta xin chân thành cảm ơn Người:
“Tâm viên, ý mã” khổ làm
sao,
Sai khiến ta đi khắp nẻo
nào,
Ơn Phật phát minh Pháp
mầu nhiệm,
Phục tâm kiềm ý tuyệt
biết bao"
Là người nghiên cứu khoa học
lại có duyên nghiên cứu Phật Pháp, tôi nhận thấy trong giáo lý của Phật
cũng hàm chứa một cách vi diệu, những phương pháp luận có nhiều điểm
tương đồng với phương pháp luận khoa học.
Chúng ta biết rằng, khoa học
là một động lực quan trọng trong quá trình nhận thức và tiến hóa của nền
văn minh nhân loại. Rất nhiều nhà khoa học đã có những phát minh quan
trọng, cũng như chịu sự hy sinh to lớn vì bảo vệ chân lý nha Nicôlai
Côpecnich hay Galileo Galilei. Tôi muốn nhắc tới trong số các nhà khoa
học cận đại như: Thomas Edison, nhà phát minh công nghệ vĩ đại với 1.093
bằng sáng chế riêng tại Hoa Kỳ, Albert Einsntein – nhà vật lý học vĩ đại
đặt nền móng cho vật lý hiện đại với năng lượng hạt nhân và khoa học kỹ
thuật không gian, hay Von Neumann – nhà toán học lỗi lạc, mà riêng sự
phát minh ra máy tính điện tử của ông đã đem đến cho chúng ta một loạt
các thiết bị khoa học kỹ thuật cốt lõi của kỷ nguyên văn minh thông tin.
Nhân loại đã chế tạo ra các
công cụ lao động và sáng tạo ra cả các phương pháp tư duy cùng các thiết
bị nghiên cứu khoa học. Các phương pháp hay các lập luận khoa học là một
quá trình, thường được trình bày như các bước nối tiếp nhau theo một
trình tự logic. Có một nhận xét đáng chú ý là: đa số các quá trình lập
luận này mang tính tuần hoàn, còn gọi là “chu trình lôgic”. Có nghĩa là,
cứ sau một số bước nhất định, các bước lại được lặp lại. Ở đây tôi xin
gọi là các phương pháp luận có bốn bước trong một chu trình là “Tứ đoạn
luận pháp”.
Các Tứ đoạn luận pháp trong
thực tế gồm bốn bước lặp đi lặp lại theo chu trình, nhưng sau mỗi một
vòng quay lại được điều chỉnh thành tốt hơn, hoàn thiện hơn, cuối cùng
là đi đến kết quả mong muốn. Để làm sáng tỏ khái niệm Tứ đoạn luận pháp
trong thực tiễn, chúng ta hãy hình dung Tứ đoạn luận pháp này như hình
ảnh các bực thang trên một chiếc cầu thang xoay trôn ốc trong nhà, mà cứ
bước thứ tư sau đó lại nằm ngay trên bước ấy theo chiều thẳng đứng (bước
thứ 5 nằm ngay trên bước thứ 1).
Đến đây chắc độc giả có thể
đặt câu hỏi: Tứ diệu đế có phải là một Tứ đoạn luận pháp không? Nếu hiểu
Tứ diệu đế như một sự thực tập, cũng như các phương pháp khoa học là
dùng để áp dụng vào cuộc sống thực tiễn, thì Tứ diệu đế phải được coi
như một Tứ đoạn luận pháp.
Phật chỉ ra một sự thật là
trong cuộc đời này, chúng sinh gặp bao nhiêu phiền não, sầu khổ về hoàn
cảnh, về thể xác và tâm hồn. Phật trao cho chúng ta Tứ diệu đế như một
sự thực tập, một phương pháp tu tập nhằm giúp con người tự mình giải
phóng khỏi mọi phiền não khổ đau, đi đến niềm hạnh phúc an lạc, đích
thực. Có một vị thiền sư đã nói rằng:”Tứ diệu đế không phải là một lý
thuyết, tứ diệu đế là một công trình thực tập. Tứ diệu đế không chỉ là
nguyên tắc của sự thực tập, tứ diệu đế là bản thân của sự thực tập” giúp
ta giải thoát khỏi u minh - nguồn gốc của mọi phiền não khổ đau, đi đến
mục tiêu là giác ngộ chân chính và xây dựng Tịnh độ trong tâm mỗi con
người và trên cả thế gian này.
