VIỆT NAM PHẬT GIÁO SỬ
LUẬN
Nguyễn Lang
---o0o---
CÙNG BẠN ÐỌC
Từ mấy năm nay, trong xu thế
đổi mới toàn diện của đất nước, đời sống văn học, nghệ thuật nói chung đã
có những chuyển biến năng động và tích cực với các mặt biểu hiện phong
phú, đa dạng, cởi mở hơn, và việc tìm hiểu những truyền thống văn hóa,
tinh thần đặc sắc, nhiều mặt, trong lịch sử trên dưới 4.000 năm của cha
ông ta cũng trở thành một đòi hỏi ngày càng mạnh mẽ.
Ðáp ứng yêu cầu đó, Nhà xuất bản Văn học đã và sẽ lần lượt cho tái
bản một số công trình nghiên cứu, biên soạn, dịch thuật, của nhiều học giả
trong Nam ngoài Bắc, hoặc từng được nhiều dư luận bạn đọc chú ý, hoặc đã
trở thành những tư liệu hiếm có trong các thư viện, như cuốn La sơn phu
tử, Chinh phụ ngâm bị khảo của Hoàng Xuân Hãn, Lão Tử - Ðạo đức
kinh của Thu Giang Nguyễn Duy Cần, Kinh dịch của Nguyễn Hiến
Lê, Kinh Thi của Tạ Quang Phát, Luận ngữ của Lê Phục Thiện,
Những đại lễ và vũ khúc của vua chúa Việt Nam của Ðỗ Bằng Ðoàn và
Ðỗ Trọng Huề, Chơi chữ của Lãng Nhân... Bộ sách Việt Nam Phật
giáo sử luận của Giáo sư Nguyễn Lang cũng nằm trong danh mục
“tủ sách học vấn” kể trên.
Như thông lệ đối với bất kỳ bộ sách nào được đem ra tái bản, trước
khi đưa in Việt Nam Phật giáo sử luận, chúng tôi đã tổ chức một Hội
đồng thẩm định, gồm các ông: Thượng tọa Thích Thanh Tứ, Phó viện
trưởng Phân viện Phật Học Việt Nam; Giáo sư sử học Hà Văn Tấn, Viện
trưởng Viện Khảo cổ học, Phó viện trưởng Phân viện Phật Học Việt Nam, làm
Chủ tịch. Hội đồng đã làm việc tích cực đóng góp nhiều ý kiến bổ ích, cũng
như đã nhất trí tái bản bộ sách. Chúng tôi còn được giáo sư Nguyễn Huệ
Chi, người từng có điều kiện thâm nhập hai tập Việt Nam Phật giáo
sử luận từ rất sớm, vui lòng viết Lời giới thiệu in vào đầu
trang sách cũng như soát kỷ lại bản thảo. Xin được ghi lại ở đây lời cám
ơn chân thành của Nhà xuất bản Văn học.
Do chỗ tác giả hiện đang ở xa, không thể trao đổi, bàn bạc trước
khi in sách, chúng tôi hy vọng mấy lời Cùng bạn đọc trên đây phần
nào cũng có thể thay thế cho lời xin phép tái bản sách của ông.
Sau cùng, dù đã hết sức cố gắng, lần tái bản này phải bỏ lại số lớn
các bức ảnh phụ bản của Việt
Nam Phật giáo sử luận
vì bản in trong nguyên bản
vốn mờ sẵn. Thành thực cáo lỗi cùng tác giả và bạn đọc.
Sau khi Việt
Nam Phật giáo sử luận
công bố rộng rãi ở trong
nước, nhiều bạn đọc đã gửi thư về Nhà xuất bản đánh giá cao bộ sách, và đề
nghị đặt mua thêm. Vì vậy, lần này Nhà xuất bản cho in lại cả hai tập sách
trên.
