Khái Niệm Về
Bồ Tát Quán Thế Âm
(Lý Thuyết Và Thực Hành)
Thích Viên Trí
--- o0o ---
Chương
6
Quán Thế Âm Bồ Tát và Thế
Giới Ngày Nay
Như chúng ta đã thấy, trong năm chương được trình
bày trước đây thật sự chưa hề có một phương pháp nào có tính hệ thống và
rõ ràng cho việc thực hành lý tưởng Bồ Tát nói chung, và hành trì giáo lý
Avalokitesvara (Quán Thế Âm) nói riêng được đưa vào ứng dụng. Do vậy,
trong chương này chúng ta sẽ dành hết thời gian để bàn đến việc áp dụng lý
tưởng này vào trong xã hội hiện nay của chúng ta, một xã hội vốn đang bị
bạo động và sự cạnh tranh dày xé.
Khuynh hướng tu
tập hiện nay của Phật giáo đồ
Không ai
có thể phủ nhận sự kiện rằng hiện nay có một vài khuynh hướng nổi cộm đang
thống trị toàn bộ tổ chức Phật giáo, và trong số ấy sở thích mang tính phổ
quát nhất của tín đồ Phật giáo là việc hành trì lễ nghi và thờ cúng. Trong
thực tế, từ quan điểm tôn giáo người ta có thể nói rằng sự hành trì trên
là rất tự nhiên vì nó là một trong những yếu tố cốt lõi nhất tạo thành cái
gọi là “tôn giáo”, mà theo đó Phật giáo cũng không thể ngoại lệ. Tuy
nhiên, chắc chắn phải có một vài điểm khác nhau, tách biệt rõ ràng về việc
thể hiện nghi lễ và thờ cúng giữa Phật giáo và tất cả các tôn giáo như
chúng ta có thể nhận ra một cách dễ dàng qua các chỉ dẫn mà Ðức Phật đã
giảng giải cho Sigàla, chàng thanh niên dòng dõi Bà La Môn, như được ghi
lại trong Sigàlovàda-sutta (kinh Thiện Sanh hay còn gọi là Ca Thi La Việt).
Vấn đề này có lẽ lại trở nên ý nghĩa hơn khi chúng ta nghiên cứu đến kinh
Bộ Tương Ưng (Samyutta Nikaya). Kinh Tương Ưng ghi lại rằng một lần nọ Ðức
Thế Tôn trú tại Ràjagaha (thành Vương Xá), ở nơi vườn nuôi dưỡng sóc.
Trong khoảng thời gian đó, một vị Tỳ kheo trẻ tên là Vakkali bị bịnh nặng,
không thể đi đến yết kiến và hầu hạ Ðức Phật được. Tuy nhiên, Tỷ kheo
Vakkali đã nhờ các vị Pháp hữu của mình đi thỉnh cầu Bậc đạo sư vì lòng từ
mẫn đến thăm Vakkali vào thời điểm sắp mạng chung của Tỷ kheo ấy, và Ðức
Phật đã yên lặng nhận lời. Khi Bậc Giác Ngộ đến trú xứ của Vakkali ở, đang
nằm trên giường bệnh Vakkali đã kính cẩn thưa với Ngài rằng “Ðã lâu lắm
rồi, bạch Ðức Thế Tôn, con mong mỏi được diện kiến Bậc Ðạo Sư, nhưng vì
thân mang trọng bịnh, con không đủ sức khỏe để đi đến yết kiến Như
Lai...”, và Ðức Phật đã đáp lại như sau: “Thôi đi, này Vakkali! Có gì đáng
xem trong cái thân thể thối tha này của Ta? Này Vakkali, ai thấy Pháp
người ấy thấy Ta; ai thấy Ta người ấy thấy Pháp. Một cách đúng đắn, thấy
Pháp là thấy Ta; thấy Ta là thấy Pháp.”
Câu chuyện này hẳn phải đã để lại lý do để chúng ta xem xét lại khuynh
hướng tu tập, hành trì việc thờ cúng hiện nay của giới Phật giáo; bởi vì,
như chúng ta có tể thấy, ngay cả với tâm thức phụng thờ chính Ðức Phật
đang trú thế mà không hiểu biết Chánh Pháp cũng không được Bậc Ðạo Sư ca
ngợi và khuyên khích, còn nói chi đến một niềm tin thuần túy lễ bái xá lợi
và hình tượng!
Tuy
nhiên, thật vô cùng quan trọng để chúng ta lưu ý rằng nếu việc hành trì
trên được áp dụng một cách thích đáng với ý thức sâu sắc và đúng đắn nhắm
đến việc tập trung tâm thức của hành giả, phù hợp với một trong mười đối
tượng của thiền quán, tức sự trầm tư hay tưởng niệm đến Ðức Phật như đã
được thảo luận trong Chương V, Mục “Các điều kiện thiết yếu để được cứu độ
về Cảnh Giới Cực Lạc”, thì hoàn toàn được khuyến khích, vì ấy cũng là pháp
môn thực hành thiền định. Nhưng khuynh hướng tu tập hiện nay của tín đồ
Phật giáo dường như không phải như thế. Trái lại, nếu được nghiên cứu và
thẩm tra thực chất của nó; khuynh hướng hành trì vừa nêu có vẻ phản ánh
một thứ gì ấy tương tự với lối cầu nguyện, lễ bái của các tôn giáo hữu
thần. Lập luận này có lẽ sẽ trở nên rõ ràng hơn khi được phát biểu như
sau: sự hành trì lễ nghi hiện nay của giới tín đồ Phật giáo đã vô tình hỗ
trợ cho việc đồng hóa Ðức Phật và các vị Bồ Tát trở thành đấng sáng thế,
hay một loại thần thánh gì đó. Biểu mẫu đặc trưng cho khuynh hướng thịnh
hành này có thể thấy được qua nội dung của cuốn sách tựa đề “Lý
Thuyết và Sự Thực Hành Phật Giáo: Ðức Phật là Con Người
hay Thần Thánh”.
Công trình nghiên cứu này được học giả người Ðức, tiến sĩ Richard F.
Gombrich, thực hiện ở Tích Lan nơi mà Phật giáo Thượng Tọa Bộ (Theravàda),
theo truyền thống, đã và đang chiếm giữ vai trò Quốc giáo hơn hai ngàn năm
qua.
Song
hành với khuynh hướng tu tập bao phủ vô số yếu tố thần thoại của các tín
ngưỡng và tôn giáo hữu thần là mối quan tâm của giới tín đồ liên hệ đến
vấn đề tái sinh! Có lẽ không có gì sai lầm khi người ta nói rằng Phật tử
của thời đại ngày nay đang thực sự ước ao và nỗ lực tu tập để được tái
sanh về những thế giới tốt lành, ví dụ như cảnh giới cực lạc. Tuy nhiên,
dường như ý tưởng như thế không phù hợp lắm với tinh thần chân chính về
tính thực tiễn của Phật giáo vì như kinh Nhứt Dạ Hiền Giả
(Bhaddekarattasutta)
đã ghi rằng:
“Quá khứ không truy tìm,
Tương lai không ước vọng,
Quá khứ đã đoạn tận,
Tương lai lại chưa đến,
Chỉ có pháp hiện tại,
Tuệ quán chính ở đây...
Không ai điều đình được,
Với đại quân thần chết,
Trú như vậy nhiệt tâm,
Ðêm ngày không mệt mỏi,
Xứng gọi Nhất Dạ Hiền,
Bậc an tịnh, trầm lặng.”