Ta có một nhận xét thú vị là,
những phương pháp luận mang tính tứ đoạn luận trong thực tiễn khoa học
thuộc loại rất phổ biến và thường là phương pháp tổng quát (general
method) trong việc giải quyết vấn đề (problem solving), thu nhận kiến
thức (obtaining knowledge), và phát minh bí quyết công nghệ (obtaining
know-how).
Đây chính là các phương pháp
luận quan trọng nhất trong thực tiễn:
1. PHƯƠNG PHÁP KHOA HỌC
(Scientific method) dùng trong nghiên cứu và phát minh khoa học nói
chung, à ở đây ta gọi là tứ đoạn luận “Khoa học”.
Bây giờ ta xem xét cụ thể các
bước trong tứ đoạn luận “Khoa học” là:
·
Bước 1-
Mô tả đặc tính (Charaterization from experience and
observation): Mô tả đặc tính của hiện tượng vấn đế.
·
Bước 2-
Lập giả thiết (Hypothesis: a proposed explanation): Đặt
giả thiết, căn cứ để giải thích.
·
Bước 3- Suy
luận lôgic (Deduction: prediction from the hypothesis):
Các suy luận, tiên đoán từ giả thiết.
·
Bước 4-
Kiểm chứng (Test and experiment): Các phép thử và thí
nghiệm kiểm chứng
·
Bước 5-
(lặp lại bước 1 ở mức độ cao hơn) Lại mô tả đặc tính
mới: Mô tả đặc tính của hiện tượng một cách đúng hơn chi tiết hơn.
2. PHƯƠNG PHÁP TOÁN HỌC
(Mathematical method) dùng riêng trong nghiên cứu và sáng tạo toán học,
mà ở đây ta gọi là tứ đoạn luận “Toán học”.
Các bước trong tứ đoạn luận
“Toán học”.
·
Bước 1- Sự
hiểu (Understanding):
Đây là sự hiểu tương đối xuất phát về đối tượng.
·
Bước 2- Phân
tích (Analysis):
Sự mổ xẻ đi sâu vào chi tiết sự hiểu của mình so với thực tại.
·
Bước 3- Tổng
hợp (Synthesis):
Tập hợp hay tích hợp lại những sự phân tích và nhận xét lẫn phát hiện
mới của ta thu được trong sự mổ xẻ cái đã hiểu lại.
·
Bước 4- Tổng
quan và mở rộng (Review/ Extend):
Liên hệ với những điều ta hoặc người ta đã biết khác mở rộng cái hiểu
bao quát hơn.
·
Bước 5- (lặp
lại bước 1 ở mức độ cao hơn):
Lại làm mới thêm sự hiểu: Ta thu được cái hiểu mới về đối tượng nghiên
cứu.
3. PHƯƠNG PHÁP THỬ VÀ SAI MỞ
RỘNG (Generalized trial and error method) dùng phổ biến trong nghiên cứu
và phát minh các bí quyết công nghệ (know-how), mà ở đây ta gọi tắt là
tứ đoạn luận “Thử và sai”.
Các bước trong tứ đoạn luận
“Thử và sai” là:
·
Bước 1- Thử
(Trial) Mô tả
phép thử làm một việc nào đó với một ý tưởng xuất phát, thử dùng một
phương pháp, một công cụ phương tiện mà mình cho là hợp lý, thử lên một
kế hoạch nhằm đạt một mục đíhc mong muốn nào đó…
·
Bước 2- Sai
(Error): Sau
khi thử thực hiện những điều đã dự định, kết quả thu được lại không như
ý, hoặc không đúng như ta dự báo, mong muốn…
·
Bước 3- Phân
tích (Analysis):
Phân tích tìm hiểu ngọn ngành nguyên nhân cái sai nằm ở đâu.
·
Bước 4- Sửa
sai (Correction):
Có nghĩa, tìm ra cách khác mà ta cho là tốt hơn và không chứa những điều
sai mà ta đã nhận ra ở bước “hiểu cái sai”.
·
Bước 5- (lặp
lại bước 1 ở mức độ cao hơn)
Lại thử thêm lần nữa: Tiếp tục thử một lần nữa ới sự khắc phục hay loại
trừ cái sai.
Cả ba phương pháp tứ đoạn
luận nói trên đều chung một đặc tính là gồm bốn bước lặp lại theo chu
trình đi lên. Nếu phân tích chung sâu hơn, ta sẽ nhận thấy các tứ đoạn
luận này về ý nghĩa hay logic có bản chất tương tự nhau, và chỉ chia làm
3 phương pháp khác nhau về hình thức để áp dụng cụ thể cho phù hợp với 3
đối tượng khác nhau mà thôi.
