VIỆT NAM PHẬT GIÁO SỬ
LUẬN
Nguyễn Lang
---o0o---
TẬP III
CHƯƠNG XXVIII
HỘI AN NAM PHẬT HỌC Ở TRUNG KỲ
Thiền sư Giác Tiên có
thể gọi là người xướng khởi công trình phục hưng Phật giáo tại miền Trung,
Ông họ Nguyễn, sinh năm 1880 tại làng Già Lê Thượng ở huyện Hương Thủy,
tỉnh Thừa Thiên. Ông xuất gia năm 15 tuổi tại chùa Từ Hiếu, thụ giới sa di
năm 21 tuổi, làm đệ tử của thiền sư Tâm Tịnh. Năm 1904, thiền sư Tâm Tịnh
nhường chức vụ trú trì chùa Từ Hiếu lại cho người khác và về dựng am Thiếu
Lâm gần chùa Tây Thiên để an cư tĩnh tu. Giác Tiên hồi đó được hai mươi
bốn tuổi, được theo về Thiếu Lâm với thầy. Bốn năm sau, một Đại Giới Đàn
được tổ chức tại chùa Phước Lâm ở Quãng Nam do thiền sư Vĩnh Gia làm Đường
Đầu Hòa Thượng, Giác Tiên được gửi vào thụ giới Cụ Túc. Tại giới đàn, ông
tỏ ra là một giới tử xuất sắc nên được chỉ định làm thủ chúng sa di. Đó là
vào năm 1910. vào khoảng 1913 khi ni sư Diên Trường dựng xong chùa ở Trúc
Lâm ở làng Dương Xuân Thượng, ông được mời về trú trì chùa này. Năm 1920
khi thiền sư Huệ Pháp mở giảng đường tại chùa Thiên Hưng, ông đã cùng các
đệ tử của ông tìm đến để cầu học. Thiền sư Huệ Pháp khen ông là người có
túc căn thâm hậu. Năm 1925, ông được vâng sắc chỉ triều đình làm trú trì
chùa Diệu Đế. Năm 1929, sau khi trùng tu chùa Trúc Lâm, ông mở Phật học
đường tại đây và ra vào Bình Định rước thiền sư Phước Huệ chùa Thập Tháp
ra làm chủ giảng. Từ đó năm nào thiền sư Phước Huệ cũng được thỉnh về Trúc
Lâm để giảng huấn. Các đệ tử của Giác Tiên là Mật Khế, Mật Nguyện, Mật
Hiến và Mật Thể đều được theo học và được đóng những vai quan trọng trong
phong trào chấn hưng sau này.
Trong số những người
theo học tại Trúc Lâm có một vị cư sĩ tên là Lê Đình Thám, y sĩ trưởng tại
Viện Pasteur Huế. Cư sĩ Lê Đình Thám là đệ tử của Giác Tiên từ năm 1928,
pháp danh là Tâm Minh. Chính người này đã vâng lời Giác Tiên triệu tập các
đồng lữ thành lập Hội An Nam Phật Học năm 1932.
Giác Tiên hướng đạo
cho hội An Nam Phật Học được có bốn năm thì tịch. Ông mất vào ngày mồng
bốn tháng 10 âm lịch, hưởng thọ 57 tuổi, đang lúc đảm nhiệm trách vụ trú
trì hai chùa Diệu Đế và Trúc Lâm, và chứng minh đạo sư cho hội An Nam Phật
Học.
Hồi sinh tiền, Giác
Tiên đã được Tâm Định trao cho bài kệ đắc pháp sau đây:
Giác đạo kiếp không tiền
Không không bát
nhã thuyền
Quả nhân phù hạnh
giải
Xứ xứ đắc an nhiên
dịch:
Đường Giác trước
không kiếp
Thuyền bát nhã không
không
Hạnh giải hợp nhân
quả
Ở đâu cũng thung
dung.
Thiền sư Giác Tiên đã
từng đứng ra tổ chức Đại Giới Đàn tại chùa Từ Hiếu năm 1923. tại giới đàn
này, đệ tử của ông là Mật Khế đã thụ địa giới, trong khi thầy ông là Tâm
Tịnh là hòa thượng truyền giới. Ông rất chú trọng đến việc đào tạo tăng
tài; nhờ có cố gắng của ông mà chùa Trúc Lâm đã thành nơi xuất phát của
nhiều cây cột trụ của nên Phật giáo cận đại. Trúc Lâm đã tạo được tới bốn
lớp cán bộ tăng sĩ. Các thiền sư Quảng Huệ, Trí Thủ, Mật Thể, Chánh Thống,
Thiện Trí, Thiện Hòa, Thiện Hoa v.vv… đều đã được huấn luyện tại đây.
Năm 1933. Giác Tiên
ủy cho Mật Khế mở một trường tiểu học Phật học cho sa di các chùa tại chùa
Vạn Phước. Năm 1934 ông lại cùng Mật Khế tổ chức trường An Nam Phật Học
tại chùa Trúc Lâm, thu nhận được đúng 50 học tăng. Cuối năm này ông lại
quy tụ các vị học tăng có học lực khá cao về Trúc Lâm để mở cấp đại học
Phật giáo.
Ông mất, hội An Nam
Phật Học tổ chức tang lễ rất lớn. Câu trướng của hội như sau:
Trúc Lâm
không quải tam canh nguyệt
Diệu Đế tri
văn ngũ dạ chung.
Đại diện hội Bắc Kỳ
Phật giáo tại tang lễ đã đi câu đối:
Vân nạp Bắc
lai, đàm luận di tuần khâm Giác chỉ
Trúc Lâm Nam
vọng, vãng sinh hà xứ mịch Tiên tung?
Để có một ý niệm về
thi kệ của ông, ta hãy đọc bài thơ ông tặng cho đệ tử là Mật Khế trước giờ
Mật Khế lâm chung. Danh từ Tâm Địa trong bài là pháp danh của Mật Khế.
Tâm Địa quan
hàm pháp tính viên
Tây Lai diệu chỉ
hiểu Nam thiên
Hoạt nhiên trực
triệt Tào Khê lộ
Miễn tại linh đinh
ngũ thập niên.
dịch:
Cõi tâm bao hàm
Pháp giới tính
Trời Nam sáng tỏ ý
Tây truyền
Bỗng nhiên thấu
triệt Tào Khê lộ
Khỏi mất công dài
năm chục năm.
Đệ tử tại gia xuất
sắc nhất của Giác Tiên hẳn là Tâm Minh Lê Đình Thám. Bác sĩ Lê Đình Thám
là một người có tư chất cực kỳ thông minh và trái tim đầy nhiệt tình. Ông
sinh năm 1897 tại Quảng nam, con của thượng thư bộ binh Lê Đỉnh triều Tự
Đức. Từ hồi nhỏ ông đã được học Nho và đã làm được văn bài cùng thi phú cổ
điển. Lớn lên ông theo tân học, đậu thủ khoa trong tất cả các kỳ thi từ
cấp tiểu học đến Đại học. Ông tốt nghiệp thủ khoa Đông Dương Y Sĩ khóa
1916, và Y Khoa Bác Sĩ khóa 1930.
Năm 1926 lúc còn làm
y sĩ tại bệnh viện Hội An, trong một dịp viếng chùa Tam Thai, ông được đọc
bài kệ Bồ Đề Bản Vô Thụ của Huệ Năng viết trên vách chùa. Đây là
lần đầu tiên ông tiếp xúc với văn học Phật giáo. Bài kệ đó gây một ấn
tượng sâu trong tâm não ông, nhưng mãi đến năm 1928, về làm việc tại Viện
Pasteur Huế, ông mới gặp người giải thích cho ông một cách thỏa đáng về
bài kệ ấy. Người đó là Thiền sư Giác Tiên.
Thấy được diệu lý,
ông phát tâm quy y Tam Bảo, thờ Giác Tiên làm thầy, được pháp danh là Tâm
Minh, pháp tự là Châu Hải. Ông phát nguyện ăn chay trường từ đó. Lúc ấy
ông mới có ba mươi mốt tuổi, và Mật Khế đệ tử đầu của Giác Tiên mới có hai
mươi bốn tuổi. Hai ngưòi bạn đồng sư này thân cận nhau và nâng đỡ nhau
trong việc nghiên tầm kinh luận.
