Khái Niệm Về
Bồ Tát Quán Thế Âm
(Lý Thuyết Và Thực Hành)
Thích Viên Trí
--- o0o ---
Chương Năm
Avalokitesvara: Trong Kinh
Tạng Phật Giáo Phát Triển
Như
chúng ta đã biết, Avalokitesvara (Quán Thế Âm) và Manjúsri (Văn Thù) là
hai vị Bồ Tát xuất hiện nhiều nhất trong hệ thống kinh điển của Phật giáo
Phát Triển (Bắc Truyền). Trong thực tế, hai Bồ Tát trên luôn chiếm vị trí
quan trọng trong triết lý Phật giáo Ðại thừa; nhưng để phụ vụ cho mục đích
của cuốn sách này, chúng ta chỉ chọn hai bộ kinh tiêu biểu để nghiên cứu:
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa (Saddharmapundarika) va Kinh A Di Ðà
(Sukhàvati-Vyùha). Lý do là vì, một mặt hai bộ kinh trên là mối quan tâm
và sở thích của quần chúng Phật tử khắp mọi nơi ngay từ khi chúng xuất
hiện. Mặt khác, kinh Pháp Hoa và kinh A Di Ðà cũng phản ảnh hai lập trường
tu tập khác nhau của giới Phật giáo, đó là khuynh hướng trí tuệ và khuynh
hướng tín ngưỡng.
Kinh
Diệu Pháp Liên Hoa ghi lại rằng nhân duyên lớn nhất để Ðức Phật xuất hiện
ra trong đời là khiến cho chúng sanh có thể mở toang tri kiến Phật của họ,
giúp cho chúng sanh thanh tịnh hóa tri kiến Phật ấy. Chư Phật xuất hiện ra
trong đời là để chỉ bày tri kiến Phật cho tất cả chúng sinh, và giúp cho
chúng sinh đi vào con đường dẫn đến tri kiến Phật ấy. Tất nhiên, tri kiến
Phật được đề cập ở đây chính là trí tuệ tức cái thấy biết như thật về Vô
ngã tính (Anattà) của các pháp, hay chứng ngộ giáo lý Duyên Khởi, Nhân
Duyên (Pràtityasamutpàda). Quả thật, bất cứ khi nào và bất cứ người nào
chứng đắc trí tuệ chân thật này, đồng thời vị ấy an trú trong sự thấy biết
tính bình đẳng của tất cả mọi sự mọi vật. Ðối với người ấy, khái niệm hay
ý niệm về chủ thể và khách thể hoàn toàn bị đoạn diệt, không còn hiện hữu.
Ở cấp độ chứng ngộ như thế, một cách tự nhiên, vị ấy giảng giải diệu pháp
vì lợi ích và hạnh phúc của tất cả chúng sanh mà không hề có một ý niệm
phân biệt. Trong thực tế, tất cả loài hữu tình đều hy vọng thoát ra vòng
sinh tử xuyên qua ‘cánh cửa trí tuệ’ như quan điểm của Kinh Diệu Pháp Liên
Hoa chủ trương. Ðiều ấy hàm nghĩa rằng con người phải tự nỗ lực tu tập
theo con đường Ðức Phật đã chỉ dày nhằm đạt đến mục tiêu cuối cùng. Có lẽ
vì điều này mà kinh Diệu Pháp Liên Hoa được biết đến như là Kinh Trí Tuệ
(The Book of Wisdom).
Trong
khi ấy, lý do khiến việc hành trì kinh A Di Ðà được gọi là “Phật giáo Niềm
Tin” hay Tín Ngưỡng là vì người ta tin tưởng rằng bất cứ chúng sinh nào
với ước muốn sinh vào ‘thế giới cực lạc’ (Sukhàvati-The Land of Bliss) do
Phật A Di Ðà (Amitàbha) chủ trì phải tuyệt đối chí thành đặt niềm tin của
mình vào Ngài. Nói cách khác, chúng sinh có thể giải thoát khỏi nghiệp lực
của mình bằng ‘cánh cửa niềm tin’. Nền tảng chính để tư tưởng “tha lực hay
được cứu độ” đặt cở sở dẫn đến luận cứ trên có thể tìm thấy trong đoạn đối
thoại giữa vua Milinda (Menandros-Di Lan Ðà) và ngài Nàgasena (Na Tiên)
qua tác phẩm “Nền Tảng Triết Học Phật Giáo” của Janjirò Takakusu.
Theo tác phẩm này, vua Milinda (vua người Hy Lạp trị vì xứ Sàgala vào
khoảng 115 trước Công nguyên) thắc mắc và vấn nạn rằng hẳn phải là điều
phi lý khi một người làm các nghiệp ác có thể được cứu độ nếu người ấy đặt
lòng tin vào đức Phật Amitàbha (A Di Ðà) vào khoảnh khắc cuối cùng của
cuộc đời. Ðể đáp lại nghi vấn đó, Tỷ kheo Nagàsena nói rằng hòn sỏi, mặc
dù nhỏ, sẽ không nổi trên mặt nước, nhưng ngay cả đá nặng hàng trăm tấn
nếu đặt trên chuyến thuyền cũng sẽ không chìm. Nagàsena còn khẳng định
thêm rằng có hai con đường để tiến vào Phật quả. Con đường thứ nhất thì
gian khổ, khó khăn (tức con đường tự lực, tự giải thoát); con đường thứ
hai dễ dàng và thuận lợi (tức con đường được cứu độ bằng tha lực). Tuy
nhiên, những cách trình bày và giải thích vừa đề cập ở trên nghe có vẻ
không rõ ràng và lỏng lẻo; chúng dường như không thực sự chuyển tải huyền
nghĩa chân thật của hai bộ kinh Diệu Pháp Liên Hoa và kinh A Di Ðà. Theo
thiển ý của tác giả, về mặt thực chất hai kinh này ắt phải có một mối liên
hệ chặt chẽ với nhau trong cả lãnh vực triết lý lẫn thực hành; do vì trong
Phật giáo niềm tin và trí tuệ không thể tách rời nhau mà tồn tại được như
ngài Nàgàrjuna (Long Thọ) đã bình luận.
Do đó, một số khảo luận sắp tới về nền tảng triết lý của hai kinh này hy
vọng sẽ mở ra một lối tư duy mới về kinh điển của Phật Giáo Phát Triển
(Mahàyàna).
Kinh Diệu
Pháp Liên Hoa
(Saddharmapundarika Sutra)
Vấn đề nguồn gốc và tác giả của kinh Diệu Pháp
Liên Hoa
Trước
hết, chúng ta cần phải xem xét sơ bộ một vài cứ liệu chính về lịch sử của
bộ kinh này. Trong thực tế, hầu hết các học giả đều nhất trí rằng kinh
Saddharmapundarika, một trong những bộ kinh quan trọng nhất của Phật giáo
Bắc Truyền hay Phát Triển, được biên soạn vào khoảng thế kỷ thứ nhất A.D.
Các bản dịch kinh Diệu Pháp Liên Hoa từ Sanskrit sang ngôn ngữ Trung Hoa
được tiến hành rất sớm, có thể vào năm 234 A.D; nhưng số dịch phẩm ấy
không còn dấu tích. Bộ Khai Nguyên Thích Giáo Lục (K’ai-yuan-shih-chao-lu)
do ngài Trí Sanh (Chih-sheng) biên soạn năm 730 A.D ghi lại rằng có tất cả
là sáu dịch bản trọn vẹn kinh Diệu Pháp Liên Hoa từ tiếng Sanskrit sang
ngôn ngữ Trung Hoa được thực hiện, và trong số đó ba bản hiện còn tồn tại.
Trong khi ấy, theo nghiên cứu của học giả B.Nanjio, có tất cả là tám hoặc
chín bản dịch bằng tiếng Trung Hoa, trong số ấy chỉ duy ba bản hiện còn
lưu hành. Ðó là: (1) Chánh Pháp Hoa Kinh (Cheng-fa-hua-ching) do ngài
Dharmaraksa dịch vào năm 286 AD, gồm 7 hoặc 10 tập với 27 chương; (2) Diệu
Pháp Liên Hoa Kinh (Miao-fa-lien-hua-ching) do ngài Kumàràjìva dịch vào
năm 383 hoặc 406 AD, gồm 7 tập và 27 chương, hoặc 8 tập 28 chương; và (3)
Thiêm Phẩm Diệu Pháp Liên Hoa Kinh (T’ien-pen-miao-lien-hua-ching) do ngài
Jnanagupta và Dharmagupta dịch vào năm 601 AD, gồm 7 tập 27 chương. Tuy
nhiên, trong lời tựa của bản dịch Anh Ngữ “Scripture of The Lotus Blossom
of The Fine Dharma”,
học giả Leon Hurvitz còn đề cập sự kiện cụ thể hơn liên quan đến thời gian
của các phiên bản Trung ngữ. Theo ý kiến của học giả này, các dịch bản
bằng Hoa ngữ của Kinh Diệu Pháp Liên Hoa được thực hiện một cách rõ ràng
và cụ thể trong các năm 255. AD, 286.AD, 290.AD, 335.AD, 406.AD. và
601.AD; trong số đó, chỉ có bản thứ ba, thứ năm và thứ sáu còn tồn tại.
Như thế, bên cạnh việc kinh Pháp Hoa được tin tưởng là đã phổ cập, một số
cứ liệu mang tính lịch sử vừa bàn luận ở trên có thể được xem là những
bằng chứng tiêu biểu liên quan đến nguồn gốc và sự phát triển của nó.
Nhìn
chung, người ta có thể nhận thấy rằng kinh Diệu Pháp Liên Hoa đã trải qua
một tiến trình dài để đi đến hoàn tất. Giới học giả thường có một lập luận
thống nhất là kinh này có hai phần chính: phần nguyên bản và phần bổ sung.