Ðể bộ sách ra mắt được hoàn chỉnh, xứng đang với mong đợi của độc
giả, trước khi in chúng tôi đã nhờ Giáo sư Nguyễn Huệ Chi và Ban
văn học Cổ cận đại Viện Văn học chỉnh đốn lại kỹ càng những chỗ bất nhất
về quy cách trình bày mà lần in trước vẫn chưa khắc phục được. Ngoài ra,
chúng tôi còn nhờ nhà nghiên cứu mỹ thuật Tố Như tìm lại các bản
chính mà Giáo sư Nguyễn Lang đã mượn làm phụ bản nhằm bổ khuyết
phần minh họa, nhưng rất tiếc các bản chính này cũng bị mờ, hơn nữa có tài
liệu như của Miklós (Hongrie) còn chú dẫn xuất xứ nhầm lẫn; cuối cùng Phó
giáo sư Tố Như đã phải tổ chức chụp lại từ nguyên mẫu các chùa miền
Bắc, nhờ đó có được những bức ảnh màu thay cho ảnh đen trắng, đồng thời
cũng bổ sung thêm một số ảnh xét thấy có thể góp phần làm cho bộ sách có
nhiều dẫn liệu hơn. Giúp vào việc này có có các nhà nhiếp ảnh Lê Cường,
Võ Văn Tường, và Ðại đức Thích Phước An (phần ảnh chùa miền
Trung và miền Nam). So
với bộ sách gốc, khối lượng ảnh giờ đây đã phong phú hơn trước, đúng như
mong muốn của tác giả trong mấy dòng phụ đề ở cuối tập III.
Xin chân thành cảm tạ tấm lòng thịnh tình của tất cả.
NHÀ XUẤT BẢN VĂN HỌC
LỜI
GIỚI THIỆU
Tập I bộ sách
Việt Nam Phật giáo sử luận của ông Nguyễn Lang xuất bản ở Sài Gòn năm 1973, tính đến
nay đã gần chẵn hai thập kỷ
.
Sau ngày Bắc Nam thống nhất, nhiều bạn đọc miền Bắc hẳn đã từng có dịp
tiếp xúc với công trình còn dở dang này. Nhưng không lâu sau đó vào năm
1978, tập II được công bố tiếp ở Paris, vẫn dưới danh nghĩa nhà xuất bản
cũ. Ngay chính tập I cũng được tác giả cho in lại, nội dung không mấy thay
đổi, duy hình thức ấn loát trang nhã và hiện đại hơn. Và chỉ vào khoảng
giữa cuối năm 1978 là cùng, cả hai tập sách vừa tái bản vừa in mới ấy, đã
hầu như có mặt trong đời sống học thuật của giới nghiên cứu trong nước,
Bắc cũng như Nam.
Có thể nói bộ sách đã được đón nhận với một thiện cảm không phải
bỗng chốc có ngay, mà nẩy nở dần dà cùng với quá trình đọc sách. Ðiều đó
có lý do của nó. Nói về lịch sử Phật giáo thì trước Nguyễn Lang khá lâu,
những tên tuổi như Trần Văn Giáp, Thích Mật Thể, bằng uy tín cá nhân,
trong nghiên cứu, biên khảo, hoặc trong hành Ðạo, xử thế, đã cho ra đời
những công trình như
Le Bouddhisme en Annam des
origines au XIIè siècle
và Việt Nam Phật giáo sử lược
,khiến người ta nhìn vào phải vì nể. Và trước Trần
Văn Giáp, Thích Mật Thể rất lâu cũng đã có những bộ “Thiền phả” nổi tiếng,
lẻ tẻ xuất hiện trong các thế kỷ từ XIV, đến XIX, như Thiền Uyển
Tập Anh
,Tam tổ thực lục ,
Thánh Ðăng lục
, Thiền uyển kế đăng lục,
Ðại Nam thiền uyển truyền đăng lục
... mà những ai quan tâm nghiên cứu
đều có biết đến dù ít hay nhiều. Vậy thì, trong tình hình nghèo nàn, ít ỏi
và sai lạc - vì luôn luôn bị mất mát hủy hoại - của kho tài liệu văn hóa -
tôn giáo - triết học trong liền mấy thế kỷ nay, lại càng nghèo nàn hơn vì
sự hủy hoại đáng sợ của ngót nửa thế kỷ vừa qua, như nhiều nhà nghiên cứu
đã được tận mắt chứng kiến, liệu ông Nguyễn Lang có tìm thêm được điều gì
mới hay không để đóng góp vào con đường mà người trước đã khai phá? Mối
băn khoăn e ngại thực là chính đáng, nhưng cũng quả tình đã lần lượt đánh
tan đi, khi ta từng bước tiếp xúc với Việt Nam Phật giáo sử luận.