Tâm Minh Lê Đình Thám
đã có căn bản Hán học lại có óc thông minh nên đã đi rất mau trên con
đường học Phật. Liên tiếp trong ba năm (1929-1932) ông được học tập dưới
sự chỉ đạo của Giác Tiên và của thiền sư Phước Huệ, một cao tăng nổi tiếng
bác thông minh kinh luận vào bậc nhất thời ấy. Tuy thì giờ học Phật của
ông bị giới hạn bởi nghề nghiệp y sĩ, ông đã vượt xa các bạn đồng học
trong thời gian ấy. Năm 1930 ông lại còn phải ra Hà Nội thi bằng Y Khoa
Bác sĩ ngạch Pháp nữa, vậy mà ông vẫn có đủ thì giờ học Phật. Lê Đình Thám
có lẽ là người cư sĩ đầu tiên ở thế kỷ thứ hai mươi đã dự phần vào việc
đào tạo tăng tài. Phật học của ông được các bậc tôn túc công nhận là thâm
uyên, cho nên ông đã được mời vào giảng dạy trong các Phật học đường Trúc
Lâm và Tường Vân. Ông luôn luôn mặc lễ phục (áo tràng) và đảnh lễ chư tăng
trước khi bước lên pháp tòa để giảng kinh cho họ. Lớp học ở Tường Vân là
một lớp trung đẳng; trong thính chúng có nhiều bậc tỳ khưu học lực đã khá
thâm hậu.
Trong số những vị cư
sĩ tham dự vào việc vận động thành lập hội An Nam Phật Học, ta thấy có Ưng
Bàn, Nguyễn Đình Hòe, Nguyễn Khoa Tân, Viễn Đệ, Nguyễn Khoa Toàn, Ưng
Bình, Bửu Bác, Trần Đăng Khoa, Lê Thanh Cảnh, Lê Quang Thiết, Trương
Xướng, Tôn Thất Quyên, Nguyễn Xuân Tiêu, Hoàng Xuân Ba, Lê Bá Ý và Tôn
Thất Tùng. Trong bước đầu, Lê Đình Thám đảm nhiệm chức vụ hội trưởng,
nhưng ông không ngồi mãi ở địa vị đó. Các vị khác như Nguyễn Khoa Tân, Ưng
Bàng v.v… cũng thay thế nhau là hội trưởng cho hội. Lê Đình Thám không
những làm cái trục trung ương của hội mà còn là linh hồn của tạp chí
Viên Âm nữa. Sở dĩ ông làm việc được một cách bền bỉ là tại vì ông có
đủ đức khiêm nhượng. Ông làm một chất keo dính liền các phần tử khác biệt
về tuổi tác và về nhận thức chính trị.
Tuy con đường của ông
là con đường ôn hòa, bản chất của ông không phải là bảo thủ. Anh ruột ông
đã từng bị thực dân Pháp đầy lên Ba Mê Thuột và hạnh hạ đến nỗi phải tự
sát ở đó vì đã tham dự vào việc khởi nghĩa của vua Duy Tân. Trong suốt
thời gian 1916-1923 làm việc tại các bệnh viên Bình Thuận, Quy Nhơn và Tuy
Hòa, ông thường bị nhà cầm quyền theo dõi. Ông đã tham dự vào việc tổ chức
truy điệu chí sĩ Phan Châu Trinh tại Quảng Nam và đã bị thuyên chuyển đi
Hà Tỉnh vào cuối năm 1926. Ông đã giúp hội An Nam Phật Học đạt được những
nền tảng khá vững chãi cho cuộc phục hưng Phật giáo vào những năm sáu mươi
sau này.
Chữ “Học” trong danh
từ An Nam Phật Học, theo ông còn có nghĩa là “Hành”. Tên chữ Pháp của hội,
in trên bìa Viên Âm SEERBA, nghĩa làSociété d’Annam! Hội đã
liên tiếp mời các thiền sư Giác Tiên (chùa Diệu Đế), Giác Nhiên (chùa Báo
Quốc) vàTịnh Hạnh (chùa Tường Vân) làm chứng minh đạo sư cho hội đã có sự
hậu thuẫn của cá bậc tôn túc ở các tổ đinh và sự cộng tác của các vị tăng
ni xuất sắc thời đó như Mật Khế, Mật Nguyện, Đôn Hậu, Trí Độ, Trí Thủ, Mật
Thể, Diệu Hương và Diệu Viên.
Như ta đã biết, sơn
môn Huế và hội An Nam Phật Học rất chú trọng về việc đào tạo tăng tài và
chỉnh lý tăng giới. Số lượng chư tăng thất học cũng như số lượng những vị
thầy cúng không sống theo nếp sống thanh quy là một lo lắng thường trực
của họ. Ngoài việc thành lập các lớp Phật học cho tăng sĩ trẻ tuổi các
chùa, họ đã đề ra một chương trình chỉnh lý tình trạng tăng sĩ. Chương
trình đó gồm có hai điểm:
1- Thành lập một hội
đồng luật sư gồm có những bậc tăng già tinh thông giới luật để giám sát
giới hạnh của tăng chúng. Ngoài ủy ban trung ương còn có những ban địa
phương đặt tại các tỉnh: những ban này gồm có năm vị gọi là luật sư. Mỗi
tỉnh được chia ra nhiều địa phận, mỗi địa phận có một vị luật sư giám sát.
Hễ khi nào có sự báo cáo về sự vi phạm giới luật của một vị tăng thì vị
luật sư phải thân hành đi đến tận nơi để tra cứu và cuối năm thì trình lại
Hội Đồng Luật Sư để tài phán.
2- Tổ chức những ban
thầy cúng gồm có những người biết tán, tụng, cầu an, cầu siêu va hướng dẫn
tang lễ. Những “thầy cúng” này chỉ được mặc áo màu xám năm thân, không
được mặc áo tràng, nhật bình, y màu nâu hoặc y màu vàng. Họ ở nhàhoặc ở
chùa riêng để hành nghề cúng đám chứ không được ở thiền viện và tổ đình
nơi dành riêng cho tăng sĩ thực thụ mà giới pháp là người giới sa di và
hai trăm năm mươi giới tỳ kheo. Muốn làm thầy cúng thì tối thiểu cũng phải
thụ một hoặc hai giới.
Ngoài ra, cư sĩ phải
tham dự vào việc chỉnh lý tình trạng tăng sĩ bằng cách:
1) Không nên nhận
người phá giới là tăng sĩ.
2) Phá bỏ những điệp
quy y thụ giới do các ông thầy tu nói trên cấp cho.
3) Công bố sự phạm
giới có bằng cớ của tăng sĩ.
4) Bảo hộ và cúng
dường các vị tinh nghiêm giới luật.
5) Không tham dự vào
những công việc không phù hợp với Phật pháp.
6) Tham dự vào công
việc hoằng dương chánh pháp và chỉnh đốn tăng già.
Chương trình nói trên
là một chương trình khá táo bạo, nhưng đã vấp vào nhiều trở lực đáng kể.
Về tâm lý, cư sĩ ham chuộng những lễ hộ niệm và cầu nguyện các bậc tăng
già đức hạnh chủ trì hơn là do những ông “thầy cúng” kể trên hướng dẫn. Về
kinh tế, nhiều chùa chiền, kể cả những chùa chân tu lâu nay sinh sống là
nhờ sự ủng hộ của tín đồ cư sĩ và sở dĩ có sự cúng dường bảo trợ ấy một
phần quan trọng là do nghi lễ ứng phú mà tăng sĩ các chùa ấy cung cấp cho
tín đồ. Số lượng những tổ đình có ruộng đủ sức nuôi đại chúng thì rất nhỏ
bé, và sự bảo trợ của cư sĩ cho các tự viện không đủ để bảo đảm cho các tự
viện ấy.
Chương trình, tuy
vậy, đã được thực hiện một phần. Sau này, tại sơn môn các tỉnh, lúc nào
cũng có một vị kiểm tăng để giám sát về giới luật của tăng chúng địa
phương.
Chương trình Phật học
đầu tiên của trường An Nam Phật Học tại Trúc Lâm được hoạch định làm hai
cấp, tiểu học và đại học, như sau:
Tiểu học
(năm năm):
Năm thứ nhất
- Quốc văn và hai buổi công phu
Năm thứ hai - Sự tích
Phật Thích Ca - Bốn phép Toán - Phật học giáo khoa toàn thư.
Năm thứ ba - Luật Sa
Di (trường hàng) - Vô lượng Thọ Kinh - Địa Tạng Kinh – Thủy Sám Pháp.
Năm thứ tư - Sa Di
Luật Giải (trường hàng) – Vô Lượng Thọ Kinh – Địa Tạng Kinh – Thủy Sám
Pháp.