Theo ý kiến của Sir Chales Eliot, kinh Diệu Pháp Liên Hoa gồm hai phần;
phần thứ hai, tức phẩm thứ 25 và 26 là được thêm về sau.
Trong cùng cách suy nghĩ, Maurice Winternitz còn có ý kiến như sau: phẩm
nào không chứa đựng các bài kệ (gathà) là được bổ sung vào thời sau; chúng
gồm phẩm thứ 25 và 26. Trong khi ấy, học giả Nhật Bản Hajime Nakamura nói
rằng bản mẫu đầu tiên của kinh Diệu Pháp Liên Hoa mà hiện nay còn tồn tại
là được tạo ra trong khoảng thời gian của thế kỷ thứ nhất sau A.D, và bản
gốc bao gồm 27 phẩm rõ ràng đã xuất hiện trước năm 150 A.D. Bằng việc phân
tích chi tiết hơn, H. Nakamura nói thêm rằng 22 phẩm đầu của kinh đã tồn
tại trước năm 100 A.D. Ba chứng cứ sử liệu trên có lẽ đã minh họa toàn bộ
bức tranh về nền tảng lịch sử của kinh Saddharmapundarika mà qua đó chúng
ta có thể làm sáng tỏ vấn đề. Ðó là, nếu như kinh Saddharmapundarika (Diệu
Pháp Liên Hoa), hoặc những kinh khác của Phật Giáo Bắc Truyền (Mahàyàna),
ví dụ A Di Ðà (Sukhàvati-vyùha), Kinh Hoa Nghiêm (Avatamsaka) v.v...,
không phải do chính Ðức Phật thuyết mà chúng thật ra được biên soạn về
sau, vậy tại sao câu văn: “Tôi nghe như thế này” (tiếng Trung Hoa: Ju shih
wo wen; và Sanskrit: Evam mayà srutam), vốn chỉ có một mình tôn giả A Nan,
vị đệ tử thị giả thân tín và tận tụy nhất của bậc đạo sư, có quyền sử dụng
và được thừa nhận là hợp pháp, lại được biên tập ngay từ câu đầu của tất
cả các tác phẩm ấy? Bằng cách nào mà câu nói đó có thể được hiểu và chấp
nhận để phù hợp giáo lý của Ðức Phật như được ghi lại trong kinh tạng
Nikàya của Phật giáo Thượng Tọa Bộ? Rõ ràng chúng ta sẽ không dễ dàng gì
để có câu trả lời nhằm làm thỏa đáng vấn nạn như thế. Tuy nhiên, một số
giải thích gợi ý sau đây hy vọng là đáng được quan tâm. Gợi ý thứ nhất
là, giới triết gia xuất chúng của Phật giáo đã sáng tạo ra kinh Diệu Pháp
Liên Hoa để đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của giới tín đồ và nhằm duy trì sức
sống của Phật giáo trong khi phải đối mặt với sự đàn áp của các tôn giáo
hữu thần, đặc biệt là đạo Hindu (hậu thân của Bà la môn) trong khoảng cuối
thế kỷ thứ hai trước Công nguyên như đã nói trước đây. Với ngôn ngữ cập
nhật và cách giải thích mới về giáo lý, rõ ràng kinh Diệu Pháp Liên Hoa đã
thổi một luồng không khí tươi mát và sống động vào trong thế giới Phật
giáo thời bấy giờ. Tuy nhiên, các sản phẩm trên thật sự được mô phỏng và
phát triển từ chính tư tưởng và lời dạy của Ðức Phật. Do vậy, giới biên
tác ẩn danh không dám đề tên của họ như là tác giả của số kinh ấy. Ðề nghị
thứ hai là như vầy, các bậc thầy biên soạn kinh Pháp Hoa chắc chắn rất
thiện xảo trong phương diện tâm lý, bởi vì họ nhận thức được rằng kinh
Pháp Hoa chắc chắn sẽ được đón chào nồng nhiệt, kính trọng và tin tưởng
nếu như được tuyên bố là do chính Ðức Phật thuyết giảng. Quả thật, kinh
này đã được Phật giáo đồ ở mọi nơi, mọi thời gian tôn sùng, và tu tập. Gợi
ý sau cùng nhưng có ý nghĩa rất lớn là, theo truyền thống của Phật giáo
Bắc Truyền (Mahàyàna), một bản kinh được chấp nhận là kinh và được liệt kê
vào trong danh sách Tam Tạng giáo điển (Tripitaka) của Phật giáo Bắc
Truyền bắt buộc phải thỏa mãn sáu điều kiện, và câu văn “Evam mayà satam”,
nghĩa là “Tôi nghe như thế này” (tiếng Trung Hoa: Như thị ngã văn) là điều
kiện quan trọng nhất trong chúng. Do vậy, tất cả kinh điển của Phật giáo
Phát Triển đều thuộc phải tuân thủ nguyên tắc trên, nghĩa là phải ứng dụng
mẫu thức “Evam mayà satam” (Tôi nghe như thế này) ở ngay phần đầu của
chúng, cho dù trong thực tế người ta biết rất rõ chúng được những bậc đạo
sư lỗi lạc của Phật giáo trước tác và biên soạn về sau.
Ðánh giá lại một số bình luận về phẩm thứ 24 của Kinh Pháp Hoa
Thứ đến,
theo ba nguồn sử liệu vừa đề cập ở trên, phẩm thứ 24, tức phẩm Phổ Môn
(P’u-men; Sandkrit: Sàmantamukhaparivartto Nàmà-valokitesvara
vikurvanà-nirrdesas Cartuvimsatmah) là được thêm vào về sau. Vậy có sự
miễn cưỡng hay lạc đề nào không trong công việc kết nối như thế? Là một
phẩm kinh được cho là tiêu biểu của trường phái Phật giáo tín ngưỡng, ý
nghĩa của Phẩm Phổ Môn này cần phải được hiểu như thế nào trong bộ kinh
Pháp Hoa để có thể vẫn tiêu biểu cho trường phái Phật giáo trí tuệ mà
không có sự chống đối lẫn nhau? Muốn đề nghị một giải pháp cho các vấn nạn
như thế, trước hết chúng ta cần phải bàn thảo phần kết cấu của bộ kinh.
Như đã nói trước đây, việc sáng tạo kinh Diệu Pháp Liên Hoa diễn ra là vì
nhu cầu của quần chúng Phật tử. Từ đó, nội dung của kinh hẳn phải được cấu
tạo để phù hợp với một số đòi hỏi bức thiết của bối cảnh lịch sử, ở đó
Phật giáo không còn là một tổ chứng thống nhất và vẹn toàn, mà là Phật
giáo của nhiều trường phái và bộ phái tư tưởng, thậm chí chống trái lẫn
nhau. Từ đây, người ta có giả thuyết rằng kinh Pháp Hoa được tạo ra nhằm
mục đích thống nhất các bộ phái Phật giáo trong lãnh vực tư tưởng lẫn hợp
nhất tổ chức tăng đoàn ở giai đoạn đó. Do vậy, phần bổ sung các chương,
phẩm về sau vào kinh Diệu Pháp Liên Hoa, hay chuyển đổi thứ tự các chương,
phẩm trong kinh có thể được thực hiện nhằm nối kết với định hướng vừa nói
ở trên.
Hiển nhiên rằng không thể có bất cứ sự lạc đề hay miễn cưỡng nào trong
việc thêm phần “Quán Thế Âm Bồ Tát” như là phẩm thứ 24 vào kinh Diệu Pháp
Liên Hoa, một tuyệt tác văn học của Phật giáo,
như là một vài học giả chủ trương. Song hành với cách suy nghĩ như thế, có
một khuyết điểm chung mà các học giả thường mắc phải. Nghĩa là giới nghiên
cứu thường rơi vào lỗi tự mâu thuẫn trong cách giải thích về kinh dẫn đến
hai quan điểm khác nhau: Một mặt, hầu hết học giả đều thừa nhận rằng tất
cả Bồ Tát chỉ là đức tính và đức hạnh của Ðức Phật lịch sử được nhân cách
hóa thành, do thế trong thực tế những vị Bồ Tát ấy không thật sự tồn tại.
Tuy nhiên, nếu chúng ta xem xét cách giải thích và bình luận của giới học
giả về giáo lý Bồ Tát, bằng cách này hay cách khác, tất cả Bồ Tát đều được
tán dương và tôn vinh như là thần thánh siêu phàm, và trong một vài trường
hợp, còn vượt trội hơn Ðức Phật Gotama trong lãnh vực từ bi và trí tuệ.
Nghĩa là các vị Bồ Tát này hiện hữu khắp mọi nơi và có thể cứu chúng sanh
khổ đau trong cuộc đời này với một số điều kiện. Nói khác đi, khuynh hướng
tư duy hiện nay liên hệ đến giáo lý Bồ Tát, đặc biệt là sự hiểu và nhận
thức về Bồ Tát Quán Thế Âm, không những dẫn đến sự ứng dụng, hành trì sai
lạc giữa cộng đồng Phật giáo như sự thật đang diễn ra, mà chiều hướng
trên, trong một cách nào đó, cũng khiến cho Phật giáo có vẻ tương tự Thiên
chúa giáo. Do vậy, khuynh hướng trên cần phải được gạn lọc lại trong tinh
thần giảng dạy của Ðức Thế Tôn. Nhằm để giải quyết sự mâu thuẫn nội tại
sâu sắc, và để soi sáng vai trò Bồ Tát Quán Thế Âm trong kinh Diệu Pháp
Liên Hoa, quan điểm tế nhị đó cần được xem xét và nghiên cứu lại chi tiết
và cẩn thận. Bằng việc làm như thế chúng ta có thể hy vọng giới thiệu được
một phương pháp giải thích và tu tập mới về Phẩm Phổ Môn mà không có bất
cứ sự chống trái nào giữa hai khuynh hướng tư tưởng Phật giáo “Phật giáo
Trí Tuệ và Phật giáo Tín Ngưỡng” như đã được chỉ ra ngang qua ý nghĩa của
Phẩm Phổ Môn (Cánh Cửa Phổ Quát hay Phổ Thông) của Kinh Diệu Pháp Liên
Hoa.
