Lịch sử Phật Giáo
Ấn Độ
Pháp sư
Thánh Nghiêm
Thích Tâm Trí
dịch
---o0o---
CHƯƠNG I. NGUỒN GỐC
TIẾT I: ẤN ĐỘ VÀ
DÂN CHÚNG
- Hoàn cảnh:
Toàn cõi Ấn Độ là
một đại lục, và cũng là một bán đảo. Bắc Ấn Độ được che chắn bởi sơn
mạch lớn nhất thế giới, đó là dải Hy Mã Lạp Nhã Sơn (Himalayas), ngoài
ra còn có dải sơn mạch Khách Lạp Côn Lôn và sơn mạch Hưng Đô Khố Tư, hai
sơn hệ này tiếp giáp với Tây Tạng, Tây Khương và Vân Nam của Trung Quốc.
Tây bắc Ấn Độ (Afghanista), đông Ấn Độ lấy Miến Điện làm phân giới; tây
Ấn Độ là biển A Lạp Baù,
đông Ấn Độ là vịnh Mãnh Gia Lạp (Bengal), phía cực nam của Ấn Độ là mũi
Khoa Mạt Lâm, có eo biển Bảo Khắc nhìn thẳng sang Tích Lan (Sri-Lanka),
phía nam Tích Lan là Ấn Độ dương. Nhìn về hướng bắc thì Ấn Độ là một đại
lục, nhìn theo hướng nam thì Ấn Độ là một bán đảo. Phía cực nam của Ấn
Độ thì nhỏ và nhọn, phía cực bắc thì thoáng rộng; về mặt địa lý hình
thể, Ấn Độ giống như một hình tam giác khổng lồ.
- Địa lý:
Hiện tại, Ấn Độ
tính từ đông sang tây rộng 1.360 dậm Anh, tính từ nam ra bắc, Ấn Độ có
chiều dài là 1.800 dậm Anh. Ấn Độ có bờ biển dài 3.000 dậm Anh. Tổng
diện tích của Ấn Độ chiếm một phần năm diện tích toàn cầu, ngang bằng
diện tích toàn cõi châu Âu (trừ nước Nga). Tính từ biên cảnh giáp với Ba
Cơ Tư (Pakistan), tính thuộc tây bộ, thì Ấn Độ ở vào 62 độ kinh đông,
tính từ đông bộ A Tát Mật, thì Ấn Độ ở vào 93 độ kinh đông, bề rộng của
Ấn Độ chiếm 31 kinh độ. Tính từ Khách Thập Mể Nhĩ ở phương bắc, thì Ấn
Độ ở vào 37 bắc vĩ độ, và ở sát bắc vĩ độ 7, cận kề đảo quốc Tích Lan.
Chiều dài vĩ độ cũng ước khoảng 31 độ. Hơi gần với vĩ độ 25, ở phía bắc
Ấn Độ là một địa khu rất rộng, đại bộ phận vị trí của địa khu này chạy
theo tuyến bắc nam; do đó, phần lớn đại lục Ấn Độ thuộc khí hậu nhiệt
đới, một phần nhỏ thuộc ôn đới.
Địa vực Ấn Độ,
hiện có thể chia thành ba địa khu lớn.
1. Núi Ha Mã Lạp
Nhã và qua quan ải của địa khu này:
Bắc khởi từ A Phú
Hản, đông đến tỉnh A Tát Mật. Ở tây bộ Ấn Độ có rất nhiều quan ải, nhưng
quan ải Cơ Nhĩ Cập (Gilgrit) và quan ải Bạch hạ Ngỏa (Pehawar) có giá
trị vô cùng lớn về mặt quân sự, hai cửa ải này tiếp giáp với Trung Quốc,
Tô Liên và A Phú Hản, ngày nay hai quan ải này thuộc về nội cảnh của
nước Pakistan. Quốc gia Ấn Độ vốn nhờ sơn thủy che chắn, bao bọc, đáng
được gọi là “Thế ngoại đào nguyên”. Dù vậy, nhưng qua nhiều đời, Ấn Độ
luôn bị các ngoại tộc xâm nhập, và tất cả đều phải vượt qua các quan ải
này mới đến được Ấn Độ.
2. Địa khu thuộc
lưu vực Ấn hà và Hằng hà.