Trước hết, bù đắp vào sự thiết thốn tài liệu, cuốn sách của Nguyễn
Lang đã biết dựa rất chắc chắn trên từng chặng thành tựu của những công
trình đã có, kể từ những cuốn
Lý hoặc luận, Từ thập nhị
chương cuối đời Hán, cho đến những cuốn sách mới xuất bản gần đây. Về
phương diện này, phải thừa nhận
Việt Nam Phật giáo sử luận có cái nhìn thâu tóm khá rành mạch và chuẩn xác, có thái độ
tri âm, tri kỷ của người biết kế thừa. Không những thế hay còn quan trọng
hơn, tác giả lại biết chọn cho mình một phương thức trình bày uyển chuyển:
kết hợp giữa viết sử và bình luận lịch sử; giữa xây dựng các mốc biên niên
sử truyền giáo (bao gồm thế thứ các tông phái) và lần tìm ra sợi dây thống
nhất bên trong kết nối các mốc biên niên sử ấy lại, qua đó tạo thành dáng
nét riêng, là linh hồn, bản sắc của Phật giáo Việt Nam; giữa nghiên cứu
tiểu sử các nhà tu hành và đi sâu tìm hiểu tính cách con người, tư tưởng,
thơ ca của họ... Bởi thế, bộ sách của Nguyễn Lang tuy không đưa ra một tài
liệu gì thật đột xuất, nhưng đã đáp ứng được một trong những nhu cầu khách
quan, ngày càng trở nên bức xúc của khoa học xã hội và nhân văn nước ta,
trong một cố gắng chung nhằm mạnh mẽ quay về với văn hóa dân tộc. Ðó là
nhu cầu khám phá cặn kẽ về Phật giáo Việt Nam - một thực thể tinh thần đã
tồn tại hàng nghìn năm, không phải với tư cách một tôn giáo ngoại nhập, mà
đã được bản địa hóa từ rất lâu, và vẫn được thường xuyên bản địa hóa, để
trở thành một phần tâm linh dân tộc; không phải chỉ là một tôn giáo đơn
thuần mà cao hơn hẳn thế, còn là một thành tố trọng yếu của văn hóa, tư
tưởng; và không phải là một thành tố rời rạc, phiến đoạn, mà luôn luôn
hiện diện như một hệ thống có sức vận động và phát triển tự thân trong
suốt tiến trình lịch sử. Nếu nói rằng Nguyễn Lang đã tìm ra được một kết
cấu hợp lý cho bức tranh sống thực của lịch sử Phật giáo Việt Nam từ nguồn
gốc đến thế kỷ XIX thì cũng không có gì quá đáng, vì lẽ, dù đó đây có
nhiều điểm còn phải bổ sung, thay đổi, cái kết cấu mà ông tạo dựng nên
trong sách cũng đã trở thành một cái gì khách quan và ổn định, nó góp phần
làm sống lại không khí cũng như diện mạo cụ thể của sinh hoạt Phật giáo
qua các thời đại, đến mức ngay những bộ sách cùng đề tài triển khai sau
ông, muốn tự đề xuất một hướng tìm tòi mới, khoa học hơn, xác đáng hơn,
chung quy vẫn dựa vào kết cấu đó, đôi khi còn biến hóa vay mượn nó một
cách lộ liễu.