Tuy
nhiên, trước khi đi vào thảo luận khía cạnh triết lý ứng dụng của phẩm thứ
24 này, trước hết chúng ta cần phải bàn thảo một từ ngữ quan trọng “sự cứu
rỗi” hay “sự cứu độ” (salvation) mà hầu hết các học giả đã sử dụng nhằm
chỉ đến ý nghĩa chứng ngộ hay giải thoát trong Phật giáo, đồng thời nối
kết khái niệm ấy với tín ngưỡng Bồ Tát Avalokitesvara (Quán Thế Âm), xem
ngài như là vị thần đầy quyền uy và bất diệt thật sự, vốn đã đưa đến việc
ngộ nhận chung giữa cộng đồng Phật giáo cũng như trong hàng ngũ học giả.
Tại sao cần phải giải thích từ ngữ này rõ ràng, bởi vì từ ‘salovation’ (sự
cứu rỗi hay cứu độ) bao hàm hai ý nghĩa: đó là người cứu rỗi (cứu độ) và
người được cứu rỗi (được cứu độ). Từ đây, do ảnh hưởng lối tư duy quán
tính có nguồn từ tôn giáo và tín ngưỡng hữu thần, hoặc theo cách suy nghĩ
của người phương Tây, khuynh hướng giải thích thông thường lập tức xuất
hiện một cách máy móc qua việc ám chỉ rằng đấng cứu rỗi hay cứu độ là Bồ
Tát Avalokitesvara (Quán Thế Âm) tức người nghe tiếng cầu cứu của thế
gian), và người được cứu độ hay được cứu rỗi là chúng sanh khổ đau. Chúng
ra có thể nói một cách không do dự rằng tư tưởng như thế hoàn toàn đối
nghịch với lời dạy chân chính của Ðức Thế Tôn, vì trong Phật giáo, không
có bất cứ ai, bao gồm cả Ðức Phật, có năng lực hay uy quyền để cứu độ
người khác:
“Tự mình làm điều ác,
Tự mình làm nhiễm ô,
Tự mình ác không làm,
Tự mình làm thanh tịnh,
Tịnh, không tịnh tự mình,
Không ai thanh tịnh ai”
Quan
điểm này cũng là tư tưởng chủ đạo của “sự tự nỗ lực hay tự độ” trong kinh
Saddharma-pundarida (Diệu Pháp Liên Hoa), bởi vì, theo tinh thần giáo lý
cốt lõi của Pháp Hoa, “Chư Phật, các bậc đáng tôn kính, xuất hiện ra
trong đời là để giúp chúng sanh mở bày cánh cửa tri kiến Phật, và giúp cho
chúng sanh tự thanh tịnh hóa mình...”
Nói khác đi, khái niệm cứu rỗi hay cứu độ (salvation) chỉ có thể phù hợp
với giáo điều của các tôn giáo hữu thần, mà không hề có bất cứ sự tương
ứng nào với nội dung của giáo lý Phật giáo. Nó hoàn toàn xa lạ với Phật
giáo, và giới học giả Phật học cần phải tránh dùng nó để chỉ đến các cấp
độ giải thoát tâm linh của Phật giáo, vốn là thành quả của tự nỗ lực
và tự chứng đắc. Thay vào đó, các thuật ngữ liên hệ đến giải thoát
như “liberation, emancipation, deliverance” có lẽ thích hợp hơn
trong việc diễn tả những lãnh vực chứng ngộ tâm linh của Phật giáo.
Một ngộ
nhận nghiêm trọng thường thấy khác liên quan đến phẩm thứ 24 mà giới học
giả hay vướng mắc là việc lý giải 32 hoặc 33 thân tướng của Bồ Tát
Avalokitesvara (Quán Thế Âm). Ngang qua khuynh hướng bình luận phổ biến mà
các học giả đã giải thích, không có gì nghi ngờ về việc người ta có thể
tin tưởng rằng Bồ Tát Quá Thế Âm sẽ thị hiện ra một thân tướng cụ thể nào
đó trong 32 hoặc 33 thân nhằm để đáp ứng nhu cầu của chúng sanh đang khổ
đau, miễn là họ thỏa mãn các điều kiện thiết yếu sau: (1) đặt niềm tin
tuyệt đối vào Ngài, (2) thành kính niệm danh hiệu của Ngài. Bên cạnh ấy,
có một cách tư duy, giải thích khác về 32 hoặc 33 thân tướng khác nhau của
Bồ Tát Quán Thế Âm dường như đã đồng hóa Avalokitesvara (Quán Thế Âm) với
Bràhma (Phạm Thiên), vị thần sáng thế tối cao của đạo Hindu. Khuynh hướng
này thường xem danh hiệu Avalokitesvara chỉ là một tên gọi khác của
Bràham, được chuyển tải vào trong hệ thống giáo lý Phật giáo vì mục đích
duy trì sự sống còn cho Phật giáo trong thời kỳ phục hưng mãnh liệt của
đạo Hindu dưới sự bảo trợ của triều đại Sunga vào khoảng 25 năm cuối của
thế kỷ thứ hai trước Công nguyên. Do vậy, 32 hoặc 33 thân tướng biến hiện
của Bồ Tát Quán Thế Âm được nghĩ là không có gì khác với 32 hoặc 33 hiện
thân tướng ở cõi trời do Bràhmanism (đạo Bà la môn) chủ trương.
Hệ quả của việc làm ấy là đã khiến Bồ Tát Quán Thế Âm nổi lên như là đối
tượng lý tưởng cho việc thờ cúng, không những trong cộng đồng Phật giáo mà
còn phổ cập giữa tín đồ đạo Hindu. Trên cơ cở của một số dữ kiện đáng tin
và có tính thuyết phục được trích dẫn và phân tích dưới đây, chúng ta có
thể nói rằng ý tưởng và lối tư duy vừa nêu là một sự ngộ nhận nguy hiểm và
hoàn toàn đối lập với tinh thần giáo lý Bồ Tát.
Có lẽ
không cần thiết để đưa ra lời bình luận đối với cách suy nghĩ thứ nhất, vì
qua lời dạy của Ðức Phật trong kinh Pháp Cú được trích dẫn ở trên chiều
hướng ấy đã tự biểu lộ tính yếu kém. Tuy nhiên đối với khuynh hướng luận
thứ hai, trước hết chúng ta hãy đọc lại những lời dạy sau đây của Ðức Phật
trước khi đánh giá về nó. Kinh Tăng Chi Bộ ghi lại rằng:
“Này Bà
la môn, đối với những người chưa đoạn tận các lậu hoặc. Ta có thể là chư
Thiên, với các lậu hoặc đã đoạn tận, được chặn đứt từ gốc rễ, được là
thành như cây ta la, được làm cho không thể sanh khởi trong tương lai. Này
Bà la môn, đối với những người chưa đoạn tận các lậu hoặc, Ta có thể là
Càn thát bà, Ta có thể là Dạ xoa, Ta có thể là Người, với các lậu hoặc đã
đoạn tận, được chặt đứt từ gốc rễ, được làm thành như thân cây ta la, được
làm cho không thể hiện hữu, được làm cho không thể sanh khởi trong tương
lai. Ví như, này Bà la môn, bông sen xanh hay bông sen hồng, hay bông sen
trắng, sanh ra trong nước, lớn lên trong nước, vươn lên khỏi nước và đứng
thẳng không bị nước thấm ướt; cũng vậy, này Bà la môn, sanh ra trong đời,
lớn lên trong đời, Ta sống chinh phục đời, không bị đời thấm ướt. Này Bà
la môn, Ta là Phật, hãy như vậy thọ trì.”
Nhận xét
đầu tiên cần phải phân tích ngang qua lời dạy trên là nguồn gốc học thuyết
đa thân (nhiều thân tướng) của Bồ Tát Quán Thế Âm, vì trong thực tế khái
niệm đó rõ ràng là bắt nguồn từ kinh bộ Nikàya vừa đề cập, mà không phải
là kết quả của bản sao chép vụng về từ học thuyết đa thần mang tính giáo
điều của đạo Hindu. Lý do hỗ trợ ý kiến này hy vọng là hợp lý, bởi vì như
người ta đã biết, Phật quả hay “Ðức Phật” không phải là một đẳng cấp hay
một danh xưng độc quyền dùng để chỉ một người nào đó, ngay cả Ðức Thế Tôn
Sakyàmuni (Thích Ca Mâu Ni), mà đó là một hình dung từ được dùng để nhằm
chỉ những ai có thể đoạn trừ tất cả cấu uế, lậu hoặc (àvasas) không còn
chút dư tàn, và có thể chứng ngộ chân lý rồi giúp kẻ khác đi theo con
đường giác ngộ ấy như Thái tử Siddattha (Tất Ðạt Ða) đã làm. Nói khác đi,
bất cứ chúng sanh nào, có thể đó là chư thiên, loài người, dạ xoa, càn
thát bà hoặc bất cứ loài hữu tình gì, mà trong họ khát ái đã được nhổ tận
gốc, và tất cả phẩm chất cần phải có của bậc giác ngộ đã được hội đủ, đều
có khả năng trở thành Phật. Giải thích theo một cách khác, trong mọi chúng
sanh đều có tiềm tàng khả năng thành Phật; hay nếu chúng ta có thể nói, do
thành tựu trọn vẹn một số điều kiện tất yếu như sắp được bàn thảo dưới
đây, chủng tử Phật có thể biểu hiện trong hết thảy chúng sanh. Như thế,
nếu như con người có thể đạt đến vị trí của một Ðức Phật, vậy tại sao họ
không thể trở thành Quán Thế Âm (Avalokitesvara)? Thêm vào đó,
Avalokitesvara (Quán Thế Âm), như đã nói ở trước đây, chỉ là sự nhân cách
hóa của đức tánh trí tuệ và từ bi; do vậy hai tính chất này không chỉ biểu
hiện trong 32 hay 33 loại thân tướng như thường được hiểu và bàn luận, mà
từ bi và trí tuệ có thể hiện hữu trong tất cả hình tướng của mọi chúng
sanh ở khắp các thế giới. Lý do thật là đơn giản bởi vì hai đức tánh ấy là
năng lực nội tại để trở thành Phật, hay chủng tử Phật của mọi chúng sanh.