Do Ấn hà và Hằng
hà đều nằm dưới chân dải Hy Mã Lạp Nhã Sơn tạo thành một thung lung bình
nguyên có chiều dài ước khoảng hai nghìn dậm Anh, và rộng khoảng hai
trăm dậm Anh. Chính khu vực bình nguyên này là nơi đã sản sinh ra nền
văn hóa Ấn Độ rực rỡ. Có thể chia lưu vực bình nguyên này thành hai
phần: Một, là lấy phía tây của lưu vực Ấn hà làm trung tâm cho khu vực
ngũ hà; đây là khu vực dồi dào về thủy lợi, đất đai phì nhiêu màu mỡ, và
khí hậu ôn hòa, rất thích hợp cho việc canh nông và chăn nuôi. Ấn Độ hà
chảy ra cửa biển A Lạp Bá; ở vùng thượng du có rất nhiều chi lưu đồ vào
Ấn Độ hà. Nhưng chỉ có khu vực Ngũ hà là dân cư đông đúc nhất. Băng Giá
Phổ (Bãnjàb) là tên tỉnh lỵ, còn Ngũ (Pãnj) Hà (àb) là lấy từ cổ ngữ Ba
Tư. Nên gọi Ấn Độ là do chữ Ấn Độ Hà (Indus) mà ra, gọi chung là Tín độ
(Sindhu). Chữ Sindhu là chỉ cho nước hoặc biển. Buổi đầu chữ này được
dùng để chỉ lưu vực Ấn Độ hà, về sau được dùng để chỉ cho toàn Ấn. Hai,
lấy bình nguyên ở đông nam sông Hằng làm trung tâm. Sông Hằng phát
nguyên từ Tuyết Sơn, trên đường đổ ra biển Mãnh Gia Lạp, sông Hằng có vô
số chi lưu chảy vào, tạo thành vùng bình nguyên vô cùng rộng lớn ở hai
bên bờ. Chi lưu lớn nhất của sông Hằng là sông Diêm Mâu Na (Yamuna), nằm
ở khu vực thượng lưu sông Yamuna là sông Tát Đặt Lôi Trì (Sutlej), đây
là khu vực thuộc địa phương Kuruksetra và là vùng đất trung tâm của nền
văn minh Bà La Môn. Bà La Môn là cách gọi của Trung Quốc để chỉ vùng
Madhy adésa, vì thế khu vực này còn được gọi là bang Nhã Lợi An
(Aryararta). Phật giáo là cách xưng hô của Trung Quốc để chỉ địa phương
Ma Kiệt Đà nằm giữa lưu vực sông Hằng. Ba, là cao nguyên Đức Can: cao
nguyên này ở về phái nam sông Hằng; có thể chia ra như sau:
a) Cao nguyên
Trung Anh, đây là cao nguyên khởi phát từ núi Tần Lê Da và núi Tát Ba La
hai núi này chạy đến tận Ấn Độ dương, gồm cả dải đất thuộc biển Mãnh Gia
Lạp và biển A Lạp Bá.
b) Bờ biển phía
đông của địa khu này rất thuận lợi cho việc trồng trọt, cày cấy.
c) Bờ biển phía
tây của địa khu này thuận tiện cho việc thương mại và công nghiệp.
d) Thời hiện đại,
thì khu địa này nằm về cực nam của bán đảo Ấn Độ và có giá trị cực lớn
về quốc phòng.
- Nhân chủng:
Nếu phân biệt tỉ
mỉ, thì Ấn Độ ước có đến hàng trăm chủng tộc. Có thể nói trên thế giới,
Ấn Độ là nước có nhiều giống người nhất. Ấn Độ còn là vùng đất có nền
văn hóa cổ rất phát đạt. Trước khi tộc người Arya đến được Ấn Độ, thì
khoảng năm nghìn năm trước Ấn Độ đã có nền văn hóa rất cao và phát triển
ở khu vực Bàng Giá Phổ (tức Ngũ hà) và Tín Đức (Mahenjodaro), nền văn
hóa này so ra đòng thời với nền văn hóa Ai Cập và Ba Ti Côn. Nền văn hóa
cổ của Ấn Độ không phải là di tích của tộc người Aryan, mà do là do sau
này người Nhã Lợi An (Aryan) chinh phục khu vực đã có sẵn nền văn minh.
Đất nước Ấn Độ từ
xưa là địa khu mà không lúc nào không bị các dân tộc từ tây bắc xâm nhập
vào, sự xâm nhập đó giống như những làn sóng hết lớp này kế tiếp lớp
khác. Về thể chất và trình độ văn hóa mà xét, có thể chia dân Ấn thành
năm giống loại:
1. Giống người
Veddas:
Mà hậu duệ của họ
vẫn tồn tại đến ngày nay. Đây là giống người mà mãi đến nay vẫn còn giữ
gìn đầy đủ tướng mạo của giống người nguyên thỉ tối cổ của nhân loại. Họ
được phân bố ngự cư ở tận miền cực nam Ấn Độ. Giới học giả chuyên nguyên
cứu về giống người Veddas đều đồng ý rằng “đây là giống người cổ hiện
được tìm thấy trong các lớp hóa thạch”. Mặc dù vậy, họ vẫn là dân tộc
ngoại lai, hoặc có thể nói họ là một chi tộc đã xâm nhập vào Ấn Độ từ
rất sớm.
2. Giống người Đạt
La Duy Gia
(Đravidian):
Có khả năng đây là
tộc người mà năm nghìn năm trước họ đã sáng tạo và kiến lập nền văn minh
tại lưu vực Ấn Độ hà. Giống người Dravidian có nước da ngâm đen, thân
mình nhỏ và lùn, tóc nhiều và quăn, mặt hơi dài, mũi lớn hơi dẹt, mắt
đen. Có người ngỡ rằng người Dravidian đến từ vùng thượng du sông Tích
Nhĩ Đạt Lạp (Syrdaya) thuộc Thổ Nhĩ Kỳ. Sau khi xâm nhập Ấn Độ, việc đầu
tiên họ làm là có lẽ đánh đuổi tộc người Veddas xuống phương nam, và
chiếm lấy vùng bắc và trung bộ Ấn Độ làm địa bàn cư trú.
3. Giống người
Arya - Nhã Lợi An:
Giống người Aryan
có thân hình cao to, mặt vuông, tóc nhiều, mũi cao nhọn, mắt đen và màu
da giống sắc da người nam Âu. Về vùng đất phát tích của tộc người Aryan;
có người cho rằng tộc người này đến Ấn Độ từ giữa khu vực Á Tế Á. Còn về
nguồn gốc phát nguyên của tộc người Aryan ở địa xứ nào, đến nay người ta
không thể dựa vào bất kỳ căn cứ nào được cho là khả dĩ. Thời đại người
Aryan đến Ấn Độ, theo thuyết của Cổ Liên Uy (Grunwedel) thì tộc người
Aryan đến Ấn Độ hai nghìn năm trước công nguyên. Nhưng theo Fergusson,
thì người Aryan đã xâm nhập Ấn Độ từ ba nghìn năm trước công nguyên.