Thực ra, nói Nguyễn Lang không đưa ra tài liệu gì mới thì cũng
không đúng hẳn, Như Bl. Pascal từng lấy ví dụ về một người chơi cầu biết
gieo quả cầu đúng chỗ để nhấn mạnh vai trò tiên quyết của cách lựa chọn và
sử dụng tài liệu trong nghiên cứu
, ta cũng có thể nói như vậy về bộ Phật giáo Việt Nam
sử luận của ông Nguyễn Lang. Mặc dù xét từ những tài liệu cốt yếu
làm nền cho bộ sách. Nguyễn Lang không có nhiều những tư liệu độc đáo hơn
người, nhưng ông lại tìm được những bộ tài liệu bổ trợ hiếm có, nhất là
tài liệu Phật giáo Trung Quốc liên quan đến Phật giáo Việt Nam; đặc biệt
hơn nữa là ông đã biết cách làm cho tư liệu “sống dậy”. Một mặt, chúng
được ông khảo sát thật tâm huyết và tỷ mỷ, như một nhà văn bản học thực
thụ, nhằm đưa ra những bằng cứ có giá trị “thiết chứng”, thuyết phục được
người xem. Mặt khác, ông biết nhìn ra trong tư liệu những tiếng nói riêng,
những “ẩn ngôn” bất ngờ có khả năng thông báo những điều lý thú, mà người
khác nhìn vào chưa chắc đã thấy gì. Vì thế, tuy đã hơn một lần đọc các tài
liệu này, ta vẫn bị ngòi bút ông lôi cuốn không thể nào cưỡng lại được, và
say mê theo dõi các phát hiện của ông, từ những nhận định về vị trí đặc
biệt của trung tâm văn hóa Luy Lâu so với Lạc Dương và Bành Thành, về ảnh
hưởng của Thiền học Việt Nam đối với Thiền học Trung Quốc ngay từ buổi sơ
khởi, thông qua Thiền sư Khương Tăng Hội, đến các tìm tòi gợi ý về quá
trình hình thành bộ sách Thiền uyển tập anh, về gốc tích của
Tuệ Trung Thượng sĩ
, về địa lý đặc biệt của Pháp Loa
trong Trúc Lâm tam tổ, về địa vị đặc biệt của Pháp Loa và Trúc Lâm tam tổ,
về mối quan hệ ý nhị giữa Pháp Loa và Huyền Quang, về bước chuyển rõ rệt
của Phật giáo Việt Nam trong giai đoạn nhà Trần (phóng khoáng ở sơ Trần và
được tổ chức hoàn bị sau khi Trần Nhân Tông nắm quyền lãnh đạo Giáo hội
Trúc Lâm), về ảnh hưởng của Mật tông đậm nét trở lại dưới thời Trần Anh
Tông cũng như trách nhiệm của nhà Nho cố chấp Ðoàn Nhữ Hài trong việc phá
vỡ quan hệ hòa hảo Chiêm - Việt mà Trần Nhân Tông đã xây dựng. Thiền phái
Tào Ðộng và Thiền phái Lâm Tế ở Ðàng ngoài và Ðàng trong thế kỷ XVII... Ta
cũng không thể không suy nghĩ với thái độ trân trọng, trước những phân
tích sâu sắc mà chừng mực của ông về tư tưởng Phật giáo của Trần Tung,
Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông, Hương Hải Thiền sư, Thạch Liêm Thiền sư,
Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh của Ngô Thì Nhậm, hay
Thập giới cô hồn quốc ngữ văn của Lê Thánh Tông...
Nhờ lối phân tích kết hợp uyển chuyển giữa hành xử của nhân vật và
cách nhân vật quan niệm, tìm tòi triết thuyết Phật giáo, tác giả thường
làm hiện diện trước mặt người đọc không phải một vài bản tiểu sử khô khan
về các vị tổ “đèn nối đèn”, mà là hàng loạt tính cách sinh dộng. Ðặc biệt,
nhờ phương pháp luận giải và chứng minh không áp đặt, cứ để cho đối tượng
tự nói lên, ý kiến Nguyễn Lang không mấy khi làm người đọc khó chịu, dù có
thể chỗ này chỗ khác vẫn chưa tán đồng. Ở đây, ông đã tránh được hai
khuynh hướng trái ngược mà nhiều công trình nghiên cứu trước nay hay vấp:
hoặc rơi vào tình trạng nói suông, bất chấp tư liệu, chỉ cốt phục sẵn một
vài quan điểm nào đấy và cố chứng minh cho sự sáng suốt đứng đắn, nhìn xa
trông rộng của những quan điểm ấy. Hoặc người lại, trích dẫn tài liệu la
liệt, nhưng không có tài liệu nào ăn nhập với đối tượng cả, rốt cuộc đối
tượng chỉ là cái cớ cho sự phô bày các tri thức uyên bác của mình.