Những lời dạy sau đây của Ðức Phật trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa sẽ soi
sáng một cách rõ ràng luận cứ của chúng ta:
“Quán Âm Ðại Sĩ, đầy thần thông lực,
Ðầy tuệ giác lực, đầy phương tiện lực,
Cho nên khắp cả, mười phương thế giới,
Không đâu mà không biến thể xuất hiện.”
Do đó,
khái niệm về 32 hoặc 33 biến hiện thân của Bồ Tát Quán Thế Âm phải là sự
phát triển giáo lý có dụng ý của các triết gia Phật giáo. Khái niệm này
thực chất được phát triển từ lời dạy nguyên thủy của Ðức Phật nhằm vào mục
đích giúp Phật giáo có thể thiết lập được mối quan hệ với các tôn giáo hữu
thần đương đại, đặc biệt là đối với đạo Hindu, để đáp ứng nhu cầu và là
mối quan tâm khẩn thiết của tín đồ Phật giáo trong cùng thời gian. Tuy
thế, ý nghĩa ứng dụng mang tính triết học của nó dĩ nhiên phải bao hàm một
cái gì đó khác với tôn giáo hữu thần. Bởi vậy, ý kiến, hay tư tưởng nào
xem Bồ Tát Quán Thế Âm như là hiện thân thánh đạo Hindu phải được xem như
cách giải thích sai lạc về giáo lý Phật giáo và cần phải loại trừ mà không
đòi hỏi bất cứ bình luận nào.
Nội dung của phẩm Phổ Môn
Ý nghĩa biểu tượng của tựa đề phẩm 24 “Phổ
Môn”
Tuy
nhiên, tại đây người ta có thể thắc mắc tính hợp lý trong việc nối kết lời
dạy của kinh Tăng Chi (Anguttara Nikàya) với nội dung của kinh Diệu Pháp
Liên Hoa (Saddharmapundarika). Do vậy, mục đích của việc phân tích huyền
nghĩa ẩn chứa đằng sau tựa đề phẩm kinh thứ 24: “Cánh Cửa Phổ Quát hay Phổ
Thông” (Universal or General Gate) là để giải thích nghi ngờ đó. Ví dụ sau
đây sẽ mở đường cho lập luận của chúng ta: Nếu lối vào ra chính của một
ngôi nhà được gọi là cánh cửa chung hay phổ thông; cũng vậy, Phật giáo
cũng có một cánh cửa phổ thông hay phổ quát (Phổ Môn) cho bất cứ ai muốn
sử dụng năng tiềm tàng của mình để trở thành một vị Phật; và cánh cửa phổ
thông hay phổ quát dẫn đến mục tiêu sau cùng được biểu tượng hóa bằng danh
hiệu Quán Thế Âm (Avalokitesvara), tức sự nhân cách hóa đức tánh từ bi của
Ðức Phật. Ý nghĩa hơn thế nữa, theo học giả Har Dayal, một trong hai phần
hợp thành thuật ngữ ‘Avalokitesvara’, đó là avalokta, cũng có nghĩa là trí
tuệ (wisdom).
Sự gợi ý mang tính thử nghiệm trên thật sự có thể chuyển tải một mối quan
hệ hỗ tương và rất có ý nghĩa giữa hai yếu tố từ bi và trí tuệ, bởi vì
trong Phật giáo từ bi (karunà) và trí tuệ (prajnà) được xem là hai thành
tố của một nhân cách giác ngộ. Trí tuệ sinh khởi nhờ từ bi, và từ bi bắt
nguồn từ trí tuệ. Trong thực chất, hai chỉ là một. Giải thích theo ngôn
ngữ của học giả D.T Suzuki “...Nhưng điều khó khăn nhất trong việc nắm bắt
ý nghĩa ở đây là, từ bi (compassion) không thể tự tồn tại được, và từ bi
không thể hoạt động nếu không có trí tuệ... do vậy, tôi phải nêu lên một
vài lý do khiến các nhà Phật giáo Phát Triển (Mahàyàna) phối hợp từ bi và
trí tuệ và sự chứng ngộ”
Nói cách khác, từ bi và trí tuệ chính là chủng tử Phật của tất cả chúng
sanh. Toàn thiện hai đức tính này tất nhiên có nghĩa là sự chứng đắc Phật
quả. Tuy nhiên, theo phẩm thứ 24 của kinh Diệu Pháp Liên Hoa, phương pháp
tu tập gì sẽ đưa đến việc biểu hiện toàn vẹn từ bi và trí tuệ? Ðể trả lời
cho câu hỏi trên, có lẽ là hợp lý nếu chúng ta chia phẩm kinh 24 thành hai
phần triết lý chính để phân tích, vì nó có thể phản ảnh đầy đủ vai trò và
ý nghĩa của Bồ Tát Quán Thế Âm trong kinh Pháp Hoa.
Phần thứ
nhất của phẩm thứ 24 diễn tả những năng lực phi thường của Bồ Tát
Avalokitesvara (Quán Thế Âm) trong lãnh vực thần lực cứu độ chúng sanh
đang khổ đau nhằm để trả lời cho hai câu hỏi của Bồ Tát Vô Tận Ý (Infinite
Thought). Ðó là, (1) “Bạch Ðức Thế Tôn, vì
lý do gì mà Bồ Tát Avalokitesvara được gọi là Quán Thế Âm (Vị lắng nghe
tiếng khóc than của cuộc đời)”, và (2) “Bạch Ðức Thế Tôn, bằng phương tiện
gì mà Bồ Tát Avalokitesvara có thể đi khắp cõi Ta Bà? Và làm thế nào mà Bồ
Tát Avalokitesvara có thể giảng dạy Diệu Pháp cho chúng sanh?”
Trước
hết, chúng ta có thể nhận ra tư tưởng chủ đạo của phẩm kinh nằm ở danh
hiệu của Bồ Tát “Vô Tận ý” (Infinite Thoungt). Có lẽ không có gì sai lầm
khi chúng ta xác định như sau: Câu trả lời của Ðức Phật đối với các thắc
mắc của Bồ Tát Vô Tận Ý không phải nhắm đến sự ca ngợi những thần lực siêu
phàm của một thực thể có thật được gọi là Avalokitesvara (Quán Thế Âm), mà
việc trả lời ấy phải bao hàm một ý nghĩa biểu tượng. Nghĩa là Ðức Phật nêu
rõ chức năng tư duy không có thể diễn đạt (Vô Tận Ý hay Bất khả tư nghì –
Inexhausible Intent or Infinite Thoungt) được các tác phẩm chất diệu kỳ và
phi thường của từ bi và trí tuệ; vì nếu khác đi, kinh Saddharmapundarika
(Diệu Pháp Liên Hoa) có lẽ không khác gì với giáo lý của các tôn giáo hữu
thần. Tuy thế, tại đây người ta cũng có thể nêu ra một câu hỏi khác: dựa
trên nền tảng nào để chúng ta có thể đặt vấn đề như thế? Hy vọng mọi người
đều có thể nhất trí với nhau về sự thật rằng bất cứ lúc nào mặt trời xuất
hiện, bóng tối tự nhiên phải biến mất; và bất cứ lúc nào an lạc và hạnh
phúc được cảm nghiệm, các yếu tố đối lập của chúng hẳn nhiên không có chỗ
để tồn tại. Cũng tương tự như thế, khát ái, vô minh và sân hận, ba cội rễ
chính của khổ đau và phiền não, sẽ không có chỗ để trú ẩn khi trí tuệ hiện
hữu. Khi chân giải thoát đã hiển bày thì sự khao khát kiếm tìm nó, nghĩa
là tìm kiếm sự cứu giúp của Bồ Tát Avalokitesvara (Quán Thế Âm) tự nhiên
sẽ chấm dứt. Chúng ta sẽ đề cập đến vấn đề này chi tiết hơn trong phần hai
của chương này.
Phương pháp
tu tập của kinh Saddharma-pundarika
Kinh
Dharmamapada (Pháp Cú) ghi rằng:
“(Người không có trí tuệ thì không có
thiền,
(Người) không có thiền thì không có trí tuệ,
Ai có thiền định và trí tuệ,
Người ấy nhất định gần Niết Bàn”[17]
Trong
khi ấy, theo kinh Suranganma (Thủ Lăng Nghiêm Shou-leng-yen), một trong ba
kinh quan trọng liên hệ đến giáo lý Avalokitesvara (Quán Thế Âm), bất cứ
ai mong ước xây dựng được sự thông hội với vị Bồ Tát này đều phải thực
hành thiền định. Kinh Surranganma liệt kê ra danh sách về 14 năng lực vô
úy mà người ta có thể nhận được từ sự ban tặng của Bồ Tát Quán Thế Âm bằng
con đường duy nhất là thực hành các phương pháp thiền quán của Phật giáo.