Như
chúng ta đã biết, Phật giáo cũng tin vào thuyết tái sinh, nhưng sự tái
sinh ấy hoàn toàn tùy thuộc vào nghiệp của mỗi cá nhân. Ðể vấn đề này trở
nên một cách rõ ràng đối với hàng đệ tử, Ðức Phật đã thuyết giảng một bài
kinh về “Gương Chân Lý”
và xuyên qua bài kinh này người ta có thể biết được họ sẽ tái sinh vào
cảnh giới nào trong tương lai bằng cách xem xét các loại hành động
(nghiệp) mà họ đã làm trong lúc sanh tiền. Như là hệ tự luận tự nhiên phát
sinh từ bài pháp trên, một vài gợi ý có ý nghĩa liên hệ đến việc thực hành
thích hợp với tín ngưỡng Avalokitesvara (Quán Thế Âm) có thể được rút ra ở
đây. Nghĩa là, nếu người nào thực sự mong ước được tái sinh vào một quốc
độ nào đó sau đời sống hiện tại, đặc biệt là sinh về thế giới cực lạc của
Ðức Phật Amitàbha (A Di Ðà) như hầu hết các Phật tử đang hằng ngày ước
nguyện, người ấy phải tu tập và nghiêm túc tuân thủ giáo lý và các điều
kiện tương ứng do thế giới cực lạc chủ trương. Do đó, có lẽ là rất ý nghĩa
để lưu ý rằng trong bản sớ giải của Ðại Phẩm Di Ðà, còn gọi Di Ðà Sớ Sao,
danh hiệu của Ðức Phật Amitàbha (A Di Ðà) bao hàm ba ý nghĩa: (1) Amitàbha
(Vô Lượng Quang) (2) Amitàguna (Vô Lượng Công Ðức). Quan trọng hơn nữa,
theo hầu hết các bình luận gia và các nhà Phật học, Amitàbha trong ngữ
cảnh của Sukhavàti-vyùha (kinh A Di Ðà) có nghĩa là vô lượng quang,
Amitàyus có nghĩa là vô lượng thọ, và Amitàguna có nghĩa là vô lượng công
đức. Dĩ nhiên, đây không chỉ ba phẩm chất đặc thù của riêng Ðức Phật A Di
Ðà, mà tất cả chư Phật đều hội đủ toàn bộ ba tánh chất này. Như vậy, ở
khía cạnh triết lý, vô lượng thọ, vô lượng quang, và vô lượng công đức
phải ám chỉ một điều gì ấy rất là biểu tượng, trong đó vô lượng quang biểu
tượng hóa của trí tuệ (prajna), vô lượng thọ biểu tượng cho thiền định
(samàdhi) và vô lượng công đức biểu tượng cho giới (sìla). Nói khác đi,
bất cứ ai thực sự mong ước được sanh về cảnh giới cực lạc của Phật A Di Ðà
cần phải áp dụng những yêu cầu thiết yếu của thế giới này vào trong cuộc
sống hằng ngày của họ, và các đòi hỏi ấy không gì khác hơn là các yếu tố
truyền thống của giáo lý Phật giáo, tức giới, định, tuệ. Chính ngang qua
việc thực hành chúng mà chúng sanh có thể cảm nghiệm được cảm giác hạnh
phúc tại đây và ngay bây giờ, ngay trong thế giới này. Hiển nhiên rằng
quan điểm trên không những là phù hợp với con đường trung đạo của Phật
giáo mà còn phản ảnh được tính thống nhất về giáo lý của hai bộ phái Phật
giáo chính; đó là Phật giáo Nam Truyền hay Thượng Tọa Bộ và Phật giáo Bắc
Truyền hay Phát Triển.
Tuy
nhiên, sự thật không thể chối cãi là hiện có một khuynh hướng nổi cộm đang
vận hành trong hầu hết các tổ chức Phật giáo của thế giới đương đại; đó là
một số thuật ngữ Phật học như giới, định, tuệ, v.v... dường như đã trở nên
quá uy nghiêm và quá khó khăn để cho giới tín đồ đưa vào áp dụng, và các
danh từ ấy được xem là chí thích hợp với lối sống cách ly của giới tu sĩ
khổ hạnh ở trong rừng. Trong thực tế, tín đồ Phật giáo không đặt nhiều chú
tâm đến những phương pháp trên trong cả lãnh vực tu tập lẫn chứng ngộ, dù
rằng hằng ngày họ vẫn thường tranh cãi, biện luận rất nhiều về các chủ đề
này. Thay vào đó, công tác mang tính tôn giáo được tín đồ Phật tử nhiệt
tâm thực hiện là chú tâm đến công tác từ thiện. Tất nhiên, khi làm các
việc ấy, giới Phật tử nghĩ rằng họ đang tích lũy công đức để được tái sanh
vào một thế giới tốt đẹp trong tương lai. Trong ý nghĩa thực tiễn thông
thường của lãnh vực nhân đạo và nhân văn, việc làm ấy tất nhiên là rất
đáng biểu dương và ca ngợi; nhưng trong một khía cạnh sâu sắc khác của vấn
đề có lẽ đã gợi lên trong tâm thức chúng ta một hiện tượng như đã gợi lên
trong tâm thức chúng ta một hiện tượng như đã được bàn luận ở trong Chương
III của cuốn sách này. Giống như tình huống trong thế kỷ thứ hai trước
Công nguyên, toàn bộ diễn đàn của cuộc sống, bao gồm cả diễn đàn tôn giáo
trong thời đại văn minh ngày nay đã và đang bị quá tải bởi xu hướng lý
thuyết, duy lý và tư biện khiến người ta trở nên rất mệt mỏi với không khí
và môi trường như thế. Hệ quả là hầu hết mọi người trong lãnh vực tôn
giáo, gồm cả Phật giáo, có khuynh hướng hiến dâng hết năng lượng và nỗ lực
các hình thức lễ hội ấy, các nét đặc trưng mang tính thực tiễn của đạo
Phật như là tinh thần trách nhiệm cá nhân, tinh thần tự chủ, tự tín và tự
nỗ lực v.v... dường như không đóng một vai trò quan trọng nào cả. Quả
thật, chỉ cần thoáng nhìn qua bộ mặt thật của Phật giáo Ấn Ðộ ngày nay,
lập luận vừa nêu có lẽ không cần bất cứ chứng cứ nào thêm nữa để biện minh
cho nó. Khuynh hướng phụng thờ cúng kiến này có thể cũng khiến chúng ta dể
dàng nhớ lại tình huống lịch sử (như đã được đề cập trước đây), qua đó một
làn sóng hòa hợp tôn giáo nhắm đến động cơ đồng hóa Phật giáo vào đạo
Hindu đã xảy ra. Tiếp đến, Ðức Phật và chư Bồ Tát cũng được cho là hiện
thân của thần Visnu và Krisna. Một số nhà sử học tin tưởng rằng
chính tiến trình đó đã đóng vai trò chính trong việc làm suy tàn và biến
mất của Phật giáo không chỉ ở đất nước Ấn Ðộ mà còn ở Nepal, Malaysia, và
Indonesia. Từ đây, người ta có thể nghĩ rằng ắt phải có một vài thay đổi
quan trọng nào đó về cách nhìn của tín đồ Phật tử. Như người ta thường
nói, Phật giáo là một nghệ thuật sống tích cực, đầy sinh lực, mạnh mẽ và
năng động. Với tính ưu việt của giáo lý về tinh thần thực tiễn và năng
động, Phật giáo có thể vượt qua mọi tình huống bất lợi mà không một tổn
thương, và nhờ thế tồn tại với vô số thử thách như Phật giáo đã từng đối
mặt trong quá khứ. Sự thẩm xét cẩn thận về lịch sử hơn 2500 năm của Phật
giáo sẽ là những chứng cứ hùng hồn cho sự thật ấy. Từ nhận định trên chúng
ta có thể đi đến giả thuyết rằng việc áp dụng lý tưởng Bồ Tát, đặc biệt là
ứng dụng lý tưởng Avalokitesvara (Quán Thế Âm) vào trong cuộc sống hằng
ngày hy vọng sẽ đóng góp nhiều phương pháp mới và khả thi trong cả lãnh
vực học hiểu và thực hành khi Phật giáo cùng tồn tại với mọi tôn giáo trên
thế giới trong thời kỳ đầy cạnh tranh và bại lực như hiện nay.