Năm thứ năm - Di Đà
Sớ Sao – Pháp Bảo Đàn Kinh
(tốt nghiệp tiểu học
thì học tăng được thụ Sa Di Giới)
Đại Học
(năm năm)
Năm thứ nhất - Kim
Cương Trực Sớ – Tâm Kinh Chú Giải – Duy Thức Phương Tiện Đàm – Bát Thức
Quy Củ Tụng – Trang Sớ
Năm thứ hai - Lăng
Nghiêm Kinh – Viên Giác Kinh – Nhân Minh Luận.
Năm thứ ba - Lăng Già
Kinh – Khởi Tín Luận – Đại Thừa Chỉ Quán
Năm thứ tư - Thành
Duy Thức Luận - Pháp Hoa Kinh – Phạm Võng Kinh-
Năm thứ năm - Đại Bát
Niết Bàn – Tứ Phần Luật
(tốt nghiệp đại học
thì học tăng được thụ Tỳ khưu giới)
Sau khi tốt nghiệp có
thể ở lại trường ghi tên vào lớp tham cứu, cũng năm năm)
Năm thứ nhất - Lăng
Nghiêm Trực Chỉ – Viên Giác Lước Sớ – Duy Ma Sớ – Tam Luận (Trung Luận,
Bách Luận và Thập Nhị Môn Luận)
Năm thứ hai - Lăng
Già Tâm Ấn Sớ – Giải Thâm Mật Kinh – Du Già Sư Địa Luận
Năm thứ ba - Pháp Hoa
Kinh Huyền Nghĩa – Pháp Hoa Văn Cú – Ma Ha Chỉ Quán
Năm thứ tư - Hoa
Nghiêm Luận – Hoa Nghiêm Sớ Sao
Năm thứ năm - Đại Trí
Độ Luận – Tông Cảnh Lục – Chỉ Nguyệt Lục – Hải Triều Âm Văn Khố
Chương trình nói trên
được hoạch định vào năm 1934. Chương trình này có khuyết điểm là dài quá,
và nhất là hai năm đầu tiểu học không cần thiết. Kiến thức của hai năm này
thực ra có thể được các chùa địa phương cung cấp trước khi học tăng gửi về
Phật học đường, và như vậy gánh nặng tài chính của trường sẽ được giảm bớt
một phần. Chương trình lại còn những điểm không hợp lý, ví dụ năm thứ nhất
cao đẳng: đã gồm có Lăng Nghiêm Trực Chỉ, Viên Giác Lược Sớ, Duy Ma Sớ mà
còn thêm ba bộ luận lớn của không tôn (Tam Luận). Không ai có thể dạy và
học tất cả những tác phẩm đó trong một năm.
Đến năm 1944, một
chương trình mới được hoạch định như sau:
Sơ đẳng
(hai năm)
Năm thứ nhất -
Kinh:
Thập Thiện Nghiệp Đạo – Ngũ Thiên Sứ Giả – Trừ Khủng Tai Hoạn – Bụt Kinh –
Tứ Thập Nhị Chương – Bát Đại Nhơn Giác.
Luật: Sa Di
Luận: Duy Thức
Tam Tự Kinh
Khóa tụng:
Nghi thức của hội (giảng giải) và các khóa nghi trong sơn môn.
Năm thứ hai
Kinh: Phật Di
Giáo - Nhị Khóa Hợp Giải.
Luật: Cảnh
Sách
Luận: Đại Thừa
Bách Pháp Môn Minh Môn Luận Giải (của Khuy Cơ)
Bát Thức Quy Củ Tụng
Trang Chú - Đại Thừa Khởi Tín Luận.
Khóa Tụng: các
khóa nghi trong Sơn Môn.
Trung đẳng (hai năm):
Năm thứ nhất
- Kinh: Duy Ma
Cật Kinh Giảng Lục (Thái Hư) - Kim Cương Kinh Giảng Lục (Thái Hư)
Luật:
Ưu Bà Tắc Giới Kinh
Luận:
Đại Thừa Chỉ Quán - Duy Thức Đích Khoa Học Phương Pháp - Nhân Minh Luận
Sớ.
Khóa tụng:
Các khóa nghi trong Sơn Môn
Cao đẳng
(hai năm):
Năm thứ nhất -
Kinh: Lăng Già Tâm Ứng
Luật: Bồ Tát
Anh Lạc Kinh
Luận:
Bách Luận - A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận.
Năm Thứ Hai - Kinh:
Pháp Hoa Kinh Văn Cú
Luật: Phạm
Võng Kinh Hợp Chú
Luận:
Nhị Thập Môn Minh Luận - Thành Duy Thức Luận.
Theo chương trình
này, những học tăng tốt nghiệp Cao Đẳng, nếu muốn thành giáo sư các trường
Phật học thì phải ở lại nghiên cứu và tu tập thêm ba năm nữa tại trường.
Chương trình này thực
tế hơn chương trình trước nhiều và cũng hàm chứa một số tác phẩm mới như
những sách giảng lục của Thái Hư và Đại Viên. Muốn vào học, học tăng phải
qua một kỳ khảo thi. Trình độ căn bản là:
1- Đậu Sơ học Pháp -
Việt
2- Biết đọc và biết
viết chữ Hán.
3- Quốc ngữ phải
thông thạo. Có thể dịch một bài kinh luận từ chữ Hán ra quốc ngữ và một
vài câu quốc văn ra chữ Hán.
Hội An Nam Phật Học
từ năm 1934 đã khuyến khích mở các Phật học đường Sơ đẳng tại các tỉnh. Sự
cộng tác của nhiều chùa có thể đi đến một Phật học đường như thế. Sau đây
là những chỉ dẫn củahội về thể thức thành lập Phật học đường:
Trường ốc:
Chọn chùa rộng rãi, khí hậu tốt không sinh bệnh, ở đó tăng sĩ cư trú được
nổi tiếng là giới hạnh tinh nghiêm. Vị trú trì chùa có thể là ít học nhưng
phải là người tu hành chân chính.
Giáo sư:
Chọn trong số các vị tăng sĩ địa phương hai vị giáo thọ, một vị chánh một
vị phó. Vị trú trì nếu là người có khả năng thì nên mời tham dự vào việc
giảng dạy. Nếu chưa có thầy giỏi thì chỉ nên mở một lớp sơ đẳng cho giới
sa di mà thôi.
Học tăng:
Chọn những chú tiểu thông minh và phúc hậu, con nhà hiền lành, từ mười tới
hai mươi tuổi, để mở một lớp sơ đẳng. Mỗi lớp chỉ nên nhận từ 30 - 40
người. Những học sinh không thi đậu lên lớp, nhất là những người trẻ không
có khả năng tu học thì nên cho về nhà sớm. Ban đầu chỉ nên mở một lớp; khi
có cơ sở rộng rãi sẽ mở thêm.
Tài chính:
Cần có từ 100 đến 150 đồng để làm phương tiện chuẩn bị cư xá cho học tăng
và lộ phí cho giáo thọ. Nên kêu gọi các tín đồ hữu tâm mỗi người bảo trợ
một hoặc hai học tăng từ 10 đến 15 năm, mỗi năm đóng góp 3 đồng cho mỗi
học tăng. Nếu thiếu phương tiện thì hai hoặc ba người hợp tác để bảo trợ
cho một học tăng. Sau khi đãcó đủ người tình nguyện bảo trợ đủ 40 học
tăng, là có thể tổ chức Phật học đường ngay.
Trường An Nam Phật
Học được khai giảng năm 1933 tại chùa Vạn Phước, số học tăng là 50 vị. Năm
1936, trường này được dời về chùa Túy Ba gần bờ biển, và cuối năm ấy lại
được dời về chùa Báo Quốc. Thiền sư Trí Độ bắt đầu đảm nhiệm trách vụ đốc
giáo của trường này từ năm 1935. Tới năm 1938, học tăng của trường còn
đúng bốn mươi lăm vị, trong số đó chỉ có mười lăm vị được học bổng của Hội
An Nam Phật Học. Trong số học tăng của trường này, có nhiều vị từ các tỉnh
Trung Kỳ tới.
Trường Sơn Môn Phật
học có nhiều lớp: một lớp đại học mở tại chùa Trúc Lâm năm 1935 do thiền
sư Giác Tiên làm giám đốc, và một lớp trung học mở tại chùa Tường Vân do
thiền sư Tịnh Khiết trông nom. Thiền sư Phước Huệ phụ trách làm đốc giáo
giảng dạy cả hai lớp đại học và trung học. Lớp trung học có nhận những học
tăng từ miền Nam tới như Thiện Hòa, Hiển Thụy, Hiển Không, Thiện Hoa, Chí
Thiện v.v… Trong số các giáo sư dạy trường này có các thiền sư Tịnh Khiết,
Đắc Ân, Thánh Duyên, cư sĩ Tâm Minh và một số các học tăng đại học. Năm
1937, lớp này được dời về chùa Tây Thiên.