Một số giải thích dưới đây của kinh Thủ Lăng Nghiêm sẽ minh họa nội dung
chính của 14 điểm nói trên. Theo lời dạy của kinh này.
“Trước
hết, bằng cách hướng dẫn và kiểm soát nhĩ căn trong quá trình thiền định,
giác quan này sẽ được tách khỏi đối tượng của nó, và rồi bằng việc loại
trừ âm thanh và con đường dẫn nhập âm thanh, cả việc quấy rối cũng như sự
tĩnh lặng đều trở nên không hiện hữu. Như thế, từng bước một hành giả đạt
đến việc loại trừ cả sự nghe và đối tượng của nó, tức âm thanh... Khi sự
tĩnh giác về trạng thái này và chính trạng thái này được nhận biết là
không hiện hữu, cả chủ thể lẫn đối tượng đều hòa nhập vào hư không (không
tánh hay vô ngã), sự giác tĩnh về chúng trở nên phổ quát hoàn toàn. Bằng
việc loại bỏ thêm nữa về không tánh, đối tượng của nó, bao gồm cả sự sáng
tạo và hoại diệt biến mất, con đường dẫn đến trạng thái Niết Bàn (Nirvàna)
tự hiện bày.”
Nói khác
đi, tư tưởng chỉ chủ đạo của đoạn kinh trên đã hướng dẫn người hành trì
thiền định nhắm đến sự nhận thức được bản chất thật của tất cả pháp; nghĩa
là sự nhận biết vô ngã về cả chủ thể lẫn đối tượng ngang qua 14 phương
pháp quán tưởng của thiền.
Rõ ràng, bất cứ khi nào chân lý được đạt đến, chính tự thân hành giả được
giải thoát sau cùng, cái được gọi là năng lực cứu khổ của Bồ Tát Quán Thế
Âm. Rất thú vị để lưu ý ở đây rằng, trong cùng cách tư duy, phẩm thứ 14
của kinh Diệu Pháp Liên Hoa cũng chỉ bày cách đón nhận lòng từ bi của Bồ
Tát Avalokitesvara ngang qua nội dung của đoạn kệ sau đây:
“Nhìn đúng sự thật, nhìn thật trong suốt,
Nhìn với tuệ giác, vô cùng vĩ đại,
Nhìn bằng đại bi, nhìn theo đại từ,
Nên hãy thường xuyên, nguyện cầu chiêm
ngưỡng”.[21]
Ðoạn
giáo lý vừa trích dẫn trên rõ ràng không có gì khác lắm với 14 phương pháp
thiền quán của kinh Surangama (Thủ Lăng Nghiêm) như vừa thạo luận. Nhưng
nhiều ý nghĩa hơn nữa trong bốn câu kệ ấy là vấn đề tuệ quán (quán tưởng
về trí tuệ) và từ bi quán (quán tưởng về tư bi) được cùng đề cập. Một cách
có chủ tâm, đó là một sự biểu thị nhắm chỉ đến bản chất của cái gọi là
Avalikitesvara hay bản tánh Phật (tức từ bi –‘karunà’ và trí tuệ -
‘prajnà’). Có lẽ đây là những điều được Ðức Phật mệnh danh là các khả năng
và uy lực siêu phàm của Bồ Tát Quán Thế Âm trong phần đầu của phẩm kinh
thứ 24,và rồi lại nhấn mạnh trong đoạn kế tiếp của phần hai:
“Tiếng cực tinh tế, tiếng nhìn vào đời,
Tiếng giống Phạm Thiên, tiếng như hải triều,
Tiếng hơn tất cả, cung bậc trong đời.
Nên hãy thường xuyên, chuyên tâm trì niệm”[22]
Nói một
cách chính xác sự hoàn thiện hai đặc quan trọng nhất này chính là sự chứng
ngộ giải thoát sau cùng, tức Niết Bàn (Nirvana). Ðể vấn đề trở nên rõ ràng
hơn, hy vọng chúng ta sẽ không lạc đề khi trình bày giáo lý Nhân Duyên
(Pràtityasamtpàda) ở đây. Theo giáo lý Phật giáo, sự sinh khởi của
Pràtityasamtpàda hay Nhân Duyên có nghĩa là toàn bộ khổ đau sinh khởi.
Ngược lại, sự chấm dứt của Pràtityasamtpàda đồng nghĩa với sự đoạn tận
toàn bổ khổ đau. Tuy vậy, Pràtityasamtpàda hay Nhân Duyên (Depandent
Organtization) chỉ là mẫu thức của một chuỗi mười hai yếu tố, bao gồm vô
minh, hành, thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sinh, lão
tử. Do đó, việc loại bỏ hoàn toàn không có tàn dư của một trong mười hai
yếu tố này có nghĩa là sự chấm dứt vòng sinh tử luân hồi. Trong hầu hết
kinh điển của Phật giáo Nam Truyền hay Thượng Tọa Bộ (Theravàda), khái ái
thường được định nghĩa là cội nguồn của khổ đau; vì vậy, sự chú tâm được
đặt hoàn toàn vào việc đoạn trừ khát ái. Trong khi ấy, theo quan điểm
triết lý của Phật giáo Bắc Truyền hay Phát Triết (Mahàyànà), lòng chấp thủ
(hay sự bám víu) là nguyên nhân chủ chốt của khổ đau. Bởi vậy, yếu tố cần
phải đoạn trừ là lòng chấp thủ. Như là hệ luận của tinh thần triết lý này,
giống các kinh khác của Phật giáo Phát Triển như Bát Nhã Ba La Mật
(Prajnàpàramità), Lăng Già Tâm Ấn (Lankàvatàra), v.v..., kinh Diệu Pháp
Liên Hoa (Saddharama-pundarika) cũng nhấn mạnh đến việc đoạn trừ chấp thủ.
Có lẽ sẽ không có gì tranh cãi khi người ta nói rằng bất cứ khi nào thực
tại vô ngã (anattà- no-self) được chứng đắc ngang qua công phu thiền quán,
lòng chấp thủ về cả chủ thể lẫn đối tượng hẳn nhiên không còn chỗ trú ẩn,
sẽ biến mất. Thật vậy, bất cứ ai thật sự chứng ngộ và chứng đắc chân lý
chắc hẳn sẽ không còn cảm nghiệm khổ đau, thậm chí ngay cả khái niệm về
khổ đau cũng không thể tồn tại trong tâm thức của người ấy. Ðây là ý nghĩa
của điều gọi là “trì địa - tức chấp thủ tâm” ở cuối phẩm thứ 24, khi Bồ
Tát Trì Ðịa từ chỗ ngồi đứng dậy ca ngợi công đức to lớn do nhờ nghe những
công việc thần diệu và thần thông siêu việt của Bồ Tát Quán Thế Âm. Dĩ
nhiên, Trì Ðịa Bồ Tát ở đây chỉ là sự biểu tượng hóa tâm thức của tất cả
chúng sanh, bởi vì bất cứ khi nào tâm thức của chúng sanh thực sự hiển bày
để phát triển từ bi và trí tuệ, hay giải thích theo bối cảnh đặc biệt của
kinh Diệu Pháp Liên Hoa, bất cứ khi nào tâm thức của chúng sanh giải thoát
khỏi sự chấp thủ, bám víu, chân an lạc và hạnh phúc sẽ hiện hữu trong từng
bước đi của chúng sanh ấy. Ðó là lý do tại sao phẩm kinh thứ 24 đi đến kết
luận rằng: “Trong lúc Ðức Phật thuyết giảng
phẩm Phổ Môn này, 84 ngàn chúng sanh trong pháp hội ấy đều phát tâm không
thối chuyển đối với sự giải thoát hoàn toàn mà không có gì có thể sánh
được”.
Nói tóm
lại, sự không thể nghĩ bàn về năng lự phi thường của trí tuệ, từ bi và con
đường dẫn đến chứng đắc hai tính chất đặc thù ấy là giáo lý trọng tâm của
Phẩm Phổ Môn, phẩm thứ 24 của kinh Diệu Pháp Liên Hoa, thường được xem là
phẩm kinh tiêu biểu cho Phật giáo niềm tin và cầu nguyện. Thực ra, phẩm
kinh này đã được biên soạn một cách tế nhị, tài tình và được nối kết một
cách hợp lý trong bối cảnh của kinh Diệu Pháp Liên Hoa
(Saddharma-pundarika), bộ kinh tiêu biểu của Phật giáo trí tuệ. Nói khác
đi, để phù hợp với một số chuyển đổi về nhu cầu và kiến thức của con người
theo dòng thời gian, giáo lý Phật giáo luôn luôn chuyển động trên một hình
trục năng nổ, linh động, tự chỉnh lý và phát triển; tuy thế, một nổ lực vĩ
đại với chủ tâm duy trì tinh thần độc đáo và chân chính về các lời dạy của
Ðức Phật trong ý nghĩa hài hòa và thống nhất thật sự ngang qua những
chuyển động tư tưởng như thế luôn luôn được dụng công đầu tư đối với sự
phát triển và kế thừa của triết lý Phật giáo. Lý luận này hy vọng sẽ trở
nên thú vị hơn khi vai trò của Bồ Tát Avalokitesvara trong kinh
Sukhavàti-vyùha (A Di Ðà) sắp được đưa vào bàn luận dưới đây.