Nhìn lại cuộc sống, ta có thể
dễ dàng nhận ra một sự thật là: Khi ta không làm việc gì thì nói chung
là không sao, còn nếu a cứ làm một việc gì đó thì xme kỹ lại vẫn tìm ra
được những điều sai sót (không lớn thì nhỏ). Như vậy, “sai và thiếu” là
những điều mà khó ai có thể tránh khỏi, nên chúng không đáng làm ta lo
sợ. Điều đáng sợ hơn chính là khi ta không nhận ra các sai lầm đó để
quyết tâm sửa chữa. Đây chính là bản chất của Phương pháp “Thử và Sai”.
Điều này tương tự như Bản
chất của phương pháp “Tứ diệu đế” mà Phật đã giác ngộ và chỉ ra cho
chúng ta: mọi sự đau khổ của cuộc đời không phải là Định mệnh, mà chúng
ta đành cam chấp nhận. Ngược lại, chính bằng sự tu tập theo phương pháp
“Tứ diệu đế” ta có thể giải thoát mọi khổ đau của cuộc đời.
Để làm nổi bật cách vận hành
của Tứ diệu đế trong sự tu tập, ta hãy so sánh sự tương đồng của Tứ đoạn
luận “Tứ diệu đế” với Tứ đoạn luận “Thử và sai” qua bảng sau:
|
Các bước |
Thử và Sai |
Tứ Diệu Đế |
|
1 |
Sai lầm |
Khổ đế - những sự khổ |
|
2 |
Hiểu nguyên nhân sai lầm |
Khổ Tập đế - hiểu nguyên nhân của khổ |
|
3 |
Sửa nguyên nhân sai lầm |
Khổ Tập Diệt đế - Tìm phương pháp diệt khổ |
|
4 |
Thử sau khi Sửa nguyên nhân sai lầm |
Đạo Khổ Tập Diệt đế - Con dường diệt khổ |
|
5
... |
Lại vẫn còn Sai lầm khác
… |
Quay lại Khổ đế ở mức khác
… |
Ta thử phân tích và so sánh
kỹ hơn bảng trên:
Bước 1: Khổ đế nha một Sự
thật nhưng lại không phải “Sự thật tất yếu, không sửa chữa được”, mà đó
chỉ là một sự thật xảy ra trong tâm ta do hoàn cảnh tác động, gây đau
khổ cho ta cũng chỉ giống như một Sai lầm của nhân thức mà ta hoàn toàn
có thể sửa chữa được.
Bước 2: Sự thật này có nguyên
nhân của nó (Khổ Tập đế), mà khi ta hiểu ra như hiểu “nguyên nhân của
Sai lầm”.
Bước 3: Khi hiểu nguyên nhân
rồi ta sẽ loại trừ được nó (Khổ Tập Diệt đế) như việc sửa chữa nguyên
nhân Sai lầm.
Bước 4: Bước cuối cùng trong
chu trình này là ta lại tiếp tục sống và làm việc, hoạt động theo cách
đúng đắn với những nguyên nhân của Sai lầm đã được nhận ra một phần và
đã được sửa chữa một phần (Đạo Khổ Tập Diệt đế). Đến đây chu trình lại
quay lại từ đầu nhưng ở mức hoàn thiện hơn sau quá trình tu tập:
Bước 5- Đúng như những gì xảy
ra trong thực tiễn, Sai lầm là có, tuy nhiên chưa thể dễ dàng nhận ra
được hết nó, và cũng chưa thể sửa chữa hết ngay những sai lầm đã hiểu
nguyên nhân, nên trong quá trình sửa chữa ta lại vẫn còn có Sai lầm
khác… cứ thế bước 5 này chính là quay lại bước 1 ở mức hoàn thiện cao
hơn mà thôi.