Trường ni học được
khai giảng lần đầu tại chùa Từ Đàm năm 1932 do ni sư Diệu Hương giám đốc.
Cuối năm ấy chùa Diệu Đức ở xã Thủy Xuân được tạo lập. Ni học đường được
dời về chùa Diệu Đức, và chùa Từ Đàm trở thành hội quan của hội An Nam
Phật Học. Ngoài ni sư Giám Đốc, còn có một số cá học tăng đai học của
trường Sơn Môn Phật Học tới giảng dạy, như Đôn Hậu, Trí Thủ, Mật Hiển và
Mật Nguyện.
Năm 1943 trường An
Nam Phật Học thi tốt nghiệp. Trong số 50 học tăng, chỉ có 6 vị đủ điểm: Võ
Tường (Huế), Phạm Quang (Quảng Bình), Nguyễn Bình (Sài Gòn), Đỗ Xuân Hàng
(Quảng Trị), Trần Trọng Thuyên (Quảng Ngãi) và Nguyễn Chí Quang (Trà
Vinh). Bốn người khác đủ điểm thi viết, nhưng thiếu điểm phỏng vấn, phải
vớt, là Nguyễn Phương (Đà Nẵng), Nguyễn Hương (Sài Gòn), Phạm Học (Đà
Nẵng) và Phạm Thơ (Huế).
Năm1944, Phật học
đường Báo Quốc được dời về Tùng Lâm Kim Sơn ở xã Lưu Biểu. Tùng Lâm
Kim Sơn là một dự án xây dựng lớn của hội An Nam Phật Học. Tiếc thay, Kim
Sơn ra đời không thích hợp thời cơ: nền kinh tế quốc gia sau ngày Nhật đảo
chính Pháp đã trở thành kiệt quệ. Sơn Môn và hội An Nam Phật Học không đủ
sức nuôi nổi học tăng. Học tăng cũng không đủ sức đóng góp phạn phí. Tùng
Lâm Kim Sơn bị đóng cửa, và một số học tăng cấp trung học và sơ học phải
khăn gói vào Nam, nơi lúa gạo vẫn còn, để tìm nơi ăn học. Thiền sư Thiện
Hoa, lúc bấy giờ là kiểm khán của Phật học đường Báo Quốc, là người đề
xướng giải pháp di cư học tăng này. Nguyên ông là học tăng từ miền Nam,
được hội Lưỡng Xuyên gửi ra tùng học tại Phật học đường Tây Thiên từ năm
1937. Nghĩ rằng miền Nam cuộc khủng hoảng kinh tế nhẹ hơn, cho nên ông đã
đề xướng việc di cư. Đoàn học tăng này phải đi bộ từ Huế vào Nam mất mấy
tháng trời. Cuộc di cư này xảy ra vào tháng Tư năm 1945, sau khi Nhật đã
đảo chính Pháp. Vào tới miền Nam, thiền sư Thiện Hoa đưa học tăng đến chùa
Vĩnh Tràng ở Mỹ Tho. Sau đó, trường dời về chùa Phật Quang ở Trà Ôn, tỉnh
Trà Vinh. Nhờ cư sĩ Trương Hoàng Lâu, một đệ tử của thiền sư Khánh Hòa, ra
tay vận động ủng hộ về tài chính, trường Phật Quang mới đứng vững được.
Nhưng khi Cách Mạng Tháng Tám đến, phần lớn học tăng hăng hái đi tham gia
kháng chiến. Phật học đường này vì vậy đã giải thể.
Các lớp học của
trường Sơn Môn Phật Học năm 1944 được dời về chùa Linh Quang. Thiền sư Trí
Thủ giữ trách vụ giám viện của trường, đồng thời kiêm nhiệm trách vụ trú
trì của chùa. Năm 1946, trường dời về chùa Báo Quốc.
Hội An Nam Phật Học
lúc đầu đặt trụ sở tại chùa Từ Quang và nguyệt san Viên Âm đã đặt
tòa soạn tại số 13 đường Champeau Huế. Các buổi giảng diễn Phật pháp đầu
tiên được tổ chức tại chùa Từ Quang, và hai giảng sư phụ trách giảng diễn
nhiều nhất là Mật Khế và Tâm Minh Lê Đình Thám. Cư sĩ Tâm Mminh cũng viết
những bài Phật pháp bằng Pháp văn để đăng trên báo Viên Âm nữa.
Giảng sư Mật Khế là
một trong những đóng góp cụ thể nhất của Giác Tiên cho nền Phục hưng Phật
học. Mật Khế sinh năm 1904 tại làng Thần Phù tỉnh Thừa Thiên. Chín tuổi
ông đã được theo làm tiểu đồng cho Giác Tiên. Năm mười chín tuổi ông được
chính thức thế độ, pháp danh là Tâm Địa, pháp hiệu là Mật Khế. Cũng năm
ấy, ông thọ Cụ Túc Giới tại giới đàn Từ Hiếu do thiền sư Tâm Tịnh làm hòa
thượng. Trong giới đàn này ông là người xuất sắc nhất trong các giới tử
nên chỉ định làm thủ chúng sa di và sau khi thụ giới, ông được thiền sư
Tâm Tịnh tặng cho một bộ ca sa và một cái bình bát.
Năm 22 tuổi ông được
gửi vào chùa Thập Tháp Bình Định học với thiền sư Phước Huệ, khi Phước Huệ
ra dạy ở Trúc Lâm, ông lại theo ra để tiếp tục học tập. Năm 1933 ông lập
trường tiểu học Phật giáo tại chùa Vạn Phước và đến năm 1935 ông lại hợp
tác với Giác Nhiên mở trường An Nam Phật Học tại Trúc Lâm.
Ông hoạt động với tư
cách tổng thư ký của Sơn Môn Thừa Thiên, và giảng sư của hội An Nam Phật
Học. Những bài giảng của ông tại chùa Từ Quang như Tam Quy Ngũ Giới,
Trạch Pháp Tu Tâm, Thanh Văn Thừa, Bồ Tát Thừa, Pháp Môn Niệm Phật v.v…
đều được in lại trong báo Viên Âm.
Năm 1934 ông và Trí
Độ đi Quảng Ngãi dự Giới Đàn Thạch Sơn với tư cách “phóng viên” của báo
Viên Âm. Để chuẩn bị cho Lễ Phật Đản vĩ đại tổ chức tại Huế năm 1935.
ông đã đề ra nhiều tuần lễ vận động trong giới tăng sĩ Thừa Thiên để mang
lại sự ủng hộ toàn diện của giới này cho buổi lễ. Ngày 10.5.1935, trong
lúc đại lễ đang được cử hành tại chùa Diệu Đế thì ông thị tịch tại chùa
Trúc Lâm. Thiền sư Giác Tiên, không có mặt tại buổi lễ, ngồi bên ông trong
giờ phút ông sửa soạn nhập diệt. Giác Tiên đã cầm bút viết một bài kệ bốn
dòng trao cho ông đọc.
Đọc xong ông nhắm mắt chiêm nghiệm. Mười lăm phút sau ông từ trần, tuổi
đời chỉ mới 31 tuổi. Ngày an táng ông, một người bạn thân thiết là cư sĩ
Vân Đàn tặng đôi câu đối bằng chữ Nôm như sau:
Rừng Mai đạp tuyết,
cay đắng trải bao phen, cơ hóa độ còn nhiều, hy vọng chứa chan, tằm kéo tơ
lòng thêu sử Phật;
Sàng Trúc trổ hoa,
tỉnh mê trong nửa kiếp, tình tương tri quá nặng, sầu trường man mác, quyên
rơi giọt lụy gọi hồn thiêng.