Kinh Sukhavàti-vyùha
Khởi nguyên của giáo lý Amitàha (A Di Ðà)
Mặc dù
lịch sử hình thành của kinh Sukhavàti-vyùha đã được thảo luận rất ít chi
tiết, nhưng chưa có một sự đồng ý cụ thể nào giữa giới học giả trong lãnh
vực thời gian liên hệ đến nguồn gốc của kinh Sukhavàti-vyùha. Tuy nhiên,
nhà nghiên cứu Nhật Bản Ryùkai Mano khẳng định một cách mạnh mẽ rằng bản
mẫu đầu tiên của kinh Tiểu Di Ðà (Smaller Sukhavàti-vyùha) là được biên
soạn vào khoảng thế kỷ thứ nhất trước công nguyên; bởi vì, theo ý kiến của
ông, kinh này khởi sinh vào cùng thời điểm với kinh Ðại Di Ðà (Large
Sukhàvati-vyùha), và trước kinh Pratyutpanna-samàdhi, được cho là biên
soạn trước kinh Ðạo Hạnh (Tao-hsing-ching), mà kinh Ðạo Hạnh được phiên
dịch vào tiếng Trung Quốc trong thế kỷ thứ hai sau Công nguyên.
Theo học
giả J.Takakusu, có hai bản gốc chính bằng tiếng Sanskrit, tức Ðại Bản Di
Ðà và Tiểu Bản Di Ðà; và từ năm 147 đến năm 713 A.D, cả hai bản kinh đó
đều được dịch 12 lần sang tiếng Trung Quốc. Trong khi ấy, theo ý kiến của
học giả M.Winernitz, số lượng 12 lần dịch thuật sang tiếng Trung Quốc chỉ
nhằm chỉ đến bản kinh Ðại Di Ðà mà thôi, trong số đó bản dịch sớm nhất là
được thực hiện vào khoảng năm 147 và 186 A.D. Học giả M.Winernitz nói thêm
rằng Tiểu Bản Di Ðà đã được phiên dịch sang tiếng Trung Quốc ba lần; lần
thứ nhất do ngài Kumàrajìva (Cưu Ma La Thập) dịch vào năm 402 A.D; lần thứ
hai di ngài Gunabhadra (Câu Na Bạt Ðà La) dịch vào năm 420-479.A.D, và lần
thứ ba do ngài Huyền Trang (Hsuan-tsang) dịch vào khoảng năm 650 A.D. Với
cùng cách lập luận nhưng với đôi chút khác biệt, bộ Bách Khoa Phật giáo
nói rằng, theo bản liệt kê của Khai Nguyên kinh Aparimitàyus (Kinh Vô
Lượng Thọ), hay thường gọi là Ðại Bản Di Ðà, được ngài Sanghavarma (Tăng
Già Bạt Ma) phiên dịch trong thời kỳ đầu của Triều đại nhà Ngụy, vào năm
thứ tư của niên hiệu Hỷ Bình (Chia-pin-252A.D), và 12 bản dịch sang tiếng
Trung Quốc của kinh này được thực hiện vào các thời điểm khác nhau. Tuy
nhiên, người ta giả định rằng bản kinh Sukhàvati-vyùha này dường như được
biên soạn bằng tiếng Sanskrit rất xưa, trước năm 147 (AD). Liên quan với
giả thuyết trên, ý kiến của học giả Nhật Bản R. Mano có lẽ rất hợp lý có
thể chấp nhận được, do vì thời điểm biên soạn của nó dường như rất phù hợp
với thời điểm xuất hiện của các kinh thuộc Phật giáo Phát Triển hay Bắc
Truyền (Mahàyàna).
Một vài
học giả tiếng tăm như Sir Charles Eliot,
Edward Conze
cho rằng, dù thế nào đi nữa, trong quá trình cấu thành kinh
Sukhàvati-viyùha tín ngưỡng Amitàbha (A Di Ðà) có thể đã bắt nguồn hoặc là
từ giáo lý của tôn giáo Iran, hoặc của Thiên chúa giáo. Tuy nhiên, chúng
ta có thể thấy rằng giả thuyết như thế mang vẻ định kiến, thiếu tính
thuyết phục và cần phải được thẩm xét lại xuyên qua giáo lý chân chính của
Phật giáo. Trong kinh Mahà-Sudassana-Suttanta (Ðại Thiện Kiến Vương), điều
này được ghi lại như sau:
“Này
Ananda, kinh đô Kusàvati có bảy hành cây ta la bao bọc, một hàng bằng lưu
ly, một hàng bằng thủy tinh, một hàng bằng san hô, một hàng bằng xa cừ,
một hàng bằng mọi thứ báu...
Này
Ananda, khi những hàng cây ta la này được gió làm rung chuyển, một âm
thanh vi diệu, khả ái, đẹp ý, mê ly khởi lên, giống như năm loại nhạc khí
được một nhạc sĩ thiện xảo tấu nhạc, phát ra âm thanh vi diệu...”
Trong
khi ấy, kinh Tiểu Bản Di Ðà (Smaller Sukhàvati-vyùha) cũng ghi lại như
vầy:
“Lại
nữa, này tôn giả Xá Lợi Phất, thế giới cực lạc có bảy hàng lan can, bảy
lớp chuông giăng, bảy hàng cây báu bao quanh; tất cả những thứ ấy được làm
bằng vàng, bạc, lưu ly, pha lê. Do vậy, thế giới ấy được gọi là cực lạc.”
“Lại
nữa, này tôn giả Xá Lợi Phất, thế giới ấy còn rất nhiều hồ bảy báu, (vàng,
bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ mã não, san hô, hổ phách, trân châu)...”
“Lại
nữa, này tôn giả Xá Lợi Phất, khi các hàng cây, những lớp chuông giăng
được gió làm rung chuyển liền phát ra vô số âm thanh vi diệu, giống như âm
thanh của hàng trăm ngàn nhạc cụ một buổi hòa nhạc ở cõi trời...”
Bằng
việc so sánh hai đoạn kinh vừa trích dẫn từ hai nguồn văn điển của Phật
giáo Thượng Tọa Bộ và Phật Giáo Phát Triển, người ta có thể nói rằng, như
sắp được phân tích và bình luận, tinh thần của kinh Sukhàvati-vyùha rõ
ràng không những là được mô phỏng từ lời dạy của Ðức Phật, mà nhiều điểm
liên quan đến vấn đề ngôn ngữ và hình ảnh của chúng cũng dễ dàng được nhận
thấy. Từ đó, ý kiến hay tư tưởng nào nghi ngờ nguồn gốc của kinh là phi
Phật giáo, hoặc xem kinh Sukhàvati-vyùha (A Di Ðà) không phải chính thống,
hẳn đã phô bày tính yếu kém và không thể chấp nhận được mà không cần phải
bình luận.
Cảnh giới Cực Lạc
Theo một
trong những quan điểm chính của tông phái Tịnh độ (Pure Land School), khởi
nguyên của giáo lý này bắt nguồn từ câu chuyện của một triều đại xa xưa
thuộc Vương quốc Magàdha (Ma-kiệt-đà). Người ta nói rằng khi Ðức Phật
Gotoma (Cù Ðàm) 72 tuổi, vua Bimbisàra (Tần Bà Sa La), vị đệ tử hoàng gia
đầu tiên là Ajatasatru (A Xà Thế), vì tham vọng chiếm đoạt ngai vàng, giam
giữ và giết chết trong tù. Hoàng hậu Vaidehì (Vi Ðề Hi), vợ của Bimbisàra
và cũng là mẹ của Hoàng tử Ajatasatru, rất đau khổ vì sự việc trên. Trong
tình trạng tinh thần hoàn toàn suy sụp và chán nản, bà đi đến Ðức Phật cầu
xin Ngài chỉ cho bà một thế giới không có những thảm họa như thế. Vào
chính thời điểm ấy, Ðức Thế Tôn đã giới thiệu thế giới cực lạc do Ðức Phật
A Di Ðà làm giáo chủ cho hoàng hậu Vaidehì.
Một quan
điểm khác của Tịnh Ðộ tông liên quan đến sự giáo chủ sáng lập ra tông phái
này được ghi lại trong kinh Aparimitayus như vầy. Vào thời đại của Ðức
Phật Lokesvararàdina (Nhiên Ðăng) có một vị vua vô cùng thông thái tên là
Dharmakara (Pháp Tạng). Với lòng nhiệt thành và khát khao tìm chân lý, vua
Dharmakara đã rời bỏ ngôi báu, xuất gia làm Tỷ kheo. Vào một ngày nọ, sau
khi nghe Ðức Phật Lokesvararàdina thuyết giảng về tính ưu việt của hơn hai
tỷ cảnh giới của các Ðức Phật, vua Dharmakara đã phát 48 lời nguyện liên
hệ đến cảnh giới tương lai của mình khi đức vua chứng đắc chân lý. Về sau,
khi các lời nguyện đó trở nên hiện thực, nhà vua đã chứng đắc Phật quả với
danh hiệu là Amitàbha (A Di Ðà) và quốc độ của Ngài là ‘thế giới cực lạc’.