Như
người ta đã biết, Avalokitesvara (Quán Thế Âm) là vị Bồ Tát được biểu
tượng hóa của lòng từ bi (metta-karuna). Do thế, để có thể nhận được sự
gia hộ do Bồ Tát Quán Thế Âm trao tặng, giới Phật tử hướng thẳng lòng
thành tín của họ vào các hoạt động từ thiện, cứu thế nhằm phù hợp với
những đặc tính chân chính của Bồ Tát Quán Thế Âm. Bằng cách làm như thế,
họ có thể tích lũy công đức với hy vọng là họ sẽ được tái sanh trong một
thế giới lý tưởng, tức cõi cực lạc (Sukhavàti-vyùha). Trong thực tế, chúng
ta có thể nói rằng không bao giờ có thể vắng mặt được tư tưởng, cảm xúc
và cảm nghiệm tôn giáo trong đời sống bất tận của con người cho dù khoa
học có thể bông đùa, nhạo báng lối tư duy như thế. Chắc chắn rằng, đối với
số đông nhân loại, luôn có một năng lực siêu phàm và xuất thế hiện hữu
khắp nơi mà họ thường gọi với nhiều danh xưng khác nhau như Bồ Tát, thánh,
thần... Tuy nhiên, giống như cái ti vi được trang bị các thiết bị cần
thiết để có khả năng đón nhận tín hiệu phát ra từ vệ tinh nhằm tạo ra âm
thanh thích hợp và hình ảnh được truyền đến. Cũng thế, trong lãnh vực tôn
giáo người tiếp nhận cũng buộc phải nỗ lực trang bị một số điều kiện tất
yếu nhằm thỏa mãn các nhu cầu của người cho. Nghĩa là, bất cứ ai ước mong
nhận được sự hộ trì của Bồ Tát Avalokitesvara (Quán Thế Âm) mà tác giả ví
như là một vệ tinh tâm linh, người ấy cần phải tạo ra các thiết bị tương
ứng luôn có sẵn trong thân thể vật lý của họ nhằm để tự liên kết với đặc
điểm cao đẹp của Bồ Tát Quán Thế Âm, đó là lòng từ bi. Phương pháp để tạo
ra hoặc để xây dựng các thiết bị tâm linh nhằm đón nhận tín hiệu từ bi
được ban phát từ vệ tinh tâm linh – Quán Thế Âm – là phải tu tập lòng từ
bi. Kết quả người ta có thể chờ đợi là việc tu tập lòng từ bi không những
sẽ không tạo ra bất cứ mâu thuẫn, xung đột nào với môi trường hiện nay
chúng ta đang sống, mà việc làm ấy rõ ràng còn soi sáng cách hiểu biết và
nắm bắt của tín đồ Phật giáo về lý tưởng Bồ Tát cũng như sự chứng ngộ lý
tưởng ấy trong cuốc sống hằng ngày bằng cách thực hành các thiện nghiệp.
Sự ứng dụng
thích đáng về Bồ Tát Quán Thế Âm
Tuy
nhiên, có lẽ sẽ rất vô ích nếu người ta nghĩ rằng một loại lý thuyết hay
triết lý nào đó có thể trở thành biểu mẫu lý tưởng cho đời sống của nhân
loại; bởi vì như trong mọi trường hợp của tất cả lãnh vực đời sống, hay
chúng ta lấy lãnh vực giáo dục làm ví dụ, học giả người Pháp, Emile
Durkhein nói rằng trong một xã hội cụ thể nào đó, vì có nhiều môi trường
khác nhau nên đòi hỏi phải có nhiều mẫu thức giáo dục khác nhau.
Lời phát biểu trên rõ ràng đã đưa ra một ý tưởng vô cùng quan trọng; đó
là, giáo dục không phải là một thứ gì ấy bất biến, không thay đổi, mà giáo
dục luôn luôn tùy thuộc vào trình độ hiểu biết của con người để một lý
thuyết hay hệ thống giáo dục nào đó có thể được tạo ra. Vấn đề này có thể
được hiểu trong ý nghĩa của giáo lý “Duyên Sinh” (Pratityasumtpàda), Phật
giáo, với mẫu thức ngắn gọn của nó là “do cái này có, cái kia có; do cái
này sinh, cái kia sinh”. Quan trọng hơn nữa, vì Emile Durkheim còn phát
biểu thêm rằng tất cả chúng ta đều dựa trên một nền tảng chung và không có
bất cứ ai trong chúng ta mà không có chung một số ý tưởng, tình cảm và
hành động.
Từ đó, trên nguyên lý của cơ sở chung nhất đó, người ta có thể nói một
cách chắc chắn là loài người có thể chấp nhận được “những tiêu chuẩn mang
tính toàn cầu, hay nếu chúng ta có thể nói, “một hệ tư tưởng chung cho
toàn thể nhân loại”. Nói khác đi, điều ấy hàm ý rằng có một thỏa hiệp nhất
thống giữa loài người chúng ta về phương cách chung để tạo nên các tiêu
chuẩn phổ quát mang tính khả thi trong mỗi một nhân cách nhằm vào mục tiêu
phát triển hài hòa thiện tính của con người. Như mọi người đã biết, đối
với Phật giáo, trí tuệ (prajna) và từ bi (mettà-karuna) là hai tiêu chuẩn
rõ rệt nhất là đáng chú ý nhất. Dĩ nhiên, hai phẩm chất đó là bất khả phân
khi nào một trong hai yếu tố ấy được toàn thiện (như đã được bàn luận).
Tuy thế, vấn đề không thể chia cắt này sẽ trở nên rõ ràng hơn qua lời phát
biểu của học giả vĩ đại Ấn Ðộ, Krishnamurti, khi ông giải thích về mối
quan hệ của chúng như sau:
“Bất cứ ở đâu có sự thương yêu, ở đấy có từ bi; và từ bi có khía cạnh
trí tuệ riêng của nó. Ðó là hình thái siêu việt của trí tuệ, nhưng không
phải là sự hiểu biết về các ý tưởng, sự khôn ngoan gian xảo, dối trá, lừa
bịp, và những thứ tương tự như thế; mà ở đó chỉ là sự yêu thương và lòng
từ bi trọn vẹn và một sự siêu việt về trí tuệ vốn không phải là loại hiểu
biết máy móc.” Do đó, sự áp dụng thích đáng tư tưởng Avalokitesvara
(Quán Thế Âm) được gợi ý ở đây hy vọng sẽ được một số tín đồ Phật giáo
chấp nhận.
Tu tập lòng từ
ngang qua hạnh bố thí (dàna)
Ðức Phật
giải thích lý do tại sao người ta phải tu tập và nuôi dưỡng lòng từ qua
đoạn kinh sau đây:
“Này
Rahula, hãy tu tập sự tu tập về lòng từ. Này Rahula, do tu tập sự tu tập
về lòng từ, cái gì thuộc sân tâm sẽ được trừ diệt. Này Rahula, hãy tu tập
sự tu tập về lòng từ. Này Rahula, do tu tập sự tu tập về lòng từ cái gì
thuộc hại tâm sẽ được trừ diệt.”
Thêm vào
đó, người nào với tâm giải thoát ngang qua việc tu tập và nuôi dưỡng lòng
từ có thể đạt được tám điều lợi ích:
“Ngủ
được an lạc, dậy được an lạc, không thấy ác mộng, được người ái mộ, được
phi nhân ái mộ, chư Thiên hộ trì, lửa hay thuốc độc, hay kiếm không gia
hại, nếu không thông đạt thượng vị, đạt được Phạm thiên giới.”
Trong ý
nghĩa phổ quát và hầu như chấp nhận được, người ta có thể nói rằng các
điểm lợi lạc vừa đề cập ở trên, có nguồn gốc từ việc tu tập lòng từ, là
ước mong chung của toàn thể mọi người. Tuy nhiên, cho đến nay có rất nhiều
ý kiến khác nhau liên hệ đến thuật ngữ “mettà” (từ) và karunà (bi) trong
cả hai lãnh vực lý thuyết và thực hành. Do vậy, có lẽ chúng ta sẽ không
lạc đề khi bàn thảo một cách ngắn gọn về hai từ ấy.