Ngoài ra, có vị tên là Ô Pháp Duy lại cho rằng tộc người Aryan đến Ấn Độ
khoảng một nghìn rưỡi năm trước công nguyên. Vấn dề này đã được các nhà
sử học, ngôn ngữ học và khảo cổ học đưa ra tranh luận từ rất lâu nhưng
chưa ngã ngũ. Tóm lại, tộc người Aryan đánh bại người Dravidian - tộc
người đã xâm nhập Ấn Độ từ trước đó - thu dụng một bộ phận người
Dravidian làm nô lệ, và đuổi một bộ phận người Dravidian khác chạy xuống
nam Ấn, rồi chiếm lấy địa bàn cư trú của người Dravidian làm nơi cư trú
cho tộc mình.
4. Người Hồi giáo:
Người Hồi giáo xâm
nhập vào bắc Ấn Độ khoảng thế kỷ mười hai sau công nguyên. Họ là tộc
người pha trộn giữa giống người Y Lãng và Thổ Nhĩ Kỳ; nhưng chủng tánh
Thổ Nhĩ Kỳ được bảo lưu nhiều hơn. Đây là giống người có thân hình cao
to, da trắng, mắt đen hoặc đục, râu cằm và ria mép rất dày, mũi nhỏ dài
và hơi thấp.
5. Người Mông Cổ:
Buổi đầu người
Mông Cổ xâm nhập vào tây bắc Ấn Độ. Đây là tộc người Mông thuộc họ Đại
Nguyệt Vương Khâu. Năm thứ hai mươi sáu trước công nguyên, họ tiêu diệt
vương triều gốc Hy Lạp, và sáng lập vương triều Quí Sương, trước đó tại
vùng tây bắc Ấn Độ đã có vua Di Lan Đà - người gốc Hy Lạp, từng mang đại
quân xâm chiếm Ấn thổ và kiến lập đô thị tại Xa Yết La. Họ Đại Nguyệt
vốn là một bộ lạc nhỏ ở vùng sơn cốc thuộc tỉnh Cam Túc - Trung Quốc. Về
mặt địa lý, theo sự phân bố các giống người Mông, thì tộc Đại Nguyệt là
giống người Mông ở tây Mông Cổ, thuộc bộ tộc Ách Cổ Đặc (Eleuts). Hiện
nay người ta gọi là người Mông Cổ, nhằm chỉ giống dân dã bị pha trộn
huyết chủng giữa các dân tộc người Mông Cổ, Tây Tạng, Đột Quyết, Y Lăng
và Miến Điện. Đây là giống người còn giữ nhiều thành phần của người
Trung Quốc. Họ định cư tở tây bắc Ấn Độ, họ có thân hình cao to, mũi hơi
nhỏ, có phần giống mũi người Y Lãng. Các tộc người Mông định cư ở Miến
Điện, ở tỉnh A Tát Mật, ở Mãnh Gia Lạp, ở Bất Đan, ở Tích Kim và Ni Bạc
Nhĩ đều có sắc da vàng, mặt trẹt, trông giống người Trung Quốc không
khác (Tư liệu nhân chủng học này được trích từ thiên hai của Chương II
và V, trong cuốn “Á Châu Chủng tộc địa lý” của Lý Học Tằng).
- Ngữ Văn:
Do Ấn Độ có quá
nhiều tộc người kế tiếp nhau xâm nhập vào Ấn thổ, và rồi các tộc người
này lại đồng hóa lẫn nhau qua việc thông hôn; do đó mà hình thành lớp
người bị pha trộn từ nhiều huyết chủng. Về tập quán sinh hoạt, tín
ngưỡng, tôn giáo cũng như sự cách trở về địa bàn cư trú. Thì Ấn Độ quả
là quốc gia phức tạp vào bậc nhất thế giới về lĩnh vực ngữ âm.
Nay xin lược chia
làm ba phần để trình bày:
1.
Ngôn ngữ Vệ Đà của
người Aryan thuộc cổ Ấn Độ. Ngôn ngữ Vệ Đà do quá trình tiến hóa mà
thành ra Phạn văn. Phạn văn với ngôn ngữ Ba Tư và Lạp Đinh là cùng một
ngữ hệ. Do diễn biến này khiến Ấn Độ sản sinh nhiều thứ ngữ văn.
2.
Thời Phật giáo
xuất hiện, ở thời này Phạn ngữ chưa phổ biến; thay vào đó các địa phương
của Ấn Độ vẫn chưa thống nhất là nên dùng ngữ văn nào làm phổ thông, thì
có sự xuất hiện chữ Sanskrit (Nhã ngữ). Đến thế kỷ thứ tư trước công
nguyên. Phạn văn đã qua bao lần cải cách mới đi đến phục hưng, và trở
thành văn tự cổ điển của Ấn Độ, được giới học giả chọn dùng. Về đại thể
thì Phạn ngữ tương cận với Nhã ngữ, và người Trung Quốc cho rằng Nhã ngữ
chính là Phạn ngữ.