Trước
khi bàn luận đến việc ‘giáo chủ của Tịnh Ðộ Tông là ai’, có lẽ rất hợp lý
để chúng ta xem xét đến vấn đề: “Có thể có khái niệm về một trú xứ thường
hằng giống như thế giới cực lạc
trong giáo lý Phật giáo hay không?” Sự thật rằng bất cứ lúc nào những thắc
mắc như sau được đặt trước Ðức Phật: “Thế giới này là thường hằng, thế
giới này là không thường hằng; thế giới này sẽ chấm dứt, thế giới này sẽ
không chấm dứt; cuộc sống này với thân thể là một, cuộc sống này với thân
thể là khác; Ðức Như Lai sẽ tồn tại sau khi chết, Ðức Như Lai sẽ không tồn
tại sau khi chết, v.v...”, Bậc đạo sư luôn luôn giữ yên lặng; bởi vì bất
cứ câu trả lời nào cho những nghi vấn trên, dù là ‘khẳng định hay phủ
định’, đều rơi vào hai phạm trù cực đoan, đó là (1) triết lý thường hằng
và (2) triết lý đoạn diệt. Trong khi ấy, mọi người đều biết rằng Phật giáo
là con đường trung đạo. Quan trọng hơn thế nữa, trong cái nhìn của Ðức
Phật, bất cứ ai cố gắng nghĩ rằng “thế giới là thường còn, thế giới là vô
thường; ...; Như Lai có tồn tại sau khi chết, Như Lai không tồn tại sau
khi chết...’, như vậy là tà kiến, kiến trù lâm, kiến hoang vu, kiến hý
luận, kiến tranh chấp, kiến kiết phược, đi đôi với khổ, với tàn hại, với
nhiệt não, không hướng đến yểm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí,
giác ngộ, Niết bàn.”
Nếu như
Ðức Phật đã từ chối trả lời các câu hỏi như trên, vậy tại sao Ngài lại có
thể giới thiệu “Thế Giới Cực Lạc” cho Hoàng hậu Vaidehì? Và nếu như có
“Cảnh Giới Cực Lạc” ở về phía tây của thế giới Ta bà này, vậy Ðức Phật
Gotama (Cù Ðàm) sẽ sống ở thế giới nào sau khi Ngài thị hiện đại Niết Bàn
(Mahàparinirvana)? Hơn thế nữa, ngang qua tư tưởng tha lực do Tịnh Ðộ tông
chủ trương, rõ ràng Ðức Phật Sakyàmuni (Thích Ca Mâu Ni) hẳn đã không thể
cứu độ được Hoàng hậu Vaidehì? Tuyệt đối không thể chấp nhận được, nếu như
ý tưởng này được hiểu theo cách thông thường (nghĩa đen). Nói khác đi,
giáo lý của Tịnh Ðộ tông cần phải được nắm bắt theo ngôn ngữ biểu tượng sẽ
được trình bày trong phần thảo luận tới.
Theo
giáo lý Phật giáo, bất cứ nơi chốn hay địa điểm nào thuộc về không gian và
thời gian đều được gọi là pháp hữu vi hay có điều kiện (sankhanra-dharma),
và tất nhiên chúng phải tuân thủ ba quy luật bất biến (tam pháp ấn) của
cuộc đời; đó là khổ, vô thường và vô ngã. Từ đó, cảnh giới lý tưởng mà Ðức
Phật giới thiệu là không có bất cứ thảm họa gì, vượt lên trên ba nguyên lý
đó, hẳn không phải là thế giới của thời và không gian, mà là cảnh giới phi
thời không gian. Cảnh giới ấy chắc chắn chỉ dành cho chúng sanh nào mà tâm
thức của họ đoạn trừ hoàn toàn khát ái và chấp thủ. Giải thích theo ngôn
ngữ biểu tượng, cảnh giới ấy chính là tâm thức phi khát ái, không chấp thủ
của con người; bởi vì theo giáo lý Duyên sinh của Phật giáo, bất cứ khi
nào một trong mười hai chi phần của nguyên lý Duyên sinh được đoạn trừ thì
tất cả chi phần còn lại cũng đi đến chấm dứt. Tuy thế, thật vô cùng quan
trọng để chúng ta lưu ý ở đây rằng theo giáo lý của Phật giáo Nguyên Thủy
(Thượng Tọa Bộ), khát ái hay chi phần thứ tám của mẫu thức Duyên sinh
(Pratityàsamutpàda) là đối tượng chính được nhắm đến để đoạn trừ; trong
khi ấy, theo Phật giáo Bắc Truyền, chấp thủ hay chi phần thứ chín của mẫu
thức Duyên sinh lại luôn được nhấn mạnh. Nói khác đi, vắng mặt khái ái và
chấp thủ, buồn phiền và đau khổ không thể tồn tại trong tâm thức con
người. Quả thật, đây là điểm nối kết quan trọng nhất trong các lời dạy của
Ðức Phật:
“Ai sống trong đời này,
Ái dục được hàng phục,
Sầu rơi khỏi người ấy,
Như giọt nước lá sen.”[31]
Giáo Chủ cõi Cực Lạc
Nếu như
cảnh giới cực lạc đã là thế giới biểu tượng, vậy thì giáo chủ thật sự của
nó hẳn nhiên cũng không thể khác được. Như người ta đã biết, Ðức Thế Tôn
chủ trì thế giới cực lạc ở phương Tây được gọi là Amitàbha (nghĩa là vô
lượng quang), hay Amitàyus (nghĩa là vô lượng thọ). Theo triết lý của Tịnh
Ðộ tông, mặc dù là giáo chủ của cảnh giới cực lạc Ðức Phật Amitàbha (A Di
Ðà) không bao giờ ra khỏi quốc độ ấy, thay vào đó chỉ có Bồ Tát
Avalokitesvara (Quán Thế Âm), vị được xem như là hiện thân chân chính của
Phật Amitàbha, được ủy nhiệm thay thế Phật A Di Ðà cứu độ chúng sinh từ
các cõi khác đến thế giới cực lạc. Quan trọng hơn thế nữa, theo Ðại kinh
Sukhàvati Vyùha (Ðại Kinh Vô Lượng Thọ) chính Bồ Tát Avalokitesvara (Quán
Thế Âm) là giáo chủ của cõi Tịnh độ.
Nói theo ngôn ngữ biểu tượng của Phật giáo Bắc Truyền hay Phát Triển,
karunà (từ bi) và prajna (trí tuệ), hai mặt của một thực thể giải thoát,
chính là những người chủ thực sự của thế giới cực lạc, vì trú xứ đó không
chỉ tất cả chúng sanh khổ đau khao khát được cứu độ mà các vị Bồ Tát cũng
mong muốn được sanh về. Ví dụ, Mahàprajnapàramità sutra (Kinh Ðại Bát Nhã
Ba La Mật Ða) đã nói rằng các vị Bồ Tát sau khi chứng đặc lục thông, sau
khi vượt qua các cảnh giới của các Ðức Phật, cuối cùng đến thế giới của
Ðức Phật Vô Lượng Thọ, và thọ sinh vào thế giới này.
Trong khi ấy, theo kinh Avatamsaka (Hoa Nghiêm), một trong những lời
nguyện quan trọng nhất của Bồ tát Phổ Hiền được diễn đạt trong bài kệ sau:
“Vào thời khắc lâm chung, tôi ước nguyện
rằng,
Ðoạn trừ tất cả các chướng ngại
Ðược diện kiến Ðức Phật A Di Ðà
Và tái sanh vào thế giới cực lạc.”
(Nguyện ngã lâm dục mạng chung thời,
Tận trừ nhất thiết chư chướng ngại,
Diện kiến bỉ Phật A Di Ðà,
Tức đắc vãng sanh an lạc quốc.)
Vai trò
và ý nghĩa của giáo lý Tịnh Ðộ tông cũng có thể thấy được một cách rõ ràng
hoặc ẩn dụ trong kinh Saddharmapundarika (Diệu Pháp Liên Hoa) qua tư tưởng
của các phẩm kinh như “Hóa Thành Dụ”, “Dược Vương”, và “Phổ Môn”, vì theo
quan điểm của chính kinh Saddharmapundarika, việc tu tập giáo lý ấy hỗ trợ
một cách mạnh mẽ cho ước muốn được tái sanh vào thế giới cực lạc. Rõ
ràng triết lý nhất thừa (eka-yàna) của kinh Diệu Pháp Liên Hoa đã phối hợp
giáo lý của Phật giáo. Nói khác đi, “cảnh giới cực lạc” hay “sự toàn thiện
hai mặt của Niết bàn” là sự gặp gỡ thứ hai và cũng là điểm hội tụ sau cùng
của tất cả kinh Phật giáo Phát Triển trong toàn bộ quá trình tồn tại và
phát triển của chúng.
Ðiều
kiện thiết yếu để được cứu độ về Cảnh Giới Cực Lạc
Người ta
thường nói rằng niềm tin thuần nhất vào Ðức Phật Amitàbha (A Di Ðà) và
niệm danh hiệu Phật A Di Ðà hay Bồ Tát Avalokitesvara (Quán Thế Âm) là hai
điều kiện tất yếu cho bất cứ ai mong muốn được tái sanh vào thế giới vô
lượng thọ. Ðiều ấy hàm nghĩa rằng Ðức Phật và Bồ Tát của cảnh giới này như
là thần thánh tối thượng, phi phàm, có thể cứu với chúng sanh đến giải
thoát sau cùng mà không cần thiết phải thực hành bất cứ giáo lý nào khác.
Tư tưởng này nghe có vẻ phi lý và khó có thể chấp nhận được; bởi vì việc
hành trì ấy dường như đã đi trệch con đường Trung đạo của Phật giáo và cần
phải được gạn lọc trong ánh sáng từ chính lời của Ðức Thế Tôn.
Như
chúng ta đã biết, Tịnh độ tông bắt nguồn từ giáo lý của Phật giáo Nguyên
Thủy (Early Buddhism); do vậy, tinh thần cốt lõi của tông phái này tất
phải được sinh khởi từ giáo lý gốc. Tuy nhiên, để chứng minh cho lập luận
vừa nêu, hy vọng chúng ta sẽ không lạc đề ở đây khi đưa ra một sự so sánh
về kinh điển giữa hai khuynh hướng Phật giáo trên. Kinh Mahà-Sudassana
(Ðại Thiện Kiến Vương) ghi lại rằng sau khi nhận biết lãnh thổ và quyền
lực của mình vua Mahà-Sussana tự hỏi vì nguyên nhân gì mà ông ta có thể
gặt hái được kết quả như thế? Và tư tưởng này đã sinh khởi trong tâm của
nhà vua:
“Này
Ananda, rồi vua Ðại Thiện Kiến suy nghĩ: ‘Quả này là do ba loại nghiệp,
báo này là do ba loại nghiệp mà hiện tại ta có thần lực như vậy. Ðó là bố
thí, tự điều, tự chế...”