Bộ sách của Nguyễn Lang còn có một ưu điểm đáng quý: coi trọng vai
trò của tài liệu trong luận chứng, có thái độ tỉnh táo trước hiện tượng
thật giả khó phân của nhiều nguồn tư liệu, nhưng không bao giờ đi đến một
thái độ cực đoan, hoài nghi chủ nghĩa, trong khi lục vào kho tài liệu
nghèo nàn, thậm chí hỗn loạn của cha ông.
Tinh thần tôn trọng sự thật ở đây hoàn toàn không bị lẫn lộn với sự
phủ nhận sạch trơn di sản quá khứ. Vạch ra tất cả những ý kiến khác nhau
về niên đại xuất hiện của cuốn
Lý hoặc luận
được coi là của Mâu Bác, từ Lương Khải Siêu, Hồ Thích, H. Maspéro,
Pelliot, đến Mastsumoto Buzaburo (Nhật Bản)... Nguyễn Lang vẫn tìm được
một giải pháp khả thủ để sử dụng cuốn sách đó nhằm soi rọi cho tình hình
truyền bá đạo phật ở Giao Châu vào thế kỷ thứ II sau Công nguyên mà không
làm độc giả phân vân, nghi ngờ. Hay khi duyệt lại các ý kiến phản bác quan
niệm truyền thống cho rằng
Thập giới cô hồn quốc ngữ văn
là của Lê thánh Tông, ông đã tìm được một hướng giải quyết tích
cực: đi sâu vào nội dung cụ thể của bài văn để rút ra nét tính cách nhà
Nho của chính người sáng tác. Nét tính cách này, theo Nguyễn Lang, chứng
tỏ người đó rất gần gũi với Lê Thánh Tông. Những phân tích thấu đáo như
trên thật có lý có tình, và rõ ràng không phải là cách nêu nghịch lý cho
vui của một người thiếu trách nhiệm. Thiết tưởng, trong các giá trị của
một công trình nghiên cứu, cũng phải quan tâm đến phần giá trị ngoài ngôn
bản, tức là định hướng tư tưởng của người xây dựng nên công trình. Ðịnh
hướng của người viết
Việt Nam Phật giáo sử luận
không có gì khác
bơn là củng cố niềm tin của bạn đọc vào các truyền thống văn hóa tốt đẹp,
lâu đời của dân tộc chúng ta, Ðó hiển nhiên là một định hướng chính xác.
Lẽ tự nhiên,
Việt Nam Phật giáo sử luận cũng có một số nhược điểm. Nhược điểm
dễ thấy nhất là việc phân bổ tỷ lệ chương mục giữa hai tập chưa đồng đều.
Nếu xét về số trang thì tập II quá mỏng trong khi tập I lại quá dày, nhưng
nếu xét về nội dung vấn đề thì dường như tập I có tham vọng bao quát lịch
sử Phật giáo cho đến hết thời thịnh trị của nó (nhà Trần), hóa ra lại chưa
khái quát được, phải để lại một chương vào tập II - Chương XVII: “Sinh
hoạt tăng đồ và cư sĩ”. Phải chăng lúc viết xong tập I, tác giả chưa có ý
định viết chương này, về sau đọc lại thấy thiếu nên mới phải bổ sung?
Nhưng cũng do sự bổ sung có phần vội vã nên chương này lại để lộ ra một
nhược điểm, mà các chương khác đã không vấp phải. Ta biết rằng, chỗ mạnh
của ông Nguyễn Lang là ở phương pháp phân tích tài liệu, nhưng không biết
vì sao ở chương XVII tác giả đã trình bày một cách khá tỉ mỷ về những cung
cách tổ chức và sinh hoạt của Giáo hội Phật giáo Việt Nam vào thời Lý -
Trần mà lại không chú ý giới thiệu tỷ mỷ xuất xứ tài liệu làm chỗ dựa cho
lập luận của ông, khiến ta có cảm giác nhiều chỗ ông đã mượn các bộ sách
Trung Quốc mà chủ yếu là Sắc tu Bách Trượng thanh quy
của Ðức Huy đời Nguyên để dựng lên bức tranh sinh hoạt đó. Cách làm như
vậy cũng là chuyện bình thường, hữu lý, tuy nhiên, cần chú dẫn để người
đọc khỏi ngộ nhận, mặt khác cũng cần cân nhắc thận trọng để không nẩy sinh
mâu thuẩn giữa “lý thuyết” và thực tế lịch sử.