Do thời cận đại
phát hiện ra văn tự được khắc trong các bia ký thuộc thời cổ đại của Ấn
Độ, nhờ đó mà suy diễn, đối chiếu với những dịch âm trong kinh Phật của
Trung Quốc cổ xưa để tìm hiểu xem đương thời đức Thích Tôn sử dụng ngôn
ngữ là ngôn ngữ nào, đến nay vẫn chưa thể xác định. Có nhiều khả năng đó
là ngôn ngữ được quần chúng sử dụng thông thường trong giao tiếp thường
nhật. Ngôn ngữ này chịu nhiều biến hóa để trở thành ngôn ngữ Ba Lị
(Pali). Ngày nay chỉ có Phật giáo Nam truyền là dùng tiếng Ba Lị; văn Ba
Lị được chép trong kinh, luật Phật giáo hiện còn không giữ được nguyên
trạng như thời Phật còn tại thế, và cũng không giống chữ ba lị của thời
A Dục. Vì nó đã qua nhiều biến cố mới thành. Nhưng rõ là Phạn ngữ được
dùng để viết kinh Phật là từ rất sớm. Đức Phật có thể là do tình cờ mà
sử dụng Nhã ngữ; trong khi các đệ tử Phật là dùng tiếng của địa phương
để truyền bá Phật giáo đi khắp nơi. Sau khi Phật nhập diệt, tại thành
Vương Xá (Ràjagrha) diễn ra cuộc kiết tập thánh điển lần thứ nhất, và
người ta đã dùng ngôn ngữ thông thường (hỗn thành tục ngữ) trong lần
kiết tập này. Sau này thì Phạn ngữ (Sanskrit) được phục hưng thì học giả
Phật giáo không ai là không sử dụng Phạn văn; thời gian gần đây tại Ni
Bạc Nhĩ (Nepal), Cao Xương, và Vũ Điền v.v... người ta phát hiện và khai
quật được kinh điển Phật giáo được viết bằng Phạn văn. Điều này cho thấy
không có gì phải nghi là những thánh điển Phật giáo được dịch ra Hán văn
đều do những nguyên bản Phạn văn.
3.
Phương diện địa
phương ngữ, Ấn Độ có hơn hai mươi hai ngôn ngữ. Nhưng ngữ văn chủ yếu
thì có mười ba thứ; hiện nay theo Hiến pháp Ấn Độ qui định, thì những
ngữ văn thông dụng gồm có: Ấn Độ ngữ, Ba Lị ngữ, Mãnh Gia Lạp ngữ, A Tát
Mật ngữ, Khách Thập Mễ Nhĩ ngữ, Bàng Giá Thổ ngữ, Lạp Cơ Thổ ngữ, Áo Lôi
Tát ngữ, Đặt Lỗ Cổ ngữ, Mã Lạp Đề ngữ, Thổ Lỗ ngữ, Mã Lạp Nhã Lạp ngữ,
Tích Lan ngữ.
Người dân Ấn
thường nhân vào việc người theo Hồi giáo, người theo Ấn giáo luôn xung
đột nhau, nhiều khi dẫn đến đổ máu, phần lớn là bên nào cũng muốn bảo vệ
tiếng nói của dân tộc mình, có lắm lúc nổ ra chiến tranh với nhau khiến
tình thế thêm phần rối ren.
TIẾT II: TÔN GIÁO
Ở ẤN ĐỘ.
Nhìn xuyên suốt
dòng lịch sử của đất nước Ấn Độ, người ta nhận thấy Ấn Độ là nơi phát
xuất tổ chức mọi mô hình tôn giáo của thế giới. Cũng giống như Hy Lạp
nơi mà từ thời xa xưa cho đến thời cận kim, luôn phát sinh những tư
tưởng triết học trọng yếu trong nền triết học tây phương. Cũng thế,
những tôn giáo và tư tưởng triết học của Ấn Độ từ trước giờ vẫn bảo trì
tính cách “nhất thể”, và chưa bao giờ tách khỏi mối quan hệ nhất thể để
tiến tới. Nền triết học tây phương phát sinh từ Hy Lạp và đạo Cơ Đốc
phát sinh từ Do Thái, từ thời cổ đại hai ảnh hưởng trên thường xung đột
nhau cho mãi đến thời trung cổ cả hai mới chịu điều hòa để rồi vào thời
cận đại lại phân ly; điều này hoàn toàn khác với nền triết học và tôn
giáo của Ấn Độ. (Phần tự luận của “Ấn Độ Triết Học và Tôn giáo Sử” do
Cao Nam Thuận - người Thái Lan và Mộc Thôn Thái Hiền người Nhật bản cùng
hiệp soạn).
- Tứ Vệ Đà.
Ấn Độ không những
là nước đa sắc tộc, mà còn là một nước đa tôn giáo. Nếu lấy tôn giáo của
người Aryan làm chính thống, thì Vệ Đà là nhất quán cả về tôn giáo lẫn
tư tưởng. Bà La Môn giáo mà trong kinh Phật thường đề cập đến ngày nay
gọi là Ấn Độ giáo, cả hai đều từ Vệ Đà mà ra cả.
Đại cương về nội
dung tứ Vệ Đà:
1. Lê Cu Vệ Đà:
gồm một
nghìn không trăm mười bảy bài Thánh ca dài ngắn khác nhau, được dùng
trong việc tế tự, chỉ chừng một một phần mười là có liên hệ đến thế tục,
chín phần còn lại là liên hệ đến tôn giáo; trọng yếu nhất là bài “Lễ
Kính Thái Dương Thần Ca”, bài Thánh ca này được các tăng lữ Bà La Môn
sáng chiều đọc tụng trong các lễ cầu nguyện. Thời đại thành lập nội dung
Lê Cu Vệ Đà là bất nhất. Chậm lắm nó cũng được biên tập trước công
nguyên một nghìn năm. Đây là bộ Vệ Đà duy nhất được dùng làm tư liệu để
khảo sát về trạng thái tối cổ của giống người Aryan.