“Này
Ananda, vua Ðại Thiện Kiến bước vào cao đường Ðại Trang Nghiêm, ngồi trên
sàng tòa bằng vàng, ly dục, ly ác pháp, chứng và an trú trong thiền thứ
nhất...
... Rồi
xả lạc xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và an trú vào thiền thứ
tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh”
Rõ ràng,
kết quả mà vua Ðại Thiện Kiến có được đến từ hai việc làm; đó là (1) nhờ
vào hạnh bố thí, vào việc tự chủ và tự chiến thắng mình, và (2) nhờ vào
việc chứng đắc được bốn cấp độ thiền định. Vậy, bằng phương pháp tu tập gì
mà chúng sanh được tái sanh vào trong cảnh giới cực lạc nhằm để so sánh
với tinh thần của kinh Trường Bộ vừa nêu ra? Ðoạn kinh được trích dẫn dưới
đây từ Tiểu bản A Di Ðà kinh (Small Sukhavàti-Vyùha Sutra) có thể được xem
là con đường thực tiễn nhất của Tịnh Ðộ tông:
“Lại
nữa, này tôn giả Xá Lợi Phất, chúng sanh sinh về thế giới cực lạc đều là
những bậc không còn thối chuyển; đa số trong đó, sau khi tái sanh một lần
nữa, sẽ thành Phật quả, và số này là vô lượng, vô số, không thể tính được
biết được. Do vậy, này tôn giả Xá Lợi Phất, chúng sanh trong cõi Ta bà này
nếu nghe được thì nên phát nguyện sinh về cảnh giới của Ðức Phật ấy để
cùng được sống chung với các bậc thánh giả như vậy. Tuy vậy, này Tôn giả
Xá Lợi Phất, không phải do có được chút ít công đức, chút ít thiện căn,
nhân duyên mà chúng sanh được sinh về cõi nước cực lạc. Này tôn giả Xá Lợi
Phất, nếu có thiện nam, tín nữ nào nghe được danh hiệu của Ðức Phật A Di
Ðà rồi chuyên tâm trì niệm, hoặc trong một ngày hai ngày ba ngày cho đến
bảy ngày tâm không tán loạn, thì vào lúc lâm chung của những vị ấy, Ðức
Phật A Di Ðà và thánh chúng sẽ hiện ra trước mặt họ, khiến cho tâm của họ
không bị điên đảo, và nhờ thế liền được sinh về thế giới Cực Lạc. Này tôn
giả Xá Lợi Phất, do vì thấy được những lợi ích như thế nên Ta nói rằng nếu
chúng sanh nào nghe được kinh này thì nên phát nguyện sinh về cảnh giới
cực lạc.”
Có lẽ
không có gì nghi ngờ để chúng ta nói rằng đoạn kinh vừa trích dẫn ở trên
không biểu thị gì khác hơn là phương pháp thực hành thiền định, bởi vì rất
nhiều bài kinh trong kinh tạng Nikàya đã ghi lại rằng có bốn mươi đối
tượng cho pháp môn thiền quán, và một trong số đó là sự quán tưởng trực
tiếp vào các đức tướng và đức tánh của Như Lai. Nói theo ngôn ngữ của kinh
A Di Ðà, đó là phương pháp niệm danh hiệu Ðức Phật Amitàbhà từ một ngày
đến bảy ngày cho đến khi tâm không còn bị quấy nhiễu (nhất tâm bất loạn).
Hiển nhiên rằng không có thiền định người ta không thể đạt đến các cấp độ
như thế. Do đó, trong thực chất những lời dạy vừa đề cập trên đều nhắm đến
mục tiêu thực hành thiền định. Hơn thế nữa, trong cùng cách tư duy, chúng
ta cũng có thể nhận ra hai cấp độ giải thoát của Tiểu Kinh Di Ðà (Small
Sukhavàti-Vyùha Sutra), đó là (1) A Na Hàm quả - sẽ không còn tái sanh vào
cuộc đời này nữa (Non-Retruners); và (2) Tư Ðà Hàm quả sẽ thành Phật sau
một lần tái sanh vào cảnh giới Cực Lạc, tương tự với cách diễn đạt của
nhiều bài kinh trong kinh tạng Nikàya. Những lời dạy sau đây của Ðức Phật
sẽ chỉ ra mối tương đồng đó:
“Này các
Tỷ kheo, không cần gì nữa tháng, một vị nào tu tập Bốn niệm xứ này trong
bảy ngày, vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây: Một là chứng Chánh
trí ngay trong hiện tại, hai là nếu còn Hữu dư y, thì chứng quả Bất hoàn”
Chúng ta
có thể nói rằng không có điểm gì khác biệt hay mâu thuẫn giữa hai đoạn
giáo lý đề cập đến phương pháp tu tập và cấp độ giải thoát vừa bàn thảo ở
trên. Trong thực tế, khi một trong hai cấp độ giải thoát trên được chứng
đắc, đau đớn và thống khổ không còn nơi để trú ẩn. Ðây có lẽ là ý nghĩa
của điều mà Tịnh độ tông gọi là “được cứu độ”, khi tông phái này phát biểu
rằng Ðức Phật và Thánh chúng của Ngài (tức Bồ Tát Avalokitesvara) sẽ xuất
hiện và cứu giúp chúng sinh tái sanh về thế giới cực lạc.
Ngang
qua việc xem xét và phân tích ngôn ngữ, hình ảnh cũng như ý nghĩa về Bồ
Tát Avalokitesvara (Quán Thế Âm) trong hai kinh của Phật giáo Phát Triển
(Bắc Truyền)
chúng ta có thể tự tin để đi đến kết luận rằng giới triết gia, học giả của
Phật giáo ở các thời đại về sau đã vô cùng thiện xảo trong việc mô phỏng
và triển khai những lời dạy chân chính của Ðức Phật theo dòng thời gian
nhằm để điều hòa, củng cố, đảm bảo sự sống còn và phát triển của Phật giáo
vì lợi ích của quần sanh. Do thế, có thể không có gì để do dự khi nói rằng
dòng thác tư tưởng Phật giáo luôn được đồng bộ hóa xuyến suốt mọi thời
đại, trong một thể thức với một số chi tiết được thay đổi khiến nó có thể
đáp ứng cập nhật được các yêu cầu nóng bỏng của số đông tín đồ. Tuy nhiên,
các nỗ lực trên luôn được lèo lái theo cốt lõi chân chính từ lời dạy của
chính Ðức Phật; và tinh thần ấy có thể thấy được qua đoạn kinh trích dẫn
dưới đây:
“Này các
Tỷ kheo, đây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt
khỏi sầu bi, diệt trừ khổ ưu, thành tựu Chánh trí, chứng ngộ Niết bàn. Ðó
là Bốn niện xứ.”
Tuy vậy,
có quá nhiều sự khác nhau về căn cơ và trình độ giữa các chúng sanh, và
như người ta đã biết, theo quan điểm của Phật giáo Phát Triển có tất cả là
84.000 căn tánh khác nhau giữa họ. Nhưng theo quan điểm của Phật giáo
Thượng Tọa Bộ, căn tánh chúng sanh có thể liệt kê vào sáu loại như sau:
(1) Ràga carita, tức loại người nặng về tham ái, (2) Moha carita, loại
người yếu kém về trí tuệ, (3) Dosa carita, loại người nặng lòng sân hận,
(4) Sadhà carita, loại người nặng về lòng tin, (5) Buddhi carita, loại
người có khuynh hướng về tri thức và tư biện, và (6) Vitakka carita, tức
loại người nặng về phóng đảng và ít chú tâm đến công việc. Tuy nhiên, dù
chúng sanh thuộc loại căn tánh nào đi nữa, người ta cũng có thể giả định
rằng có lẽ sẽ không có bất cứ sự phản kháng nào xảy ra trong con người khi
dòng suốt từ bi chảy qua tâm thức của họ, đặc biệt khi mà tâm thức người
ta bị dòng thác tri thức thống trị. Ðây có lẽ là lý do chính khiến danh
hiệu Avalokitesvara (Quán Thế Âm) được xem là cánh cửa phổ quát (Universal
gate), phổ thông (General Gate) hay cánh cửa chung Common gate) để dẫn
chúng sanh đến biển bờ Phật pháp. Dĩ nhiên, dòng nước từ bi ngọt ngào này
luôn trôi chảy trong máu huyết của chúng sanh, giống như dòng nước ngầm
luôn tuôn chảy dưới lòng đất, nhưng làm thế nào mà chúng sanh có thể đón
nhận được chất liệu hương vị của nó lại là một vấn đề khác. Chính điều này
mở ra một vấn đề khác để chúng ta bước vào chướng tiếp theo với hy vọng
rằng chúng ta sẽ nghiên cứu và đề ra một hướng áp dụng khả thi về lý tưởng
Bồ Tát cho thời đại hiện nay.
---o0o---
[ Mục Lục]
[Chương 1]
[Chương 2]
[Chương
3]
[Chương 4]
[Chương 5]
[Chương
6] [Chương 7]
---o0o---
Vi tính: Diệu Phước Nguyễn Thị Năm
Trình bày: Linh Thoại
Cập nhật: 01-12-2003