Cũng nói về chú dẫn tài liệu, thảng hoặc trong sách ta bắt gặp dấu
vết của những tài liệu nghiên cứu ở miền Bắc lúc bấy giờ mà Nguyễn Lang đã
tham khảo, nhưng vì lý do gì đâùy mà chua rõ xuất xứ
, cũng có tài liệu ông có chua xuất xứ
thì thật đáng tiếc tiếc, sự gián cách lại làm ông lầm lẫn
. Cách bố trí chương mục ở Tập II nhìn
chung cũng chưa thật chặt chẽ, nên có cái gì như vừa thừa lại vừa thiếu.
Chẳng hạn, tại sao không có một chương riêng: “Ðạo Phật trong một thế kỷ
đất nước thống nhất dưới triều nhà Nguyễn” mà chỉ có chương “Các danh tăng
triều Nguyễn”? Vì không có điều kiện sưu tầm tài liệu chăng? Hoặc giả, tại
sao lại có hẳn một chương nêu lên mối quan hệ giữa Phật và Nho (xét về mặt
học thuyết), dưới đầu đề “Lý học và Phật giáo”, mà không có chương nào nêu
lên mối quan hệ chắc chắn là rất mật thiết giữa một vài tông phái Phật
giáo và Ðạo Giáo (xét về nghi thức thực hành giáo lý - chẳng hạn người mở
đầu Hoàng Giang giáo phái ở Sơn Nam là Ðỗ Ðô, thuộc thế hệ thứ tư dòng
thiền Thảo Ðường, rõ ràng là người đã kết hợp chặt chẽ Mật tông với Ðạo
giáo)? Và tại sao trong chương “Lý học và Phật giáo” thì lại chỉ đề cập
đến Lê Quý Ðôn (đặt ông này vào thế hệ sau thế hệ Ngô Thì Sĩ có đúng
không?), Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Du chứ không
thêm vào dăm ba tên tuổi khác cũng có thơ văn bàn về Phật và Nho? Ngay như
Nguyễn Công Trứ và Nguyễn Du, tuy đều là nhà Nho thật đấy, nhưng sáng tác
của họ đả động trực tiếp đến vấn đề gì có liên quan giữa Lý học và Phật
học và Phật Học thì cách giải thích kể cũng chưa phải đã rõ ràng.
Tựu trung, nhận xét có thể rút ra không mấy khó khăn, là tập II
không được chuẩn bị kỹ như tập I. Tập I tuy cũng còn những tiết mục viết
sơ lược, như mục “Thiền ngữ và hình ảnh thi ca” (Chương VI), (nếu ta đối
chiếu với cách D.T. Suzuki trình bày vấn đề “Thiền và thơ Haikư” trong
cuốn Thiền và văn
hóa Nhật Bản
,
hẳn nhận ra chỗ còn sơ lược của
Việt Nam Phật giáo sử luận),
nhưng xét về tổng thể, cả tập I vẫn là một khối gắn bó vững chắc, trong
khi tập II có phần lỏng lẽo hơn. Có vẻ như một số chương ở tập này chỉ mới
là những cái khung được dựng sơ sài, hoặc có những cánh cửa còn để ngỏ, để
tác giả còn có dịp bổ sung sửa chữa khi tái bản.
Với tất cả những ưu điểm nổi bật và những mặt còn tồn tại của nó,
tôi Việt Nam Phật
giáo sử luận vẫn
là một trong số rất ít công trình nghiên cứu nghiêm chỉnh về Phật Học Việt
Nam trong vòng 20 năm qua. Ðối với người nghiên cứu chuyên sâu hay với bạn
đọc rộng rãi muốn nhìn lại lịch sử Phật giáo Việt Nam, hẳn chắc đều có thể
tìm thấy ở đây những gợi ý hữu ích, và một người dẫn đường đáng tin cậy.