Có lẽ giảng sư Mật
Khế đã phí sức nhiều quá trong những ngày vận động cho lễ Phật Đản, một
cuộc biểu dương đầu tiên của lực lượng quần chúng Phật giáo trong phong
trào phục hưng. Như ta đã biết, đại lễ này có vua Bảo Đại tham dự, đã làm
cho báo chí trong nước nói tới nhiều lần và câu hỏi về sự cần thiết hay
không càn thiết một cuộc phục hưng Phật giáo đã được đặt ra giữa dư luận
của quần chúng quảng đại. Tổng Trị Sự của hội An Nam Phật Học qua trung
gian của những người như Ứng Bàng, Nguyễn Đình Hòe, Nguyễn Khoa Tân v.v…
trước đó đã vận động để vua Bảo Đại nhận chức vị hội trưởng danh dự của
hội. Từ năm trước, tức là năm 1934, vua Bảo Đại đã ban sắc tứ cho các chùa
Tây Thiên, Tường Vân và Trúc Lâm. Chùa Tường Vân nguyên đã là một chùa sắc
tứ rồi, bây giờ lại được ban sắc tứ một lần nữa. Chùa Tây Thiên bây giờ
lại được hiệu là “Sắc Tứ Tây Thiên Di Đà Tự” và chùa Trúc Lâm “Sắc Tứ Đại
Thánh Trúc Lâm Tự”. Đại Thánh Trúc Lâm tức là vua Trần Nhân Tông ngày xưa
vậy. Sau lễ Phật Đản 1935, có nhiều bài báo công kích đạo Phật, cho rằng
đạo Phật làđạo ru ngủ và phục hưng Phật giáo là một việc làm không hợp
thời. Chẳng hạn báo Ánh Sáng ra ngày 8.6.1935 đã đăng một bài của
Kính Hiển Vi. Nhan đề là Phật Giáo Dưới Kính Hiển Vi. Ký giả Nguyễn
Xuân Thanh của Viên Âm bác bỏ các luận cứ của Kính Hiển Vi, và bảo
rằng Kính Hiển Vi chỉ “có thể để xem vi trùng chứ không có thể xem Phật
giáo” Ông cho rằng Phật giáo rất thích hợp với đời sống mới, rằng đạo Phật
có đủ tinh thần cải cách, tinh thần độc lập, tinh thần thực hành và tinh
thần dũng cảm.
Tuy chứng minh đạo sư của hội là Giác Nhiên có viết thư khuyên Viên Âm
“tránh sự cãi cọ như tránh hang lửa trừ khi phải hộ pháp”, tạp chí Viên
Âm vẫn chứng tỏ làm một tạp chí có biện tài. Trong khi Tâm Minh đối
chất với Bích Liên và những học giả khác về đề tài “Cái Hồn”, thì Nguyễn
Xuân Thanh thẳng tay phê bình những bài viết trên các báo Tràng An
và Ánh Sáng về đạo Phật. Chủ trương của Nguyễn Xuân Thanh là đạo
Phật có thể luyện cho con người một tinh thần tự lập, khẳng khái, cương
quyết, biết hy sinh, và thanh niên của đạo Phật là người có thể thực hiện
được tinh thần ấy vì họ là những bực đã phát bồ đề tâm. Cây bút Nguyễn
Xuân Thanh là cây bút thanh niên. Ông nhấn mạnh với đối phương: “Người nào
muốn phê bình đạo Phật thì trước hết, ít nữa cũng phải biết đạo Phật là
chi đã”.
Nguyễn Xuân Thanh còn viết nhiều bài nữa để chứng minh rằng Phật học rất
cần thiết để bổ túc cho khoa học.
Hội An Nam Phật Học
lập tỉnh hội, chi hội và khuôn hội tại khắp các tỉnh Trung
Kỳ. Chi hội là đơn vị phủ huyện của hội, và khuôn hội là đơn
vị xã. Vào khoảng năm 1940, cơ sở tổ chức của hội đã vững chãi từ thành
thị đến thôn quê khắp xứ.
Cũng vào khoảng năm
1940, cơ sở của tổ chức Thanh Thiếu Niên Phật Tử được thành lập. Từ 1932
những tổ chức thiếu niên thiếu nữ đã có mặt rồi, được gọi là những ban
Đồng Aáu, ở Trung thì do các vị như Bửu Bác chăm sóc dạy dỗ, ở Bắc thì có
các vị như Công Chân luyện tập. Tuy nhiên những ban Đồng Ấu này chưa đích
thực là những tổ chức giáo dục thanh niên theo phương pháp mới. Năm 1940,
cơ sở của tổ chức Thanh Thiếu Niên Phật tử được thành lập. Từ 1932 những
tổ chức thiếu niên thiếu nữ đã có mặt rồi, được gọi là những ban Đồng Ấu.
Ở Trung thì do các vị như Bửu Bác chăm sóc dạy dỗ, ở Bắc thì do các vị như
Công Chân luyện tập. Tuy nhiên những ban Đồng Ấu này chưa đích thực là
những tổ chức giáo dục thanh niên theo phương pháp mới. Năm 1940, Tâm Minh
Lê Đình Thám quy tụ một số thanh niên tri thức tân học tại Huế, phần lớn
là con cháu các cư sĩ đã từng hoạt động trong hội An Nam Phật Học, và
thành lập đoàn Thanh Niên Phật học Đức Dục. Ông cũng gọi cái tổ
chức bằng danh từ Pháp ngữ “Commission d’Etudes Bouddhiques Et De
Perfec-tionnement Moral”. Đích thân ông đứng ra hướng dẫn cho đoàn và dạy
Phật pháp cho họ. Những thanh niên tân học này không học Phật pháp bằng
những văn bản Hán văn nữa. Họ được nghe trình bày đạo Phật theo đường lối
tân học, cho nên họ hiểu giáo lý rất mau chóng. Đồng thời với Phật học, họ
còn được học Nho học và Lão học nữa. Ông Đinh Văn Chấp, tiến sĩ Hán học,
đã tham dự vào việc giảng huấn cho lớp này. Ông đã giảng các sách Đại
Học và Trung Dung của Nho giáo.
Đoàn Thanh Niên Phật
Học Đức Dục lúc ấy là tượng trưng cho một đạo Phật rất “mới”. Bài ca chính
thức của đoàn được soạn và hát ca bằng tiếng Pháp! Điều này khiến cho giới
thiếu niên thấy rằng đạo Phật làmột cái gì rất “hợp thời”, không còn cổ hủ
nữa. Đây là “Bài Hát Chính Thức” của tổ chức Gia Đình Phật Tử “Hoa Sen
Trắng” sau này. Lời Pháp hồi ấy như sau:
Rangeons nous, mes
amis
Pour chanter gaiement
en choeur
Portons tous vers
Bouddha
Notre foi et notre
ardeur
Engageons-nous à tout
prix
Sur la route qui
monte brille
Et ce chant s’élevéra
Pour unir nos jeunes
coeurs
Nhiều ban Đồng Ấu mới
được thành lập, và những ban này bắt đầu hướng dẫn, học tạp và rèn luyện
bởi những đoàn viên của đoàn Phật học Đức Dục. Cuốn sách căn bản về Phật
học để giáo dục thanh thiếu niên hồi ấy là cuốn Phật Giáo Sơ Học
được đoàn Phật Học Đức Dục soạn và ấn hành năm 1942. thấy thế hệ trẻ làm
việc có hiệu quả, Lê Đình Thám giao cho họ việc biên tập Viên Âm và
sử dụng tạp chí này để tạo dựng một thế hệ Phật tử mới. Từ số 48 trở đi
Viên Âm đổi mới hoàn toàn. Hầu hết mọi bài vở đều do đoàn viên Đoàn
Phật Học Đức Dục viết. Văn của họ mới, gọn và dễ hiểu, hướng cả về tuổi
trẻ. Truyện tiền thân của họ viết làm say mê thiếu niên và thiếu nữ.
Trong phần Pháp văn họ viết về sự thực tập thiền định (Pratique de la
Méditation), giới thiệu phần thực tiễn và tinh ba nhất của đạo Phật
cho giới tân học.
Rất nhiều đoàn viên
của Đoàn Phật Học Đức Dục đã đóng góp bài cho Viên Âm: Lê Hữu Hoài,
Phạm Hữu Bình, Lê Bối, Trần Đỗ Cung, Ngô Điền, Nguyễn Năng Viên, Nguyễn
Hữu Quán, Võ Đình Cường, Đinh Văn Vinh, Hoàng Kim Hải, Trực Hiên, Hà Thị
Hoài, Nguyễn Khải, Ngô Đồi, Phạm Hữu Bình là một trong những người có kiến
thức giáo lý vững chãi nhất. Ông đã viết về Duy Thức trong nhiều số
Viên Âm.
Đoàn Phật Học Đức Dục
lại có tổ chức Phật học Tùng Thư và xuất bản nhiều sách Phật, trong đó có
cuốn Phật Giáo Và Thanh Niên Đức Dục của Phạm Hữu Bình và cuốn
Phật Giáo Và Đức Dục của Đinh Văn Vinh. Hai cuốn này đều nhằm đến sự
xây dựng phong trào thanh niên Phật tử.