2. Sa Ma Vệ Đà:
gồm một
nghìn năm trăm bốn mươi chín bài Thánh ca được các tăng lữ Bà La Môn
xương lên trong lễ “tửu tế”.
3. Dạ Nhu Vệ Đà:
về đại
thể thì Dạ Nhu Vệ Đà tương đồng với Sa Ma Vệ Đà, ấy là dạy cách thực
hành tế lễ phải như thế nào, nhưng bất đồng ở chỗ là trong đại bộ phận
của Lê Cu Vệ Đà thì Dạ Nhu Vệ Đà chưa xuất hiện lời tế thần sáng tạo độc
nhất và duy nhất.
4. A Thát Bà Vệ
Đà: về
nội dung chia làm hai mươi quyển, gồm bảy trăm ba mươi mốt bài Thánh ca.
A Thát Bà Vệ Đà nói về mối quan hệ giữa người Aryan với cư dân gốc tại
bản địa Ấn Độ sau khi hai bên có sự tiếp xúc qua lại và chịu sự hấp thụ
nhiều yếu tố tín ngưỡng của nhau mà hình thành; do đó A Thát Bà Vệ Đà
phần nhiều là thần chú và phép khống chế quỉ thần. Chỉ một số ít bài thơ
được dùng để ca tụng Thượng đế; vì vậy A Thát Bà Vệ Đà phần lớn mang sắc
thái mê tín.
- Bốn giai cấp:
Ba
đại cương lĩnh của Bà La Môn giáo. Một là chủ nghĩa thiên khải Vệ Đà,
hai là chủ nghĩa vạn năng tế tự, ba là chủ nghĩa Bà La Môn chí thượng.
Ba thứ chủ nghĩa
trên được coi là nét đặc sắc của thần giáo.
Vệ Đà là do sự
khải thị của Phạm thiên thượng đế, vì vậy nên Thành thánh là vô tượng;
cứ theo chỉ đạo của Vệ Đà mà thực hành tế tự thì không có gì là “bất
năng” cả. Khi tế tự thì cần phải đến tăng lữ Bà La Môn, vì thế nên Bà La
Môn là giai cấp chí thượng.
Thực thì chế độ
giai cấp chỉ xuất hiện khi tộc người Aryan đã xâm nhập Ấn Độ, và do thi
ca Vệ Đà cứ tăng dần nên nghi thức tế tự cũng theo đó tăng lên mới sản
sinh ra chức Tư tế chuyên lo việc tế tự. Tư tế có quyền lợi của tư tế
cho nên phải bảo vệ lợi ích của giới tính. Từ đó đưa đến chủ trương tế
tự phải thế tập (cha truyền con nối), hoặc người cùng giai cấp mới được
kế thừa. Nhân đó, giai cấp Tế tự cậy vào quyền uy của Thần thánh mà đề
ra bốn giai cấp.
1. Giai cấp Bà La
Môn:
Tôn giáo sư thuộc
giai cấp Tế ti, giai cấp Tế ti trải qua nhiều đời, con cháu họ càng lúc
càng đông nhân đấy mới hình thành một đại chủng tánh. Người của chủng
tánh này một khi được sinh ra là liền trở thành tăng lữ. Lúc tuổi già
vào rừng sống và sinh hoạt như người xuất gia (giai cấp Bà La Môn tự
chia đời con người làm bốn giai đoạn, một là giai đoạn nhi đồng giáo
dưỡng kỳ, hai là giai đoạn kết hôn và sinh hoạt gia đình, ba là giai
đoạn vào rừng sinh sống, và bốn là giai đoạn trốn đời ẩn tu).
2. Giai cấp Sát Đế
Lợi:
Là giai cấp vương
giả thuộc tộc người võ sĩ. Đây là giai cấp thống trị về mặt đối nội. Và
khống chế về mặt đối ngoại. Nhân đấy mà xuất hiện giai cấp “Võ nhân
chủng tánh”. Đây là giai cấp lấy võ nghệ làm thế tập mà hình thành nên
chức vụ chuyên về chiến sĩ. Chủng tánh võ nhân phải nhờ đến sự tế tự của
giai cấp Bà La Môn để được Thần hộ, vì vậy, họ ở vào giai cấp thứ hai.
3. Giái cấp Phệ
Xá:
Ngoài các Tế ti và
Võ sĩ, người Aryan còn có hạng người theo đuổi các nghề như: thương mại,
nông nghiệp và công nghệ, từ đó hình thành nên giai cấp thứ ba Phệ Xá.
4. Giai cấp Thủ Đà
La:
Đây là giống người
Đạt La Duy Gia (Dravidian); tộc người này xâm nhập Ấn Độ từ rất sớm và
họ là tộc người đầu tiên bị chinh phục bởi tộc người Aryan, và họ bị
biến thành giai cấp nô lệ tiện dân.
Trong bốn giai cấp
trên, chỉ có ba giai cấp là Bà La Môn, Sát Đế Lợi và Phệ Xá là được tụng
niệm Vệ Đà, được quyền tế tự. Sau khi chết cả ba giai cấp này sẽ được
tái sinh lại cõi nhân thế. Do đó, cả ba được gọi là “tái sinh tộc”; còn
chủng tộc Thủ Đà La do không phải là giống người Aryan, nên họ không
những không được quyền tụng niệm Vệ Đà và tế tự, mà họ cũng không có hy
vọng được tái sinh trở lại ở đời sau. Do đó, giai cấp Thủ Đà La còn gọi
là “nhất sinh tộc” (tộc người chỉ được sinh một lần). Khi tộc người Bà
La Môn chết thì chỉ cần bái Thần, tụng kinh là liền được trở về với Phạm
thiên - tức bản thể vũ trụ, và gọi là “đốn ngộ pháp”. Trong khi tộc
người Sát Đế Lợi và Phệ Xá thì ngoài việc tế tự và tụng kinh, họ cần
phải khổ luyện tu thiền mới được sinh về với Phạm Thiên (sau khi chết)
và gọi đó là “tiệm chứng pháp”.