Phân tích đến đây, tôi nhớ
lại đoạn văn tả lại giây phút Phật thành đạo trong cuốn “Đường xưa mấy
trắng” (tác giả Thích Nhất Hạnh): vào một buổi sáng bình minh, sau
49 ngày đêm ngồi thiền dưới gốc cây Bồ đề cổ thụ, Siddhatta (tên của
Phật lúc đó) bừng mở mắt và chợt thấy “sao Mai hiện ra như một ngôi sao
mới, chói sáng và lấp lánh mừng vui như nụ cười giác ngộ. Ông sững nhìn
ngôi sao Mai rồi buột miệng lên tiếng: “Lạ thay, tất cả mọi chúng sanh
đều có sẵn hạt giống của trí tuệ giác ngộ trong lòng. Vậy mà trong ngàn
muôn ức kiếp cứ để cho tự mình lặn ngụp trong biển sinh tử khổ đau thật
đáng thương”. Siddhatta biết rằng đạo lớn đã được tìm ra, và hoài bão
lớn của ông đã đạt được với một tâm hồn an lạc thư thái…”
Ngay ở chỗ này mà tôi chợt
nhận ra một điều, Phật cũng chính là một nhà khoa học, một nhà khoa học
tâm linh vĩ đại. Bằng công trình thực nghiệm thiền quán 49 ngày đêm
(trên chính bản thân mình), Phật là người đầu tiên nhận ra một chân lý,
như một phát minh vĩ đại trong lịch sử nhân loạt thuộc lĩnh vực khoa học
nhân văn: “Tất cả mọi người đều có sẵn hạt giống của trí tuệ giác ngộ
trong lòng”.
Phật gọi hạt giống của trí
tuệ giác ngộ là Giác tính, còn ngày nay chúng ta thường còn gọi là “Phật
tính”. Và các phương pháp mà Phật dạy truyền cho chúng ta nhằm tự tu tập
để tiến tới giác ngộ và giải thoát là “Phập pháp”. Điều này giống như
trong khoa học, người ta gọi bảng tuần hoàn của các nguyên tố là bản
tuần hoàn Meldeleev theo tên nhà hóa học lỗi lạc Dmitri Ivannovich
Mendeleev đã phát minh ra nó hay như Lý thuyết tương đối Einstein theo
tên nhà vật lý vĩ đại Albert Einstein đã viết ra nó…
Nhận ra Giác tính trong tâm
mình và cùng lúc trong mọi chúng sinh, ngài không dừng ở việc nhận biết
cái khổ của nhân loại (Khổ đế), ngài đẩy xa hơn ánh sáng trí tuệ của mìn
tới việc tìm ra nguyên nhân đau khổ. Vâng, đây là một logic tất yếu sau
khi ta coi Khổ đế là một sai lầm của nhận thức. Vì thấy sự đau khổ đó là
do Sai lầm nên Ngài quan sát sâu sắc cái sai lầm dưới cá nhìn thiền quán
và đã bước sang Thấu hiểu sai lầm, mà ngài gọi là Tập đế (Khổ tập đế).
Tìm được nguyên nhân của đau
khổ rồi ngài lại tìm ra phương pháp, pháp môn tu tập để dứt trừ nguyên
nhân đau khổ. Nếu Khổ tập đế là hiểu cái sai lầm, thì theo sự so sánh
như trên ta thấy ngài bước tiếp một bước nữa sang sửa cái sai lầm, mà
ngài gọi là Diệu đế (Khổ tập diệt đế).
Diệt xong khổ, ngài còn tìm
và chỉ ra con đường cho mọi người đi tới cảnh giới hạnh phúc, an vui
vĩnh cửu, ngài gọi là Đạo đế (Khổ tập diệt đạo đế). Đây chính là bước
cuôci cùng thử sau khi sửa sai lầm.
Vấn đề khi ta áp dụng tứ đoạn
luận pháp chính là tính lặp lại theo chu kỳ đi lên. Tức là sau khi Thử
sau khi sửa sai lầm ta thường không đạt được cái đúng ngay. Tương tự, ở
đây trong quá trình tu tập Đạo đế ta chưa thể đạt được sự an lạc thảnh
thơi hoàn toàn, có nghĩa là ta vẫn còn ít nhiều cái khổ. Nói cách khác
ta vẫn còn cái sai lầm. Nhưng cái sai lầm này (ở bước 5) đã khác hơn cái
sai lầm trước đó (ở bước 1) ở chỗ sai ít hơn hoặc sai dễ sửa hơn, và ta
hãy yên tâm là mình đang tiến dần đến mục tiêu hơn qua mỗi chu trình
thực tập.
Việc so sánh Tứ diệu đế với
Phương pháp luận khoa học như trên còn giúp tôi nhận thức ra một sự thật
quan trọng nữa: Khoa học và Đạo học chân thực là hai con đường nhận thức
cơ bản của loài người, quyện hòa với nhau, bổ sung cho nhau nhằm đưa
nhan loại vượt thoát hết mọi phiền não và khổ đau của sinh tử luân hồi
đạt tới mục tiêu cao quý là sự giác ngộ Chân lý, và sống An lạc, Hạnh
phúc ngay tại cuộc đời này.