Theo Bộ
Bách Khoa Phật Giáo, karunà (bi) là sự biệu hiện của khái niệm về lòng
trắc ẩn, do đó nó được diễn tả như là ước mong loại trừ những gì bất hại
và không hạnh phúc đối với người khác. Thêm vào đó, ngài Buddhaghosa
(Phật-âm) cũng cho chúng ta biết rằng “cảm giác khiến cho thiện tâm của
con người bị xúc động khi thấy nổi khổ đau của người khác gọi là karunà
(bi hay lòng trắc ẩn) (paraduke sati sàdhunam hadayakamnam karotì tì
karunà).
Còn theo
định nghĩa của Từ Ðiển Pali-English, mettà (từ) được biết đến như là lòng
yêu thương (love), quan hệ thân thiện (amity), sự thông cảm (sympathy), sự
thân thiện (friendliness), sự quan tâm tích cực đến người khác (mejjati
metta siniyhati attho). Sự ứng dụng của từ này biểu thị nhiều ý nghĩa khác
nhau như là tâm chứa đầy tình thương (mettà-sahagatena cetasa, hay
mettà-cittam), hay sự thân thiện hoặc thông cảm với (mettà karoti), hay
thiền quán về lòng yêu thương (mettà-jhàna).
Trong khi ấy, karunà có nghĩa là mong ước đem lợi ích và điều tốt lành đến
cho đồng loại của mình (ahita dukkha apanayakamata), hay ước mong loại bỏ
các độc hại và thống khổ cho đồng loại của mình; hoặc karunà cũng biểu thị
trạng thái cao đẹp của lòng yêu thương đối với tất cả chúng sanh
(paradukhe sati sadhunam hadaya kampanam karoti).
Từ một
vài định nghĩa vừa đề cập ở trên, chúng ta có thể thấy rằng có một sự nối
kết không thể tách biệt giữa mettà và karunà. Trong thực tế, hai đặc tính
này bổ sung cho nhau, vì chính mettà (từ hay sự yêu thương) đã hàm ẩn ý
nghĩa của karunà (bi hay lòng trắc ẩn), và ngược lại. Thêm vào đó, theo
truyền thống của Phật giáo Phát triển, mettà và karunà thường được gộp
chung thành mettà-karunà (từ bi). Cũng tương tự như thế, chúng ta có thể
dễ dàng tìm thấy những lời dạy của Ðức Phật về sự tương tác và mối quan hệ
bất khả phân của mettà và karunà qua bài pháp Mettasuttam (kinh Từ Bi)
trong Suttanipàta của Phật giáo Thượng Tọa Bộ.
Do thế,
sự thực hành bố thí rõ ràng là một trong những phương pháp tốt nhất để
nuôi dưỡng và phát triển tâm từ bi. Hiển nhiên, không chỉ tư tưởng vị tha
có thể sinh khởi trong người hành trì xuyên qua các việc làm như thế, mà
các tư duy sai lầm, bệnh hoạn như khát ái, sân hận, ích kỷ... làm tổn
thương đến cá nhân và tập thể cũng được kiểm soát và loại trừ khi tâm từ
bi phát sinh. Chắc chắn rằng khi những căn nguyên khổ đau được đoạn tận
cũng là lúc hành giả cảm nghiệm được cảm giác hạnh phúc ngay chính trong
cuộc sống này. Từ đây, chúng ta có thể nói một cách tự tin rằng tâm từ bi
do việc tu tập bố thí đem lại đóng một vai trò thiết yếu trong việc tạo ra
một mối quan hệ không biên giới trong lãnh vực nhân đạo và vị tha giữa
toàn thể nhân loại. Ðó là lý do tại sao Ðức Phật không ngừng ca ngợi và
khuyến khích việc thực hành giáo lý bộ thí, và xem công hạnh đó như là một
trong những phương tiện ưu việt nhất để thành tựu mục đích giải thoát sau
cùng. Tuy nhiên, điều có ý nghĩa và thú vị hơn nữa liên quan đến chủ đề
trên là phương cách bố thí, hay nghệ thuật cho, mà theo giáo lý Phật giáo,
chúng ta có thể chia nó thành ba loại; đó là (1) bố thí vật chất (tài
thí), (2) bố thí pháp (pháp thí), và (3) bố thí sự không sợ hãi (vô úy
thí). Ba phương cách ấy thật sự có lẽ mở ra cơ hội thuận lợi cho người ta
chọn lựa nhằm phù hợp với những căn cơ khác nhau cũng như điều kiện cá
nhân của từng người.
Bố thí tài vật (Amisadàna)
Chúng ta
có thể nói rằng hình thức bố thí tài vật là thích hợp nhất đối với bất cứ
ai muốn nuôi dưỡng tâm từ bi. Giải thích theo ngữ cảnh của nội dung đang
được thảo luận, phương pháp tu hay nghệ thuật cho này là rất lợi ích trong
lãnh vực đời sống tâm linh. Nghĩa là, nếu bất cứ ai mong muốn có được sự
gia hộ của Bồ Tát Avalokitesvara (Quán Thế Âm) bằng việc chuẩn bị sẵn sàng
các thiết bị tâm linh nhằm để tương ứng với lời thệ nguyện của Ngài. Cách
tu tập này cũng biểu thị một sứ mệnh vô cùng ý nghĩa trong lãnh vực đời
sống xã hội xuyên qua sự ảnh hưởng thực tiễn của nó trên cuộc sống của
người nghèo, người bệnh, người cần sự cứu giúp v.v... Chắc chắn rằng nhiều
khoảng cách về vật chất cũng như tinh thần trong xã hội loài người hy vọng
cũng được thu hẹp lại ngang qua việc ứng dụng thích đáng và cụ thể nghệ
thuật bố thí trên. Quả thật, việc bố thí vật chất là hoàn toàn thực tế và
có ý nghĩa, vì tất cả mọi người đều có thế áp dụng phương thức cho này tùy
theo hoàn cảnh của từng cá nhân. Vấn đề giàu, nghèo, hay bất cứ lý do vì
khác, đều không đóng vai trò quan trọng việc hành trì như thế, đặc biệt là
trong hệ thống giáo lý Phật giáo. Vì như chúng ta đã biết, theo lý thuyết
nghiệp của Phật giáo, yếu tố chủ đạo để tạo thành một hành động (nghiệp
lực) nào đó là sự tác ý hay chủ ý của hành động. Do vậy, bất cứ loại tài
vật nào, ví dụ như một sợi chỉ, hoặc cây kim, đều có thể là một món quà có
ý nghĩa nếu nó được cho với thiện tâm. Có vô số ví dụ biểu trưng trong
kinh điển Phật giáo diễn tả về những tác dụng ưu việt của sự bố thí tài
vật, nhưng có lẽ 85 câu chuyện trong tập Vimànavatthu
là được chính Ðức Phật đặc biệt giải thích cặn kẽ và hạnh bố thí. Nổi bật
và đáng chú ý hơn ở đây là việc phân biệt và làm tách bạch khía cạnh manh
tính tâm lý liên hệ đến vấn đề từ bi (mettà-karunà) giữa giáo lý Phật
giáo và các hệ thống tư tưởng khác. Ðó là, nếu bố thí tài vật được thực
hiện với tâm từ bi thì tác dụng của nó có thể lớn hơn nếu so sánh cùng
việc bố thí tài vật mà với các dụng tâm khác. Lời dạy sau đây của Ðức Thế
Tôn sẽ soi sáng lập luận trên:
“Không
phải chỉ nhờ vào năng lực của tài vật khiến cho việc bố thí có được kết
quả đặc biệt, nhưng đúng hơn là ngang qua lĩnh vực tư duy và năng lực tư
duy đặt vào vật cho khiến cho công việc bố thí đạt được lợi ích lớn. Do
vậy, ngay cả chỉ một nhúm gạo, một mảnh giẻ rách, hay một ít có lá... được
cho với tấm lòng chân thành nhắm đến người thọ nhận chúng, hành động bố
thí ấy sẽ có được công đức to lớn, chói sáng...”