- Tín ngưỡng Thần.
Không cần phải
nói, ai cũng biết tín ngưỡng thần của người Aryan đều căn cứ vào kinh Vệ
Đà. Lê Câu Vệ Đà chia vũ trụ thành ba giới là: thiên - không - địa, mỗi
giới có mười một vị thần, cộng có ba mươi ba thần. Kỳ thực, những thần
được cúng tế là rất nhiều, nhìn giống như đa thần giáo. Nhưng thường thì
họ chỉ nhắm vào vị thần chủ yếu để tán tụng, và luôn luôn dùng những câu
chữ rốt ráo nhất để hình dung; cho nên vị Thần chủ yếu không nhất thiết
là vị nào, mà tùy vào địa vị của Thần được nhắm đến. Đây là lý do khiến
có người gọi Bà La Môn giáo là “Giáo hoán Thần giáo” (Kathentheism),
bằng như dựa vào trạng thái chủ quan của người tin, thì hiển nhiên tín
ngưỡng của người Aryan là nhất thần giáo, và tôn giáo của họ được coi là
“đơn nhất thần giáo” (Henotheism) tức tôn giáo chỉ sùng bái một vị thần
trong số những vị thần.
Trên bình diện
thông thường, người Aryan cùng bái năm sức mạnh thiên nhiên mang tính
Thần cách, đó là Thái dương thần, Thiên thần, vũ Thần, Không khí thần và
Hỏa thần. Đặc biệt người Aryan rất sùng kính thần Ba Thê Na (Yaruna), và
thần lôi vũ là Nhân Đà La (Indra). Do vì họ đặc biệt sùng kính thần
Indra, nên người ta lấy tên vị thần này đạt tên nước là Ấn Độ - India,
Indian.
Thần của Vệ Đà
trước tiên là Thiên thần, Không thần rồi dần dà tiến đến Địa thần.
Nguyên Thỉ của thần trong Vệ Đà là thần Đặt Vưu Tư (Dyaus), thần Dyaus
trong Vệ Đà vời thần Zeus của Hy Lạp và thần Jupiter của La mã có cùng
ngữ căn dyu - Phất quang mà thành tên thần. Nghĩa là do sáng tỏ quang
minh mà hóa thành Thần. Thần Yaruna xuất hiện sớm hơn thần Indra, thần
Indra là sức mạnh của không giới, trong khi thần A Kỳ Ni (Agni) là vị
thần chủ yếu của Địa giới.
Bất luận là gì,
tuy thần trong Vệ Đà có nhiều nhưng mỗi khi lễ bái các Thần điều chắc
chắn là họ không thể quên vị Thần chủ tể của vũ trụ. Sở dĩ vậy, nên
trong Lê Câu Vệ Đà nói: “tuy nhiên, người đời có gọi vị thần của họ là
Indra, Mật Tư La (Mỉta là thần biểu trưng ân huệ của thái dương) hay
thần Varuna đi nữa. Kỳ thực cũng chỉ có một thần, chẳng qua là do các
thi nhân dùng nhiều danh xưng khác nhau để gọi đó thôi”. (tư liệu vừa
nêu được trích từ cuốn Ấn Độ Triết Học Tôn Giáo Sử, do Cao Nam Thuận -
người Thái Lan và Mộc Thôn Thái Hiền - người Nhật Bản cùng trước tác, và
Ấn Độ Thông Sử của Chu Tường Quang).
TIẾT III: TRIẾT
HỌC ẤN ĐỘ.
Theo cố tổng thống
Ấn Độ, bác sĩ Dr.S Radhakrishna viết trong cuốn Ấn Độ Triết Học, theo
đó thì sự phát triển của triết học Ấn Độ có thể chia thành bốn thời kỳ:
1. Thời kỳ Vệ Đà:
Khoảng một nghìn
năm trăm năm đến sáu trăm năm trước công nguyên, đây là thời phát sinh
rất nhiều Tu Đạo Viện, chủ nghĩa duy tâm của Ấn Độ được khai mở ở thời
kỳ này. Thời này trí thức con người còn trong trạng thái sơ kỳ, cho nên
tín ngưỡng mê tín cùng tư tưởng trí thức là hai đối cực tương tranh
nhau. Những bài tụng ca trong Vệ Đà phụ thuộc vào Phạm Thư (Bràhmana) và
Áo Nghĩa Thư (Upanisad), tức là được ghi chép thành công ở thời điểm
này.
2. Thời kỳ Sử thi:
Sử thi ở đây là
chỉ cho hai bộ trường thi La Ma Sở Hành Truyện (Ràmàyana) và Đại Chiến
Thi (Mahàbhàrata). Hai bộ trường thi này ra đời trước công nguyên sáu
trăm năm, và kéo dài đếnhai trăm năm sau công nguyên. Trong suốt thời
gian tám trăn năm đó được khởi đầu với Áo Nghĩa Thư (Upanisad) và kết
thúc bằng thời phát triển các phái triết học của Ấn Độ. Các tôn giáo
như: Kỳ Na giáo, Phật giáo, và các phái như: phái Tư Bà, phái Duy Tu Nô
(còn có tên là phái Tỳ Nửu Nô, hay Tỳ Thấp Nô), tất cả đều được thành
lập trong thời kỳ này. Sáu phái triết học của Ấn Độ xuất hiện đồng thời
với Phật giáo cũng vào thời gian này. Duy có điều thư tịch của sáu phái
triết học mãi về sau mới được viết thành văn.