Trong những năm 1942,
1943 và 1944, các lớp Phật pháp được tiếp tục tổ chức cho thanh niên tân
học vào mùa nghỉ hè và cư sĩ Tâm Minh luôn luôn phụ trách việc giảng dạy.
Vào ngày Phật Đản năm 1944, một đại hội Thanh Thiếu Niên Phật Tử được tổ
chức tại rừng Quảng Tế. Đại hội này khai sinh Gia Đình Phật Hóa Phổ,
tiền thân của tổ chức Gia Đình PhậtTử sau này.
Cư sĩ Tâm Minh có
nhiều tài năng. Trong các số đầu của Viên Âm, ông tự tay viết cả
truyện ngắn (ký tên T.M.), truyện dài (ký tên Châu Hải) và truyện hài hước
(ký tên Ba Rảm), gọi đó là những “biệt khai phương tiện”. Tuy rằng truyện
ngắn và truyện dài của ông
có nhiều ý vị nhưng vì độc giả Viên Âm muốn dành hết số trang cho
giáo lý nên đến số 4, ông hy sinh hai mục đó và chỉ giữ lại mục câu chuyện
khôi hài, tức là câu chuyện của chú tiểu Cửu Giới.
Viên Âm
ra mắt số đầu ngày 1.12.1933. Danh từ Viên Âm được giải thích như
sau: “Viên Âm nghĩa là tiếng tròn. Tiếng tròn là tiếng nói hoàn toàn;
tiếng nói hoàn toàn duy chỉ pháp âm của Phật. Phật là bậc viên giác, tự
giác, giác tha, giác hạnh viên mãn, cho nên lời nói tròn, việc làm tròn,
giáo pháp tròn, tròn theo bổn tánh thanh tịnh, tròn làm sao, trong tròn,
ngoài tròn, trên tròn, dưới tròn, cũng tam giới khắp thập phương, lớn nhỏ
xa gần đâu đâu cũng tròn cả”
Khả năng học Phật của
Tâm Minh có thể nhận ra trong các thiên khảo luận như Kết Sinh Tương
Tục Luận và trong các bản dịch thuật và chú giải của các kinh như
Lăng Nghiêm Kinh. Tuy làm được thật nhiều việc, ông vẫn có thái độ
khiêm cung và sự khiêm cung và sự khiêm cung này được trông thấy nơi một
bài thơ ông làm và đăng ở Viên Âm số 17 (tháng Chín 1935):
Bấy nay vật vã kiếp phù trầm
May đặng vào tai
tiếng Phạm Âm
Tùy tiện trau dồi
gương chánh kiến
Ứng cơ giảng giải
lý duy tâm
Ngộ mê vẫn đủ ngôn
thân ý
Sinh tử nguyên vì
sát đạo dâm
Tam bảo từ bi xin
mật hộ
Cho khi hoằng pháp
khỏi sai lầm.
Có thể nói là Tâm
Minh Lê Đình Thám đã trao truyền được chí nguyện hoằng pháp cho thế hệ đi
sau ông. Rảnh tay về Viên Âm, ông dồn nghị lực xây dựng cơ sở cho
một Phật học Viện lớn tại Kim Sơn gọi là Tòng Lâm Kim Sơn để dời
tất cả các lớp Phật Học ở kinh đô về. Dự án đẹp đẽ này chưa thành thì Cách
Mạng Tháng Tám xảy ra và công việc bị bỏ dở.
Năm 1946, cuộc chiến
Pháp Việt bùng nổ, dân chúng Huế tản cư, ông cùng gia đình di tản vè Quảng
Nam. Từ 1947 tới 1949 ông làm chủ tịch Ủy Ban Hành Chính kháng Chiến Miền
Nam Trung Bộ. Tại liên khu V của vùng kháng chiến, ông tập hợp một số đoàn
viên của đoàn Phật Học Đức Dục có mặt trong vùng và thành lập tổ chức
“Phật Giáo và Dân Chủ Mới” tại Bồng Sơn, Bình Định, nghiên cứu việc tổng
hợp giáo lý Phật giáo và lý thuyết Mác-Lê. Trong những tài liệu được phát
hành có tập Đạo Phật Và Nền Dân Chủ Mới của Nguyễn Hữu Quán.
Mùa hè năm 1949, ông
được lệnh ra Bắc. Ở đây ông được đề bạt làm chủ tịch Phong Trào Vận Động
Hòa Bình Thế Giới. Năm 1956 ông được đi dự lễ Buddha Jayanti tại Ấn
Độ với pháp sư Thích Trí Độ. Trong dịp này tượng Thiên Thủ Thiên Nhãn tại
chùa Tiên Phúc đã được mang theo để triển lãm.
Năm 1961 toàn bộ
Kinh Lăng Nghiêm mà ông đã khởi công phiên dịch và chú giải trên
Viên âm được xuất bản. Ông mất vào ngày 23.4. 1969 tại Hà Nội, thọ bảy
mươi ba tuổi.
Tâm Minh Lê Đình Thám
xứng đáng có một chỗ đứng quan trọng trong lịch sử Phật giáo Việt Nam cận
đại. Ông là một người dễ mến và đầy nhiệt tình. Ông luôn luôn được bao
quanh bởi bạn bè. Bên ông có những nghệ sĩ tài ba như Bửu Bác và Nguyễn
Khoa Toàn (công việc trùng tu chùa Từ Đàm để làm trụ sở cho hội An Nam
Phật Học được thành tựu đẹp đẽ nhờ sự có mặt của Nguyễn Khoa Toàn. Ông
Toàn đã trông coi về phương diện mỹ thuật. Tượng Phật chùa Từ Đàm là do
ông điêu khắc). Tâm Minh lại không hề xa cách với tuổi trẻ. Có khi ông hồn
nhiên như trẻ con. Một hôm từ nhà, ở số 31 đường Nguyễn Hoàng, ông đi bộ
lên Từ Đàm. Dưới dốc Nam Giao ông gặp hai đứa trẻ ngồi đánh cờ tướng bên
đường. Ông ghé mắt xem, thấy một bên đang bí nước. Ông liền ngồi xuống chỉ
cờ cho em bé. Và ông ngồi chơi đánh cờ với bọn trẻ tới hơn một giờ đồng hồ
rồi mới tiếp tục đứng dậy lên chùa. Có công, có lòng với Cách Mạng, ông đã
thao thức muốn điều hợp học thuyết xã hội chủ nghĩa với Phật pháp và đã có
công bênh vực Phật giáo bị hạn chế ở liên khu V. Sau đó ông được triệu ra
Bắc. Ông ra Hà Nội bằng đường mòn Hồ Chí Minh, dọc theo dãy Trường Sơn.
Năm 1956 được gặp các đại biểu Miền Nam tại đại hội Buddha Jayanti, ông
rất phấn khởi khi nghe tin tức Phật giáo miền Nam {…} Khi về Hà Nội ông
không còn giữ chức Chủ tịch Phong trào Hòa Bình nữa {…} Ông đã làm đủ mọi
cách để có thể xuất bản được cuốn kinh Thủ Lăng Nghiêm do ông dày
công phiên dịch và chú giải. Ngày xuất bản kinh nầy năm 1961 tại Hà Nội
tại chùa Quán Sứ, chắc chắn là một ngày vui và một niềm an ủi lớn cho ông.
Ông phiên dịch và
viết khá nhiều, phần lớn đều được in trên Viên Âm. Sau đây là một
đoạn văn của ông mà chúng tôi thiết nghĩ có thể tóm tắt được nhận thức của
ông về Phật giáo đại thừa. Đoạn văn này được trích trong Lời Nói Đầu
ông viết vào mùa Xuân năm 1961 tại Hà Nội, in ở đầu bộ Kinh Thủ Lăng
Nghiêm {…} trong môi trường một xứ sở xã hội chủ nghĩa.
“Chư Phật ra đời
chỉ nhằm được một mục đích là dạy bảo chỉ bày cho chúng sinh giác ngộ và
thức chứng Pháp-giới-tính như Phật. Pháp-giới-tính là tính bản nhiên của
tất cả sự vật, nghĩa là của tất cả các chuyển động và các hiện tượng trong
vũ trụ”.
“Tính bản nhiên ấy là
tính trùng trùng duyên khởi, nghĩa là tính ảnh hưởng dây chuyền của một sự
vật đối với tất cả sự vật, của tất cả sự vật đối với một sự vật. Ví như
một con cá nhỏ vẫy đuôi. Tuy rung động rất ít, nhưng nếu có khả năng đo
lường chính xác, thì cũng có thể thấy ảnh hưởng cùng khắp bốn bể.