Lý do
cho vấn đề trên có thể được hiểu một cách dễ dàng, bởi vì khi tâm từ bi
hiện hữu, lập tức lúc ấy những tư tưởng độc ác, nguy hiểm, bạo động, hận
thù, ganh tị, v.v... biến mất khỏi tâm thức của con người. Hiển nhiên rằng
an lạc và hạnh phúc sẽ hiện hữu và tồn tại trong xã hội nào, nơi mà từ bi
(mettà-karunà) là một thành tố tất yếu của nó và luôn được nuôi dưỡng và
phát triển.
Bố thí Pháp, nghĩa là lời nói ích lợi và tốt lành (dharmadàna)
Phương
thức bố thí tiếp theo là bố thí Pháp,
nghĩa là cho những lời nói tốt đẹp và có ích lợi. Phương thức bố thí này
rõ ràng có thể đem lại nhiều kết quả tốt, có tác động đến đời sống của
nhân loại hơn cách bố thí thứ nhất, vì kết quả thật sự của bố thí pháp
được giáo lý Phật giáo diễn đạt như sau:
“Này các
Tỷ kheo, có hai loại bố thí: bố thí tài và bố thí Pháp. Này các Tỷ kheo,
đây là bố thí tối thượng trong hai loại bố thí này, tức là bố thí Pháp...
Này các
Tỷ kheo, có hai sự phân phát này: Phân phát tài vật và phân phát Pháp. Ðây
là phân phát tối thượng trong hai loại phân phát này, tức là phân phát
Pháp...
Này các
Tỷ kheo, có hai loại nhiêu ích này, nhiêu ích tài vật và nhiêu ích Pháp.
Này các Tỷ kheo, đây là nhiêu ích tối thượng trong hai loại nhiêu ích này,
tức là nhiêu ích Pháp.”
Tại sao
bố thí Pháp lại có thể đem lại nhiều lợi ích và ảnh hưởng hơn bố thí tài
vật? Người ta không thể phủ nhận sự kiện rằng yếu tố có nghĩa và mang tính
nhân văn nhất trong việc bố thí là cách cho mà không phải là tài vật được
cho. Nghĩa là, bố thí luôn phụ thuộc vào cách thực hiện, cách nói năng,
cách trao tặng tài vật, sự kính trọng, thông cảm v.v...; hay nói một cách
chính xác hơn, tùy thuộc vào của cải, vật chất mà người nhận có thể cảm
nhận được các cảm giác thoải mái và hạnh phúc. Tuy nhiên, trong thời đại
ngày nay, nghệ thuật sống như vậy dường như ít thấy và ít được chú trọng.
Ngược lại, do ảnh hưởng nếp sống thực dụng, con người thời nay đang dần
dần tách ly nghệ thuật sống mang tính nhân văn, tức sự toàn thiện nhân
cách. Một thoáng nhìn qua các nạn nhân của thảm họa thiên tai, chiến
tranh, nghèo đói, v.v... quanh khắp thế giới chúng ta đang sống hẳn sẽ làm
sáng tỏ hành vi, cử chỉ và lối tư duy của con người trong thời đại văn
minh vật chất. Ðây là lý do tạo sao triết gia nổi tiếng người Ðức,
Immanuel Kant, cho rằng sự thành thật là hơn tất cả cách chính sách.
Rõ ràng, sự chân thành chỉ có thể hiện hữu trong mối quan hệ của con người
khi nào con người hiểu biết và thương yêu nhau thực sự. Nói cách khác, sự
chân chính là kết quả của nghệ thuật sống gồm đủ hai yếu tố từ bi và trí
tuệ. Do đó, giáo lý bố thí, cụ thể là bố thí pháp, hy vọng sẽ đóng một vai
trò quan trọng trong xã hội đương thời, đặc biệt khi nếp sống con người
đang ngập chìm trong ngỗn loạn và rối rắm. Tất nhiên, nếu việc tu tập,
hành trì ấy được thực hiện trong mỗi cuộc sống chúng ta, chắc chắn rằng cá
nhân, gia đình, cũng như xã hội sẽ có thể nuôi dưỡng và phát triển sự hài
hòa mỗi ngày mỗi tốt đẹp hơn giữa các thành viên của nó.
Thí vô úy,
tức cho sự không sợ hãi (Abhayadàna)
Tuy thế,
phương pháp tốt nhất có thể tạo ra một môi trường hạnh phúc và an bình
chân thật là thí vô úy hay cho không sợ hãi; bởi vì, trong ý nghĩa sâu
thẳm nhất của nó, trạng thái vô úy (không sợ hãi) được xem là đồng nghĩa
với giải thoát và hạnh phúc. Nhưng ai có thể là người ban tặng sự vô úy?
Dĩ nhiên, trước hết người ấy là Ðức Phật, vì giống như bà mẹ lấy chính
mạng sống để bảo vệ đứa con duy nhất của mình, Ðức Phật xuất hiện trong
cuộc đời này là vì lòng từ bi vô lượng của Ngài luôn luôn được hướng đến
tất cả chúng sanh.
Tuy nhiên, như đã được bàn thảo ở Chương V, Ðức Phật là một nhân cách toàn
thiện cả hai đức tính từ bi (mettà-karunà) và trí tuệ (prajnà); nghĩa là,
vô úy hay sự không sợ hãi là kết quả của lòng từ bi và trí tuệ. Ðây là lý
do tại sao, trong phẩm thứ 24 của Saddharmapundarika-sutra (Kinh Diệu Pháp
Liên Hoa) Bồ Tát Avalokitesvara (Quán Thế Âm) được gọi là “Thí Vô Úy Giả”
tức người bố thí sự không sợ hãi. Bên cạnh nhân cách lý tưởng trên, chúng
ta thấy rằng còn có một mẫu người thứ hai cũng có thể đem sự không sợ hãi
đến cho chúng sanh. Ðó là những người ngang qua nỗ lực cao đẹp và phi
thường của tự thân đạt được sự trọn vẹn về giới, định, tuệ, giải thoát, và
tri kiến giải thoát (hiểu biết về việc chứng đắc giải thoát). Chúng ta sẽ
trích dẫn lời xác chứng của Ðức Thế Tôn nhằm minh chứng cho lập luận vừa
nêu và đồng thời cũng cố niềm tin cho những ai có cơ hội liên hệ với con
người toàn thiện các đức tính như thế:
“Này các
Tỷ kheo, những Tỷ kheo nào đầy đủ giới, đầy đủ định, đầy đủ tuệ, đầy đủ
giải thoát, đầy đủ giải thoát tri kiến..., Ta tuyên bố rằng chỉ thấy các
vị như vậy là lợi ích nhiều cho cho các Tỷ kheo ấy; này các Tỷ kheo Ta
tuyên bố rằng chỉ nghe các vị như vậy..., chỉ thân cận các vị như vậy,
... chỉ nhớ nghĩ đến các vị như vậy là lợi ích nhiều cho các Tỷ kheo...”
Nói khác
đi, bất cứ khi nào và bất cứ ở đâu mà hận thù, đấu tranh, giết hại lẫn
nhau, v.v... hiện hữu, cùng lúc đó các sự kiện vừa nêu cũng nói lên rằng
trong thời đại ấy và trong không gian ấy không có những nhân cách toàn
thiện.
Như
người ta đã thấy, nếp sống có thể tạo nên mẫu người tiêu biểu toàn thiện
như thế được sản sinh từ con đường “Trung đạo” của Phật giáo, vì chính
ngang qua việc thực hành giáo lý Trung đạo mà dục vọng, hận thù, và vô
minh (ba cội nguồn chủ yếu của khổ đau) của con người hy vọng được loại
trừ từng bước; và những hành tố đối lập của chúng, tức vô tham, từ bi và
trí tuệ, xuất hiện trong tâm thức của hành giả, giống như bóng tối bị xóa
tan khi mặt trời ló dạng.