3. Thời kỳ Kinh
Điển:
Đây là thời đại mà
học thuyết của các tông phái đều dùng văn tự để ghi chép thành kinh
điển, và được xảy ra sau công nguyên hai trăm năm. Trước đó giáo nghĩa
của các học thuyết nêu trên đều được truyền thừa bằng phương pháp truyền
khẩu.
4. Thời kỳ Chú Sớ:
Kinh điển thuộc
thời kỳ này khó mà phân tích một cách rạch ròi, nghiêm cách, nhân đấy
mới đưa đến việc chú giải, tức dùng tự nghĩa để tranh luận. Do đó, thời
kỳ này được coi là thời trọng văn tự hơn tư tưởng.
- Ba Đại Thánh Thư
của Ấn Độ.
Trong thời kỳ của
Mạn Trường Vệ Đà, nó bao hàm luôn thời đại Phạm thư. Thời gian của thời
đại này ước khoảng một nghìn năm đến năm, sáu trăm năm sau tây lịch.
“Tam đại cương lĩnh” của Bà La Môn giáo được tạo lập vào thời này với
các bản kinh gốc như: Lê Câu Vệ Đà, Sa Ma Vệ Đà và A Thát Bà Vệ Đà. Thời
ấy được biên soạn qua nhiều ghi chép. Chỉ có Da Nhu Vệ Đà mới mở ra tư
trào biên soạn theo thứ tự của thời đại Phạn thư. Phạn thư làm cho tư
trào về sách thần học được đầy đủ, thuần thục. Phạn thư ra sức phát huy
tính chất đặc biệt của Dạ Nhu Vệ Đà, đối với những gì liên quan đến việc
cúng tế thì nhất nhất phải đưa vào nhân duyên, cớ sự, lai lịch, và dùng
tản văn để giải thích tất cả.
Việc phân kỳ lịch
sử triết học Ấn Độ, thì Phạn thư và Áo Nghĩa Thư được liẹt vào thời kỳ
Vệ Đà. Ở đây chủ yếu giới thiệu ba đại thánh thư, trong đó thời kỳ Vệ Đà
chiếm hai phần. Nay xin phân ra như sau:
1. Kinh Vệ Đà:
Tức tập gốc của
bốn thứ Vệ Đà. Triết học Vệ Đà được khai xuát ở cuối phần Dạ Nhu Vệ Đà,
do xưa nay việc sùng bái các tự nhiên là vì hoài nghi, rồi từ những vị
thần tự nhiên mà lập thành một nguyên lý tối cao, duy nhất, trước giờ
vẫn chưa có danh xưng nào được dành cho một vị thần độc lập nào, đến
thời đại này mới thấy xuất hiện; từ trước vẫn chưa thấy đề cập đến việc
sáng tạo vũ trụ, đến thời này mới xuất hiện việc dùng một nguyên lý tối
cao, duy nhất và trừu tượng như là: Sinh chủ (Drajàpati), Tạo Nhất Thiết
Chủ (Visvakarman), Nguyên Nhân(2) (Purusu) v.v... Nhân đấy mới tạo thành
bản thể hữu tình và phi hữu tình. Và drồi vũ trụ cũng từ nguyên lý được
thống nhất này mà phát sinh, và được biểu đạt qua các thiên trong Lê Câu
Vệ Đà như: Vô Hữu Ca (Nàradàsiyà), Sinh Chủ Ca (Pràjapatya), Tạo Nhất
Thiết Ca (Visvakaraman Sùkta), Kỳ Đảo Chủ Ca (Brahmanasbath Sùkta) và
Nguyên Nhân Ca (Purusa Sùkta).
2. Áo Nghĩa Thư:
Áo Nghĩa Thư, tên
trong tiếng Phạn là Upa + Ni + Sad. Ghi chép lại gần giống như thành
ngữ, vì “ngồi gần” mà hiệp thành thành ngữ, ý nói giống như gan và mật
tương chiếu nhau như người ngồi đối diện vậy; mục đích của Áo Nghĩa Thư
là nhằm dạy những người chưa biết gì về giáo nghia bí mật. Về mặt hình
thức thì Áo Nghĩa Thư là sản vật chính thống của Bà La Môn giáo, nhưng
là một bộ phận của Phạn thư. Phạn thư là bộphận tối cổ của thời đại Vệ
Đà. Nó được sáng tác ít nhất là từ bảy trăm đến năm trăm năm trước công
nguyên. Sở dĩ vậy là do xu thế thời đại, trowc stiên là tư trào tự do tư
tưởng, tư trào này được cổ dộng bởi quyền lực của các bậc vương giả
đương thời. Do vì nội dung của tư trào tự do tư tưởng như mũi nhọn đâm
thẳng trào truyền thống. Có hai thứ tập bản Phạn thư; một là thứ năm
mươi hai bản, một nữa là thứ một trăm linh tám bản, và đều được gọi là
toàn tập. Cái đẹp của nội dung Phạn thư, như Thúc Bảo Hoa từng nói: “Ai
có được sách này, thì lúc sinh tiền lấy đó làm yên vui, sau khi chết
cũng lấy đó làm yên vui”. Như vậy cho thấy giá trị của Phạn thư là rất
cao. Về bản thể luận thì Phạn = Ngã, về hiện tượng luận thì Phạn là hiển
tướng, nhưng kết quả của ngã hoặc là luân hồi, hoặc là giải thoát; đây
là điều mới mẻ và hết sức thâm thúy. Đối với tư tưởng triết học Ấn Độ
thì tư tưởng này mở ra manh mối cực lớn.