“Do mọi sự vạt
chịu ảnh hưởng của tất cả sự vật nên đều chuyển biến không ngừng nên ảnh
hưởng lại tất cả sự vật chuyên biến không ngừng nên ảnh hưởng lại lai tất
cả sự vật đều chuyển biến không ngừng. Song ảnh hưởng của các loại sự vật
đối với mọt sự vật không giống nhau, cái thì trực tiếp, cái thì gián tiếp
qua một hay nhiều lớp, do đó tác dộng cũng không giống nhau. Trong ảnh
hưởng phức tạp của tất cặ vật làm cho một sự vật xuất hiện và chuyển biến,
đạo Phật đã rút ra một quy luật bản nhiên là luật nhân-quả.
“Luật nhân-quả là
một quy luật rất sinh động không phải luôn luôn đơn giản như trồng lúa thì
được lúa. Lại chính việc trồng lúa cũng không đơn giản lắm, vì phải có
đất, nước, phân, cần, giống, phải kể đến thời tiết thuận nghịch, đến kỹ
thuật cày cấy v.v… thì mới chắc được lúa. Vì thế nên nhân quả và định mệnh
khác nhau rất nhiều. Định mệnh thì việc gì cũng đã định trước rồi, không
làm sao tránh khỏi được; còn nhân quả thì chẳng những có nhân quả khứ sinh
quả hiện tại, mà còn có nhân hiện tại sinh quả hiện tại (trong đó có cả
ảnh hưởng của hoàn cảnh, ảnh hưởng của tư tưởng hành động bản thân). Hai
dây chuyền nhân quả đó thường xuyên ảnh hưởng lẫn nhau, làm cho quả báo
hiện tại thay đổi từng giờ từng phút. Vật chất có nhân quả vật chất, tâm
thức có nhân quả tâm thức, hai bên ảnh hưởng lẫn nhau nhưng không nhất
thiết giống nhau. Đối với Đạo Phật, nhân quả tâm thức là chủ yếu, vì nó
quy định sự tiến hóa hay thoái hóa trên con đường giải thoát.
“Các vị thanh văn
duyên giác, theo đạo lý nhân quả, trừ bỏ nguyên nghân luân hồi và chứng
quả vô sinh, nhưng vẫn còn tu tu chứng trong nhân quả, chứ chưa rõ được
then chốt nhân quả.
“Then chốt nhân
quả là Pháp-giới-tính trùng trùng duyên khởi, nghĩa là mọi sự vận duyên
tất cả sự vật, trong một có tất cả, trong tất cả có một, một tức là tất
cả, tất cả là một. Tính ấy gọi là tính chân như, là thật tướng, là Phật
tính, là Như Lai Tạng Tính, là pháp tính, là tâm linh, vân vân…
“Tính ấy bình
đẳng, không thật có sinh có diệt, có người có mình, có tâm, có cảnh, có
thời gian, có không gian, không thấp, không cao, không mê, không ngộ; tính
ấy duyên khởi ra tất cả sự vật, không có ngăn ngại, đồng thời cũng tức là
bản tính của tất cả sự vật, không có ngăn ngại, đồng thời cũng tức là bản
tính của tất cả sự vật, không hề thay đổi.
“Tam thế chư Phật,
chư Đại Bồ Tát, thật chứng và nhập một với Pháp-giới-tính nên phát khởi
duyên đại từ, đồng thể đại bi, hiện ra vô số thân, theo duyên hóa độ vô
lượng vô biên chúng sanh, nhưng vẫn không có gì ra ngoài Pháp-giới-tính.
Chúng sinh chưa chứng được Pháp-giới-tính nên theo duyên mà luân hồi trong
lục đạo. Nhận thức khác nhau nên chỗ thụ dụng của Phật và của chúng sinh
khác nhau, nhưng Pháp-giới-tính vẫn là như vậy, không thêm, không bớt.
“Pháp-giới-tính là
tính chung của các loại vô-tình như cây, như đá và của các loại hữu-tình,
đặc biệt các loại có trình độ nhận thức khá cao như loài người, mới có khả
năng chứng được Pháp-giới-tính và thành Phật đạo. Do đó nên Pháp-giới-tính
nơi các loài hữu tình cũng gọi là Phật tính.
Các loài hữu tình
chủ yếu là những cái tâm làm cho có sống, có cảm giác, có nhận thức, có
suy nghĩ, có ghi nhớ vân vân… Cái tâm là một sự vật nên bản tính vẫn là
Pháp-giới-tính như các sự vật khác.
“Khi học đạo và tu
chứng, tâm ấy có thể quan sát Pháp-giới-tính nơi cây, nơi đá, hay quan sát
Pháp-giới-tính nơi tự tâm thì có phần dễ nhập với Pháp-giới-tính hơn là
khi xét nhận được Pháp-giới-tính nơi cây, nơi đá.
“Vì thế Phật
thường dạy người đời tu chứng Pháp-giới-tính nơi tự tâm mình và gọi
Pháp-giới-tính đó là tâm tính.
“Song tâm tính vốn
là Pháp-giới-tính chứ không phải tính riêng của tự tâm và khi chứng ngộ
được tâm tính rồi thì của tâm riêng cũng không còn nhiều nữa.
Phật thuyết pháp
theo căn cơ của chúng sinh, nên pháp của Phật khi thấp khi cao, khi quyền,
khi thật, khác nhau. Nhưng dầu Phật dạy Tam quy, ngũ giới, thập thiên, dạy
tứ đế, thập nhị nhân duyên hay dạy về pháp tính, pháp tướng, tâm tính,
chân như, chân không, thật tướng vân vân… Phật luôn luôn nhắm mục đích chỉ
bày cho chúng sanh chứng ngộ trí tuệ của Phật, nghĩa là chứng ngộ
Pháp-giới-tính.
Như ta đã biết, hội
An Nam Phật Học không những đã có được sự yểm trợ của hầu hết các phần tử
trong sơn môn mà còn có được sự cộng tác tích cực của những vị tăng sĩ trẻ
tuổi và có học của sơn môn đào tạo nữa. Sự cộng tác này phần lớn nằm trong
phạm vi hoằng pháp: giảng diễn cho tín đồ, giáo huấn học tăng, trước thuật
bài vở và kinh sách. Tuy nhiên nhìn hội An Nam Phật Học với những thành
quả mà nó thu lượm được chỉ là mới nhìn thấy một bông hoa nở trên một
nhành cây mà chưa thấy tự thân cái cây ấy. Tuy nói rằng Phật giáo suy yếu,
cần phải phục hưng, nhưng nếu căn bản và tiềm lực không có thì sự phục
hưng ấy sẽ trở nên rất khó khăn. Sở dĩ ta có được một Mật Khế hay một Lê
Đình Thám là nhờ ta đã có được một Giác Tiên chẳng hạn thì ta thấy được
Tâm Minh, bổn sư của ông. Tuệ Pháp, giáo thọ của ông. Viên
Thành, bạn thân của ông, Giác Nhiên, sự đệ của ông và Phước
Hậu, Đắc Ân, Tịnh Hạnh v.v… tức là những người đã chấp nhận làm chứng
minh đạo sư cho hội An Nam Phật Học do ông sáng lập. Nhìn lại cuộc đời
những vị đó thì ta có thể có một ý niệm về những tiềm lực của đạo Phật đã
đưa tới sự chấn hưng của Phật Giáo Trung Kỳ.
Thiền sư Tâm Tịnh
bổn sư của Giác Tiên là một trong những đệ tử xuất sắc của thiền sư
Lương Duyên, người đã đắc pháp với thiền sư Nhất Định, tổ khai
sơn chùa Từ Hiếu.
Như ta đã biết, ngoài thiền sư Lương Duyên, tổ Nhất Định còn có hai
người đệ tử khác là Cương Kỷ và Linh Cơ. cũng như Lương
Duyên, hai thiền sư Cương Kỷ và Linh Cơ đã đào tạo được và để lại cho sơn
môn Thừa Thiên nhiều vị tăng sĩ xuất sắc. Ngoài Tâm Tịnh, thiền sư Lương
Duyên còn có những đệ tử xuất sắc khác như Tâm Quảng, Tâm Thể và Tâm
Truyền. Thiền sư Tâm Tịnh đã từng giữ chức Tăng Cương chùa Diệu Đế. Ông
tên là Nguyễn Hữu Vinh. Phát xuất từ chùa Từ Hiếu, ông đã kế vị thiền sư
Huệ Đăng làm trú trì chùa này trong nhiều năm. Năm 1904, để có nhiều thì
giờ tu tập hơn, ông thường chức vị trú trì tổ đình cho thiền sư Huệ Minh
và đến cất am Thiếu Lâm ở chùa Tây Thiên để tu hành. Chùa này ở một vùng
đồi nhỏ, có trồng nhiều thông, ở về phía Tây nam núi Ngự Bình. Ông mang
theo về Tây Thiên một người đệ tử: đó là thiền sư Giác Tiên, hồi đó mới 24
tuổi.