Huấn
luyện lòng từ bi ngang qua việc tu tập thiền định
Như
người ta thường nói, mọi thành tựu mang tính sáng tạo luôn luôn là kết quả
của một sự kiên nhẫn phi thường và một sự tập trung cao độ. Mọi sáng tạo,
có thể là công trình khoa học, nghệ thuật, âm nhạc v.v..., đều là sản phẩm
của sự tập trung (thiền định) tột cùng. Tất nhiên, trong lãnh vực chứng
đắc tâm linh việc này lại rõ ràng hơn. Sự kiện chứng ngộ độc đáo, vô song
của Ðức Phật Gotama (Cù Ðàm) dưới cội cây Bồ Ðề (Bodhi) tại Bồ đề đạo
tràng (Boghayà) sau 49 ngày đêm thực hành thiền định có thể được xem như
là một biểu mẫu cụ thể và hùng hồn nhất cho sự thật đó. Ðiều quan trọng
hơn nữa mà chúng ta cần phải lưu ý ở đây là vai trò của mettà-karunà (từ
bi) trong quá trình tu tập thiền định. Theo kinh Bộ Tương Ưng, nếu một
hành giả tu tập bảy chi phần của thánh đạo (thất giác chi) cùng với bốn
thứ tâm vô lượng (tứ vô lượng tâm), tức mettà (từ), karunà (bi), mudita
(hỷ) và upeka (xả), vị ấy có thể dễ dàng thành tựu các cấp độ thiền định
hơn người chỉ tu tập bảy chi phần thánh đạo.
Quả thật, qua việc tu tập tứ vô lượng tâm một cách đúng đắng người ta có
thể chứng đắc giải thoát sau cùng như được diễn tả trong kinh Trung Bộ:
“Vị ấy
an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, cũng vậy phương thứ
hai,... phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên dưới bề ngang,
hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm
câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân...
Vị ấy
biết: “Có cái này, có cái hạ liệt, có cái cao thượng, có sự giải thoát
vượt qua các tưởng. Do vị ấy biết như vậy, thấy như vậy, tâm được giải
thoát khỏi dục lậu, tâm được giải thoát khỏi hữu lậu, tâm được giải thoát
được khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát, trí khởi lên: “Ta đã
giải thoát, sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm
xong, không còn trở lui trạng thái này nữa.”
Cũng
giống như đời sống tâm linh, sự tu dưỡng về cái nhìn từ bi ngang qua thực
tập thiền định được tin là có một vai trò quan trọng trong đời sống hàng
ngày của quần chúng. Như mọi người thường công nhận khái ái, sân hận và
ngu dốt là ba cội rễ chính của mọi khổ đau, trắc trở đối với con người; và
chúng chỉ hiện hữu và tồn tại trong cái tâm hẹp hòi, ích kỷ và hiểm ác.
Tuy nhiên, những thứ ấy có thể từng bước được loại trừ khi nào ý niệm từ
bi xuất hiện trong tâm thức người ta. Nói khác đi, tư tưởng từ bi chắc
chắn sẽ khiến cho phiền não, lậu hoặc biến mất trong tâm thức con người.
Trong ý nghĩa đó, rõ ràng ý tưởng từ bi có thể đem lại an lạc và hạnh phúc
cho cả đời sống tôn giáo và xã hội nếu như chủ ý hay tác ý chính của hành
động (nghiệp) thật sự được lèo lái bởi việc thiền quán về từ bi.
Huấn
luyện cái nhìn trí tuệ hay cái nhìn Quán Thế Âm
Có lẽ sẽ
không có gì sai khi chúng ta nói rằng nếp sống của con người luôn luôn tùy
thuộc vào cấp độ về cái nhìn của người ấy. Quan điểm này hy vọng sẽ trở
nên rõ ràng hơn ngang qua ý nghĩa của câu danh ngôn Việt Nam: “Người buồn
cảnh có vui đâu bao giờ”. Như thế, do vì cái nhìn buồn rầu, sầu muộn của
con người khiến cảnh vật chung quanh người ấy mang khoác một màu sắc ảm
đạm tương tự. Nói cách khác, chính tự ngã của một người đưa người ấy đến
trạng thái hạnh phúc hay sầu muộn. Nhưng bản chất thật của tự ngã ấy là
gì? Theo Phật giáo, đó là một sự kết hợp của năm thành tố được gọi năm uẩn
hay năm nhóm, bao gồm sắc (vật chất), cảm thọ, tưởng, hành (tri giác), và
thức. Khi năm thành tố này nối kết lại với nhau, nó được gọi là “cá nhân”,
“tôi”, “chúng sanh”, v.v... Tuy nhiên, chúng ta sẽ không bao giờ tìm thấy
được bất cứ một cái ngã bất biến thường hằng nào trong sự phối hợp như
thế, và dĩ nhiên ngay cả trong từng chi phần của chúng. Vì thế nên Ðức
Phật đã dạy như sau “Tất cả pháp hữu vi (tức những thứ tồn tại có điều
kiện – all conditioned things) là vô thường (sabbe samakhàrà anicà); tất
cả các pháp hữu vi là khổ (sabbe samakhàrà dukkhà); và tất cả các pháp hữu
vi là vô ngã (sabbe samakhàrà anttà)”.
Như vậy, ngay tự thân năm uẩn hay năm nhóm này chỉ là các pháp hữu vi (sự
vật tồn tại có điều kiện), vậy thì làm thế nào để chúng ta tìm ra một thực
ngã trong các vật như thế? Trong thực tế, do không nhận thức được sự thật
này, tức ngang qua việc nhận thức sau lầm về tự ngã, con người phải khổ
đau trong vòng sinh tử, luân hồi.
Ngược
lại, cái nhìn trí tuệ hay cái nhìn Quán Thế Âm có thể giúp con người nhận
ra được thực chất của cuộc sống và của mọi sự vật với kết quả là tư tưởng
và cảm giác giải thoát sinh khởi và hiện hữu ngay trong đời sống của họ,
tại đây và bây giờ. Tuy nhiên, “Cái nhìn là gì? Cái nhìn trí tuệ hay cái
nhìn Quán Thế Âm là gì?”
Như
người ta thường hiểu, “nhìn là cái thấy với sự hiện diện của ý thức”; hay
nói khác đi, tâm nhìn sự vật ngang qua nhãn căn (con mắt). Ngang qua lập
luận trên chúng ta có thể nói rằng tâm nhìn sự vật ngang qua nhĩ căn (lỗ
tai), tỉ căn (lỗ mũi), thiệt căn (lưỡi), thân căn (thân thể) và ý căn
(thức). Với ý nghĩa trên của cái nhìn, định nghĩa cái nhìn liên hệ đến
thuật ngữ Avalokitesvara (như được chỉ rõ trong Chương IV) có thể được gợi
ý là “vị lắng nghe tiếng nói của cuộc đời”. Sự gợi ý này rõ ràng có tương
quan mật thiết với sự chuyển dịch thường thấy của ngôn ngữ Trung Hoa, đó
là Quán Thế Âm. Tất nhiên, ở đây người ta có thể thắc mắc rằng “cuộc đời
đang nói cái gì? Hay các pháp hiện hữu đang nói cái gì?” Hoa nở để rồi
tàn; trăng tròn để rồi khuyết; mây tụ để rồi tán v.v... Rõ ràng, mọi sự
vật đang nói tiếng nói vô thường, khổ và vô ngã; nghĩa là chúng đang nói
về ba đặc tánh chân thật (tam pháp ấn) của tất cả pháp hữu vi. Do đó, bất
cứ ai có thể lắng nghe được những tiếng nói ấy như thật, người ấy chắc
chắn sẽ đi ra khỏi sự chấp thủ về một cái ngã sai lầm. Không có các “ý
tưởng về “tôi”, “của tôi”, “và tự ngã của tôi” trong tâm thức con người,
hiển nhiên khổ đau cũng không có nơi trú ẩn. Ðây là những gì mà Ðức Phật
đã dạy trong bài Bát Nhã Tâm Kinh:
“Trong
khi trầm tư sâu xa vào trong sự toàn thiện của trí tuệ (prajnàparamità) và
nhận thức được năm uẩn (tức sắc, thọ tưởng, hành, và thức) là không có tự
ngã, Bồ Tát Avalokitesvara (Quán Thế Âm) vượt qua được tất cả chướng ngại
và khổ ách”
(Quán Tự
Tại Bồ Tát hành thâm bát nhã ba la mật đa thời chiếu kiến giai không độ
nhất thiết khổ ách).