Áo Nghĩa Thư và
thời đại của đức Phật tuy liên tục nhưng đức Phật lại không hay biết gì
về sự có mặt của nó, đây là một nghi vấn khác lạ! Duy có điều là nội
dung Áo Nghĩa Thư được triển khai rất sáng tỏ, tựa hồ như đó là việc trở
thành thông thường. (Nguyên thỉ Phật giáo Tư Tưởng Luận của Kimura
Taiken). Có thuyết cho rằng Cơ Đốc giáo cũng chịu ảnh hưởng của Áo Nghĩa
Thư. (Ấn Độ Phát Kiến - của Ni Xích Lỗ).
3. Bạc Già Phạn Ca
(Bhagavad Gìtà):
Bạc Già Phạn Ca là
một bộ phận của Sử thi, là một đoạn từ chương hai mươi lăm đến chương
bớnmi hai của phẩm Tỳ Tu ma thuộc quyển thứ sáu của bộ Đại Chiến Thi.
Bhagavad Gita được sáng tác ước khoảng từ bốn trăm năm trước công
nguyên. Ở thời kỳ này Phật giáo chính tứhc dùng khí vận mới để phát
triển và áp đảo Bà La Môn giáo và giáo đoàn của họ. Khiến các học giả
của Vệ Đà kinh phải cậy đến tư tưởng của Áo Nghĩa Thư, bằng cách bình
dân hóa những bất hợp lý trong Bhagavad Gìtà, đồng thời điều hòa lại các
mâu thuẫn đã có từ trước, và làm cho lực lượng tăng lữ bllmgiáo tươi tắn
hơn và hướng về tân lộ - con đường mới.
Trải qua một thời
gian dài ngấm ngầm thuyển biến, kết cục Bà La Môn giáo được phục hưng và
chuyển thành Ấn Độ giáo, và giành lấy địa vị của Phật giáo, làm đại diện
cho quốc gia Ấn Độ. William Vonhumboldt cho rằng sự miêu tả trong Áo
Nghĩa Thư là “cực kỳ mỹ lệ, không rõ trong ngôn ngữ, có ngôn ngữ nào
mang tính triết học chân xác như trong thánh ca Áo Nghĩa Thư không?”. Và
theo Ni Xích Lỗ thì “sự tuyên thuyết của thánh ca không có tính cách
tông phái, hoặc giả tuyên thị cung cấp tư tưởng cho bất kỳ một học phái
nào (“Ấn Độ Đích Phật Kiến” - của Ni Xích Lỗ). Với tín đồ Ấn Độ, thánh
ca này là “tâm mục” trọng yếu của họ nó giống như “Tân Ước” đối với tín
đồ Cưo Đốc giáo vậy.
- Sáu Phái Triết
Học.
Sở dĩ gọi là sáu
phái triết học, bởi sáu phái này ra đời sau cuối thời kỳ Sử Thi. Sáu
phái triết học cùng với Phật giáo thời sơ kỳ là tương cận giai đoạn
triết học Bà La Môn giáo.
Tên gọi sáu phái
như sau:
1. Ni Dạ Da Phái -
The Nyàya School.
2. Tăng Khư Da
Phái - Sàmkhya School.
3. Tỳ Xá Ca Phái -
The Vaisesia School còn gọ là phái Thắng Luận.
4. Du - Già Phái -
The Yoga School.
5. Nhị Man Sai
Phái - the Mìmàmsà School.
6. Vệ Đàn Đa phái
- The Vedànta Shool.
Sáu phái trên
không những còn tồn tại tín ngưỡng Phạm thiên, mà còn thừa nhận giá trị
Vệ Đà. Chỉ có bốn phái trước là không dùng Vệ Đà căn cứ lập luận. Hai
phái sau lại dùng Vệ Đà làm căn cứ lập luận.
Do Áo Nghĩa Thư
kích phát mà ba học phái chủ yếu là phái Số Luận, phái Du Già và phái
Hữu Thần trở thành ba trào lưu. (Các học phái này vẫn lấy Phạm thiên làm
trung tâm, nhân đấy sản sinh ra Duy Tu Nô và Thấp Bà, tức tín ngưỡng về
Tự Tại Thiên). Phái Vệ Đàn Đà cũng thuộc chính hệ Áo Nghĩa Thư, nhưng
được thành lập có phần muộn hơn ba phái vừa nêu. So với đức Phật, không
như hiện nay phái Số Luận truyền Tăng Khư Da tụng. Tăng Khư Da tụng cùng
hệ tư tưởng với Áo Nghĩa Thư.nh lại nhnạ Phạn thư làm hệ tư tưởng triết
học cho phái Nhị Man Sai. Phái Thắng Luận, phái Ni Dạ Da. Ngoại trừ phái
Ni Dạ Da có quan hệ gián tiếp với Phạn thư, các phái còn lại so với đức
Phật, thì sự ra đời có muộn hơn. (Nguyên thỉ Phật giáo Tư Tưởng Luận,
của Kimura Taiken).
---o0o---
Vi tính: Nguyên Trang- Trình bày: Anna
Cập nhật: 01-11-2008