Đơn thuốc của Đạo
Phật trong thời kinh tế thị trường, Chủ nghĩa Tư bản
|
Các bước |
Nguyên tắc hướng dẫn |
Tứ Diệu Đế |
|
1 |
Cuộc đời có đau khổ:
- Chủ nghĩa tiêu thụ thái quá
- Ảo tưởng, hoang đường về thịnh vượng, hạnh phúc, trường tồn
- Thiếu giá trị dẫn dắt, trừ lòng tham
- Sự hung hăng, gây hấn, lòng tham, thù hận và vô mình
|
Khổ đế - những sự khổ
Gồm tất cả những cảm giác, kinh nghiệm không vừa ý về vật chất
(đau ốm, thất nghiệp, cháy nhà, phá sản) và về tinh thần (ảo
tưởng, chán nản, lo lắng, thương tiếc). Chúng lúc phát sinh, lúc
biến đi – vô minh. |
|
2 |
Nguyên nhân cuộc đời đau khổ là Ham muốn và Vướng
mắc:
- Lòng tham: không vao giờ biết đủ, thiếu vắng niềm tin làm cho
đau khổ
- Cạnh tranh không giới hạn
- Mọi cái không sinh lời đều đáng vứt bỏ
- Giả định không lành mạnh: chấp nhận lòng tham, hận thù và thỏa
mãn cá nhân; không chấp nhận luật nhân quả |
Khổ Tập đế - hiểu nguyên nhân của khổ
Tam độc là nguyên nhân của đau khổ cho ta và cho người khác:
1. Tham (lòng tham, ham muốn, quyến luyến).
2. Sân (giận dữ, ghét bỏ)
3. Si (vô minh, mê mờ, ngu dốt) |
|
3 |
Sửa nguyên nhân sai lầm
- Các mối quan hệ công bằng phụ thuộc, tin cậy lẫn nhau
- Sự hợp tác không ích kỷ
- Các hành động dựa trên ý nghĩ và ý định tích cực
- Hạnh phúc là sự ưu tiên |
Khổ Tập Diệt đế - Tìm phương pháp diệt khổ
Giải thoát khỏi đau khổ - vô minh bằng cách nhận rằng tích lũy
vật chất, của cải chẳng có ích lợi gì cho cuộc sống tinh thần
của ta. Việc bám víu vào đau khổ và giải thoát ta khỏi vòng luân
hồi của ham muốn là kết quả của ý nghĩa và hành đọng của chúng
ta. |
|
4 |
Thoát khỏi đau khổ: Sau khi Sửa nguyên nhân sai
lầm
- Tuân đúng luật Nhân quả (nhận thức được mọi hành động đều có
hậu quả của nó)
- Trí tuệ: hành động theo giá trị chung, xây dựng với vô thường
- Giảm những bấu víu, tích cực đóng vào sự cân bằng và hòa hợp
chung; phù hợp với tầm nhìn xã hội
- Phát triển tâm linh, tinh thần
- Lợi nhuận và hạnh phúc là bình đẳng với nhau
- Làm việc có trách nhiệm với sản phẩm và dịch vụ
- Tạo nên xã hội tốt đẹp hơn là trách nhiệm xã hội |
Đạo Khổ Tập Diệt đế - Con đường diệt khổ.
Bát Chánh đạo là con đường thoát đau khổ và ham muốn.
1. Chánh kiến: có hiểu biết chân chính
2. Chánh tư duy: tư duy lành mạnh, khước từ tham vọng, ý định
thiện chí và không gây hại
3. Chánh ngữ: ngôn ngữ luôn bắt nguồn từ tâm (trung thực, không
làm tổn hại, không xúc phạm, không lăng mạ, tránh chuyện tầm
phào)
4. Chánh nghiệp: hành động dựa trên chánh tư duy, đạt kết quả
không gây hại.
5. Chánh mạng: kiếm sống đúng luật, có đạo đức và phẩm hạnh
6. Chánh tinh tấn: từ tốn, chậm rãi, tránh những trạng thái tiêu
cực cho tâm
7. Chánh niệm: hiểu rõ cách sử dụng tâm để rèn tâm sắc bén như
một kỹ năng sống
8. Chánh định: sử dụng tâm để có những lựa chọn và quyết định
khôn ngoan |
|
5 |
Lại vẫn còn Sai lầm khác
… |
Quay lại Khổ đế ở mức khác
… |
Nguồn:
Tạp chí Phật Học
(cùng một tác giả)
----o0o----
Cập nhật: 22-01-2012