Hoặc,
“Sắc ví với bọt nước,
Thọ ví bong bóng nước,
Tưởng ví ráng mặt trời,
Hành ví như cây chuối,
Thức ví với ảo thuật,
Ðấng bà con mặt trời,
Ðã thuyết giảng như vậy”
Ngang
qua phương pháp tuệ quán (cái nhìn trí tuệ) ở trên, hiển nhiên tâm giải
thoát và trí tuệ giải thoát có thể được mong chờ như là hệ quả của nó qua
lời tuyên bố sau đây của Ðức Phật:
“Thấy
vậy, này các Tỷ kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với sắc... đối
với thọ... đối với tưởng... đối với hành... nhàm chán đối với thức. Do
nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải
thoát, trí khởi lên: ‘Ta đã giải thoát... không còn trở lui trạng thái này
nữa’.”
Như thế,
xuyên qua việc huấn luyện cái nhìn Quán Thế Âm (Avalokitesvara), hay nói
một cách chính xác hơn ngang qua tuệ quán (cái nhìn trí tuệ vipassanà)
hành giả có thể nhận chân được sự thật của mọi sự vật, đó là vô thường,
khổ và vô ngã. Nhờ vậy, sự chứng ngộ chân lý sẽ sinh khởi trong tâm thức
của người ấy như thể họ đang được Bồ Tát Quán Thế Âm gia hộ, và làm cho họ
có thể cảm nghiệm được hạnh phúc và giải thoát mà không hề có chấp thủ.
Trong thực tế, đây không chỉ là mục tiêu cao nhất của lý tưởng Bồ Tát nói
chung, và giáo lý Quán Thế Âm nói riêng, mà còn là trí tuệ độc đáo, vô
song mà ngang qua đó Ðức Phật đã chứng ngộ chân lý tối hậu, tức giáo lý
Duyên Sinh (Pratityasamutpàda), và tuyên bố chứng đắc Phật quả. Do đó,
không hề do dự người ta có thể nói rằng mục tiêu này là nơi hội tụ thật sự
của cả hai hệ thống giáo lý Phật giáo, tức Phật giáo Nam Truyền hay Thượng
Tọa Bộ và Phật giáo Bắc Truyền hay Phát Triển. Ðây cũng chính là phương
pháp tu tập chủ đạo của tín đồ Phật giáo:
“Do vậy, hãy nhìn các pháp hữu vi,
Như là ngọn đèn, là huyển cảnh, là vì sao,
Như trò ảo thuật, như hạt sương, bọt nước,
Như giấc mộng, như ánh chớp, đám mây.”
Và
“Hãy nhìn như bọt nước,
Hãy nhìn như huyển cảnh,
Quán nhìn đời như vậy,
Thần chết không bắt gặp.”
Hai nghệ thuật sống
Dường
như đang có một sự ngộ nhận nào đó về tư tưởng từ bi (mettà-karunà) giữa
đại đa số quần chúng, vì người ta thường nghĩ rằng nếu ai có thể bố thí
tài vật gì đó cho kẻ khác, ví dụ bố thí thức ăn, quần áo, thuốc men,
v.v... cho người nghèo, người bịnh, trẻ mồ côi..., hành động bố thí ấy có
thể được xem là công tác từ thiện. Nói khác đi, hoạt động từ thiện có thể
được thực hiện như là một cách thức biểu hiện một số đặc tính đạo đức và
đức hạnh của người ta. Bên cạnh ấy, hành động như thế trong lãnh vực tôn
giáo cũng thường được xem là cách để tích lũy công đức vì lợi ích cho kiếp
sau. Tuy nhiên, chúng ta có thể giả định rằng dù thế nào đi nữa, trong ý
nghĩa sâu rộng, chân giá trị của từ bi (mettà-karunà) cũng như chân giá
trị của con người không chỉ bị giới hạn mà còn bị tổn thương. Do thế,
chúng ta cần phải xem xét lại ý nghĩa của chúng, đặc biệt trong phạm trù
của giáo lý Phật giáo.
Như
Aristole, triết gia và là nhà khoa học thời danh của Hy Lạp cổ đại, đã
từng thừa nhận, mục đích của cuộc sống không phải là cái hay, cái đẹp, mà
là hạnh phúc. Theo quan điểm của Aristole, khác với mọi chủng loại hữu
tình, hạnh phúc con người là nằm ở chồ toàn thiện những đức tính của con
người.
Trong cùng cách suy nghĩ, G.Banseladze, nhà đạo đức học đương đại của Nga,
cho rằng vấn đề lý tưởng tối cao và ý nghĩa của cuộc sống cốt yếu là vấn
đề hạnh phúc.
Như thế, chúng ta có thể nói rằng bất cứ khi nào công tác từ thiện xã hội
được thực hiện, cả hai phía, tức cả người cho lẫn người nhận, đều gặt hái
lợi ích từ việc làm ấy. Giải thích một cách cụ thể hơn, rõ ràng người cho
có thể hưởng được cảm giác hạnh phúc nhờ vào nỗ lực của tự thân trong việc
hoàn thiện các phẩm chất đặc biệt của con người. Cùng lúc ấy, người nhận
cũng có được lợi ích nhờ bởi chính công việc ấy. Tuy nhiên, theo các tài
liệu nghiên cứu có giá trị về sự kiện này đã được công bố, người cho cảm
nhận được nhiều hạnh phúc hơn người nhận trong ý nghĩa thời gian.
Kết luận quan trọng trên sẽ làm chúng ta ngạc nhiên khi sự so sánh về
triết lý giữa hai hệ thống triết học Ðông phương và Tây phương về quan
điểm này được thực hiện; bởi vì theo Phật giáo, cảm thọ (hay cảm giác)
liên hệ đến vật chất chỉ có giá trị bằng một phần mười sáu (1/6) so với
cảm thọ (cảm giác) hạnh phúc do tu tập lòng từ đem lại.
Thêm vào
đó, Spinoza, triết gia nổi tiếng của Do Thái sống sau thời đại Aristotle
khoảng chừng 200 năm, cho rằng hạnh phúc là mục đích của mọi hạnh động.
Theo định nghĩa của Spinoza, hạnh phúc là một thứ gì ấy rất đơn giản và có
thể nhận thức được; ấy là sự hiện hữu các cảm giác thoải mái, và vắng mặt
tất cả cảm giác khổ đau. Nói khác đi, mục tiêu của cuộc sống con người,
bao gồm cả hai lãnh vực xã hội và tôn giáo, là kiếm tìm hạnh phúc. Tuy có
vô số khái niệm hạnh phúc, và do đó có rất nhiều phương thức kiếm tìm hạnh
phúc khác nhau, nhưng người ta hy vọng rằng khuynh hướng sống phổ biến
nhất sau đây của con người trong thời đại ngày nay có lẽ xứng đáng được
nghiên cứu và xem xét. Ðó là, giới tín đồ tôn giáo theo khuynh hướng thứ
nhất, với niềm tin truyền thống vào Thượng Ðế hay Thánh Thần như là đấng
tạo thế, ủy thác và giao phó tất cả trách nhiệm về hành động (nghiệp) của
họ cho các đấng sáng tạo thế gian. Ðối với họ, vấn đề thiện hay ác, lành
hay dữ trong tương lai luôn tùy thuộc vào ý muốn của Thượng Ðế hay Thánh
Thần; đức hạnh tốt nhất mà họ có thể làm là vâng theo ý muốn của những
đấng sáng thế ấy. Về đặc điểm đời sống xã hội của nghệ thuật sống trên,
theo lời phát biểu trong tác phẩm nổi tiếng của Erich Fromm “là trao
đổi và tiếp nhận, là đổi chác và tiêu thụ; tất cả mọi thứ, cả tinh thần
lẫn vật chất, đều trở thành đối tượng để đổi chác và tiêu thụ.”