Viết tại Mộng Thương thư trai mùa kết hạ 1992
Gs. NGUYỄN HUỆ CHI
Nxb. Lá
Bối, Sài Gòn, 1973.
Người viết
bài này, mặc dù không có hân hạnh quen biết tác giả, vào cuối năm 1978
cũng nhận được 2 tập sách gửi qua Bộ Ngoại gia đến Nxb. Khoa học xã
hội (là nơi in xong Thơ văn Lý - Trần, tập I) với lời đề tặng
trân trọng. Nhân dịp này xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành của chúng
tôi.
Của Trần
Văn Giáp. BEFEO, XXXIII.
Của Thích
Mật Thể, Nxb, Tân Việt, Hà Nội, 1943.
Tác phẩm
đời Trần, ghi chép phả lục các dòng Thiền Vô Ngôn Thông, Tỳ Ni Ða Lưu
Chi, và Thảo Ðường. Bản in sớm nhất còn lại vào năm Vĩnh Thịnh thứ 10
(1765).
Tập tiểu
thuyết về 5 vị Thiền sư đồng thời là vua triều trần: Thái Tông, Thánh
Tông, Nhân Tông, Anh Tông, Minh Tông. Bản in sớm nhất còn lại vào năm
Cảnh Hưng thứ 16 (1765), do Sa môn Quảng Ðiền và Hải Lượng trùng đính,
trùng san.
Tập tiểu
thuyết về 5 vị Thiền sư đồng thời là vua triều Trần: Thái Tông, Thánh
Tông, Nhân Tông, Anh Tông, Minh Tông. Bản in sớm còn lại vào năm Cảnh
Hưng 11 (1750), do sư Quảng Ðức hiệu đính và đề tựa.
Tên đầy đủ
là Ngự chế Thiền uyển thống yếu kế đăng tục, do Thiền sư Như
Sơn biên soạn, được khắc bản vào năm Giáp dần (1.734).
Còn có tên
là Thuyền uyển kế đăng lược lục, do Hòa thượng Phúc Ðiền biên
soạn, khắc bản vào năm Tự Ðức thứ 12 (1859).
“Ðừng có bảo
tôi đã không nói cái gì mới. C¸ách bố trí tài liệu là cái mới đó. Cũng
như khi người ta đánh cầu, hai người cùng chơi một quả cầu, nhưng một
người gieo đúng chỗ hơn (Les Pensées)
Trong thời
gian ông Nguyễn Lang tìm ra tên thật của Tuệ Trung Thượng sĩ ở Sài Gòn
thì ở Hà Nội, nhóm nghiên cứu thơ văn Lý - Trần của Viện Văn học cũng
đạt đến kết quả đó. Xem thơ văn Lý - Trần, Tập I, Nxb. Khoa học
xã hội, Hà Nội, 1977; tr. 113 - 115.
Chẳng hạn,
bài Một vài tìm tòi bước đầu về văn bản thơ văn Lý - Trần của
Trần Thị Băng Thanh. Tạp chí Văn học số 5 - 1972, đã được sử
dụng ở các trang 269 - 272, tập I Việt
Nam Phật giáo sử luận
(bản in lần này)
Trong tập II của bộ sách,
tác giả đã sử dụng một giả thuyết của Ðinh Gia Khánh và Chu Xuân Diên
trong cuốn Văn Học dân gian, Tập I (Nxb. Ðại học và trung học
chuyên nghiệp, Hà Nội, 1972; tr. 228) để cho rằng tác phẩm Trần
triều Thiền tông truyền tâm quốc ngữ hành là một tác phẩm dân gian
thuộc loại văn kể hạnh ra đời từ đời Trần (xem tr. 75, tập II, bản in
lần này)
---o0o---
[ Mục Lục ] [ Tập I ]
[
Tập II ] [ Tập III ]
---o0o---
Trình bày: Nhị Tường
Vi Tính:
Nguyên Trang
Cập
nhật: 01-11-2004