Ngang qua lý tưởng sống và phương tiện giải trí vật chất phục vụ cho nó,
có thể không có gì để tranh cãi khi người ta nói rằng mục tiêu của khuynh
hướng sống này là nhắm vào việc thoả mãn dục vọng riêng tư cá nhân trong
chừng mực cao nhất mà người ta có thể có được và cho đến khi nào con người
đạt đến mục tiêu ấy. Rõ ràng, khuynh hướng sống trên, như mọi người đã
biết, không chỉ đang thống trị xã hội các nước Âu Mỹ hiện nay, mà còn được
các dân tộc Ðông phương, gián tiếp hoặc trực tiếp, hoan nghênh chào đón.
Tuy nhiên, một sự kiện dường như chân thật là khuynh hướng sống đó luôn
mang theo với nó một sự giới hạn liên hệ đến vấn đề thời gian khiến cho
tín đồ của nó không bao giờ có được cảm giác thật sự thỏa mãn trong niềm
khoái cảm hạnh phúc. Ðiểm này sẽ trở nên rõ ràng qua lời phân tích và lý
giải sau đây của nhà đạo đức học người Nga, G.Banseladze: “Trong lãnh
vực khoái cảm vật chất, cảm giác khoái cảm của nó càng cao thì thời gian
càng ngắn. Cường độ khoái cảm trong lãnh vực vật chất luôn tỷ lệ nghịch
với thời gian.”
Tất nhiên, khi dục vọng không được thỏa mãn, với khát vọng nóng bỏng thiêu
đốt thúc dục người ta tiếp tục tiến về phía trước để tìm kiếm những cảm
giác mới, và dĩ nhiên cường độ của chúng phải mạnh hơn các cảm giác trước
đó. Ðể đạt được điều ấy, vô số phương tiện giải trí về vật chất, thậm chí
một số loại thuốc kích thích làm tổn thương đến sức khỏe con người, ví dụ
như thuốc phiện, côcain, v.v... được sản xuất hằng ngày để thỏa mãn mục
đích như thế. Mỉa may thay, dường như không những người ta không thể đạt
được mọi thức họ đang kiếm tìm, mà càng đắm chìm vào trong các thứ lạc dục
như thế người ta càng cảm thấy thèm khát vì sự thiếu thốn cảm giác. Tình
huống này có thể ví như người đang khát nước mà lại vốc nước biển để uống;
và dĩ nhiên người ấy sẽ không bao giờ cảm thấy đã khát. Nghiêm trọng hơn
thế nữa, do vì không thỏa mãn được trạng thái cảm xúc tình cảm trong hiện
tại, số người ấy lao đầu vào trong một số phương tiện giải trí gây chết
người. Hành động ấy, trước hết, không những kết liễu cuộc đời của họ do vì
khủng hoảng cảm xúc, mà thật sự còn làm cho các nguồn tài nguyên thiên
nhiên đi đến cạn kiệt vì luôn bị khai thác để phục vụ cho các nhu cầu bức
xúc đó.
Trái lại
với lối sống trên, nghệ thuật sống đòi hỏi cả tình thương lẫn trí tuệ mà
dường như chỉ được một số ít người mến chuộng là khuynh hướng sống điển
hình thứ hai trong thế giới hiện nay. Lời phát biểu ngắn gọn sau đây của
Paracelus có thể tóm tắt triết lý sống của thiểu số người này “Người
không biết gì thì chẳng yêu thương bất cứ gì. Người không biết làm gì, sẽ
chẳng hiểu gì cả... Nhưng người nào hiểu biết, người ấy yêu thương, chú ý,
lãnh hội... Kiến thức càng quy tụ vào một đối tượng, tình yêu càng to
lớn...”
Hiển nhiên, khái niệm thánh thần hay đấng tạo thế, rõ ràng không chiếm vai
trò quan trọng trong lối sống trên. Không có gì để ghi ngờ về sự kiện rằng
trách nhiệm cá nhân đối với mọi việc làm (nghiệp) là kim chỉ nam cho tất
cả hành động họ. Theo quan điểm sống của khuynh hướng thứ hai, hạnh phúc
có thể tìm thấy được trong cả hai lãnh vực của cuộc sống, đó là vật chất
lẫn tinh thần. Lập luận sau đây hy vọng sẽ soi sáng cho tư tưởng vừa nêu.
Trước hết, cảm giác hạnh phúc về tâm linh hay tinh thần sẽ sinh khởi và
tồn tại ngang qua việc trau dồi và cải thiện hai đức tính đặc thù, đó là
sự hiểu biết (trí tuệ) và tình yêu thương (từ bi), tức mục tiêu lý tưởng
của cuộc sống. Thêm vào đó, như học giả G.Banseladze đã chứng minh, yếu tố
thời gian trong lãnh vực cảm xúc tinh thần hay tâm linh có một vai trò
khác biệt nếu so sánh với lãnh vực khoái cảm vật chất. Cường độ cảm xúc
tâm linh thì tỷ lệ thuận với thời gian. Cảm xúc khoái cảm càng cao thì
thời gian tồn tại của nó càng được kéo dài.
Do vậy, sự toàn thiện hai đức tính từ bi (lòng yêu thương) và trí tuệ (sự
hiểu biết) là mục tiêu tối hậu của nghệ thuật sống này.
Tuy
nhiên, như đã được các danh nhân thế giới như Bertrall Russell,
Mahatma Gandhi, Erich Frommm,
Toynbee and Ikeda
v.v... vạch rõ, nhu cầu thiết yếu thật sự của thế giới đương thời là sự mở
rộng và phát triển tình yêu thương (lòng từ bi). Nguyên nhân là do vì bị
ảnh hưởng lối sống chủ nghĩa vật chất thực dụng, con người thời đại đang
càng ngày càng trở nên xa lạ với chính họ, đang tách ly dần dần khỏi đồng
loại và thế giới tự nhiên. Xuyên qua việc nới rộng và phát triển tình yêu
thương, người ta hy vọng là sẽ nhận thức giá trị con người. Dường như,
theo thiển ý của tác giả, Elbert Einstein, nhà khoa học vĩ đại của thế kỷ
thứ 20, đã từng cảm nghiệm về chúng khi ông phát biểu rằng: “giá trị
chân chính của một con người chủ yếu được xác định bằng các tiêu chuẩn và
ý nghĩa trong đó người ấy đã đạt tới sự giải thoát khỏi cái ngã.”
Theo
định hướng và mục đích của nghệ thuật sống thứ hai người ta có thể thấy ra
rằng nghệ thuật sống của Phật giáo ngang qua lý tưởng Bồ Tát nói chung, và
giáo lý Avalokitesvara (Quán Thế Âm) nói riêng, đã thực sự hiển bày những
đặc tính tương tự. Do thế, rõ ràng đã đến lúc cho giới tín đồ Phật giáo
nói riêng và con người nói chung tự chọn lựa cho mình một trong hai cách
sống như đã được bàn luận và vạch ra ở trên.
---o0o---
[ Mục Lục]
[Chương 1]
[Chương 2] [Chương
3]
[Chương 4]
[Chương 5]
[Chương
6] [Chương 7]
---o0o---
Trình bày: Linh Thoại
Cập nhật: 01-12-2003