Ở Tây Thiên ông thu
nhận thêm nhiều vị đệ tử, trong đó có các vị Giác Nguyên và Giác Nhiên.
Cùng với Giác Tiên, hai vị này đã từng đóng góp cho phong trào chấn hưng
Phật giáo và đã trở thành những nhân vật rường cột cho Phật giáo sau này.
Thiền sư Tâm Tịnh mở lớp dạy Phật pháp cho các đệ tử và những người khác
đến cầu học với ông. Tiếng thơm đạo hạnh của ông được đồn xa, và trong số
những người hâm mộ ông có cả vua Khải Định. Ông vua này thường hay để xe
cộ và thị vệ dưới đồi và đi bộ một mình lên chùa. Một hôm thiền sư Tâm
Tịnh gặp vua ở trước am Thiếu Lâm, liền chắp tay chào và niệm: “Nam Mô
Khải Định Vương Bồ Tát”. Vua Khải Định chưa hỏi lý do gì thì ông giải
thích: “Quốc Vương là một vị Bồ Tát hộ pháp”. Vua hỏi thêm thì ông cho
biết hiện giờ ông đang tổ chức Đại Giới Đàn tại chùa Từ Hiếu mà thiếu
phương tiện tài chính. Vua Khải Định bèn hứa cúng dường những phương tiện
còn thiếu ấy. Đó là vào năm 1924. Giới Đàn này đã được thiền sư Huệ Minh
tổ chức vào ngày 16, 17, 18 và 19 tháng Bảy dương lịch. Số giơi tử là 450
vị, trong đó có 300 tăng ni. Những thiền sư có mặt trong hội đồng Hộ Giới
của giới đàn này là: thiền sư Tâm Tịnh (tăng cương chùa Diệu Đế, đàn đầu
hòa thượng), thiền sư Trương Văn Luận (tăng cương chùa Thiên Mụ, giáo
thọ), thiền sư Phạm Gia Khánh (trú trì chùa Báo Quốc, đệ nhất tôn chứng),
thiền sư Viên Thành (trú trì chùa Tra Am, đệ nhị tôn chứng), thiền sư Đặng
Kỳ Đỉnh (trú trì chùa Thiên Mụ, đệ tam tôn chứng), thiền sư Phúc Hậu (trú
trì chùa Linh Quang, đệ tứ tôn chứng), thiền sư Đỗ Giác Viên (tự trưởng
chùa Viên Thông, đệ ngũ tôn chứng), thiền sư Hoằng Nguyện (tự trưởng chùa
Viên Thông, đệ lục tôn chứng), thiền sư trú trì chùa Chúc Thánh (Quảng
Nam, đệ thất tôn chứng).
Ta đã được đọc bài kệ
phú pháp của ông trao cho thiền sư Giác Tiên trong phần lược sử của thiền
sư này.
Thiền sư Tâm Tịnh
thuộc về thế hệ thứ 41 dòng Lâm Tế. Ông mất năm 59 tuổi. Thiền sư Viên
Thành ở chùa Tra Am, một thiền sư thi sĩ nổi tiếng thời ấy, tặng đôi câu
đối như sau:
Tứ thập nhất đại
Lâm Tế chấn thiền phong, đào chú công thâm, thùy thụ đương đầu hát bổng,
Ngũ thập cửu niên
Diêm Phù thùy hóa tích, trí bi nguyện mãn, nhi kim tát thủ hoàn gia!
Hai câu đối Nôm sau
đây được ni chúng và nữ cư sĩ ở Huế đưa tặng:
Chốn Song Lâm mây ẩn
bóng Ưu Đàm, đứt nối tiếng chuông, dép cỏ đi về còn tưởng tượng.
Miền Thiếu thất trăng
lồng lộng gương Bát Nhã, mênh mang biển học, thuyền từ che chở biết nhờ
ai?
Thiền sư Huệ Pháp,
giáo thọ của Giác Tiên, là tọa chủ chùa Thiên Hưng. Năm 1920, khi ông khai
giảng lớp Phật pháp cao học tại đây, thiền sư Giác Tiên, không những đã
tới tham học mà lại còn đem các vị đệ tử của mình tới dự tính nữa. Thiền
sư Huệ Pháp, người họ Đinh, sinh năm 1871 tại làng Trung Kiên phủ Triệu
Phong tỉnh Quảng Trị. Ông xuất gia tại chùa Từ Hiếu, làm đệ tử của thiền
sư Cương Kỷ. Năm 21 tuổi, thụ Sa di giới, ông được thiền sư đặt pháp danh
là Thanh Tú, pháp tự là Phong Nhiêu. Ông thụ giới Cụ Túc tại Giới Đàn tổ
chức tại chùa Báo Quốc năm 1894 do thiền sư Lương Duyên tổ chức. Năm sau,
ông được đắc pháp với thiền sư Lương Duyên, hiệu là Huệ Pháp. Năm 1896,
môn đồ chùa Thiên Hưng đến Từ Hiếu đảnh lễ thiền sư Cương Kỷ để xin rước
Huệ Pháp về trú trì chùa Thiên Hưng.
Ông hành đạo rất tinh
tấn. Mỗi năm ông an cư hai lần, vào mùa Hạ và mùa Đông. Ông thường mở
những lớp giảng kinh cho những tăng sĩ tới cầu học: kinh Pháp Hoa,
kinh Lăng Nghiêm, kinh Phạm Võng, luật Tứ Phần v.v…
Năm 1910, ông được mời làm đệ tam tôn chứng trong giới đàn chùa Phúc Lâm ở
Quảng Nam do thiền sư Vĩnh Gia làm chủ tọa. Năm 1911 ông khởi công trùng
tu chùa Thiên Hưng. Vua Khải Định ban giới đao độ điệp cho ông vào năm
1919 và sắc cho ông làm trú trì chùa Diệu Đế. Năm 1924, ông được mời làm
giáo thọ cho toàn thể giới tử đại giới đàn Từ Hiếu. Năm 1926 ông được ban
chức Tăng Cương chùa Diệu Đế. Ông tự thiêu năm 1927 tại chùa Thiên Hưng,
hưởng thọ 56 tuổi. Tháp ông được xây tại chùa Từ Hiếu và đệ tử của ông là
thiền sư Quảng Tu kế thế trú trì chùa Thiên Hưng. Bài văn khắc trong bia
dựng ở tháp ông là do thiền sư Viên Thành thảo. Viên Thành đã viết:
“Đại sư thiệp liệp
giáo pháp; tông chỉ và lý thuyết đều tinh, chuyên tâm nghiên cứu nghĩa lý
chỉ quán phái Thiên Thai, lại thường khuyên người tu Tịnh độ để làm con
đường giải thoát mau chóng… Đại sư tùy cơ ứng đối thích hợp như sữa và
nước hòa nhau, cơ duyên hóa độ rất nhiều không sao thuật hết…”
Đối với Huệ Pháp,
Viên Thành làm một pháp điệt. Ông xem Huệ Pháp như thầy của ông và giao
tình giữa hai người suốt mời mấy năm rất là mật thiết. Lúc Huệ Pháp viên
tịch, Viên Thành rất thương tiếc. Ông đi một đôi câu đối như sau:
Bất tuệ nhẫn vị
nhân vị nhẫn xả thiên tiên, tri kỷ lệ thành Hồng hạnh vũ;
Đại khai sĩ hữu
duyên quy Phật tảo, cố sơn mộng đoạn Bích đào thiên.
Dịch:
Kẻ hậu sinh chưa nỡ bỏ thân ngay, tri kỷ khóc thành mưa Hồng hạnh:
Bực khai sĩ có
duyên về Phật sớm, non xưa mộng thấy chốn Đào hoa.
Bài minh của Viên
Thành viết ở cuối bia như sau:
Giác Hoàng ứng thế thủy vi ngôn
Bàng bạc nhật
nguyệt, châu kiền khôn
Trí giả tài biện
cùng hóa nguyên
Thì vi diễn thuyết
khai mê hôn.
Hằng sa giáo điển
tuy vân vân,
Diệu nhập Thiên
Thai Chỉ Quán môn.
Đại sư cận xuất
dương thanh phân
Chí kiên, khí
trực, mạo thả ôn.
Thiếu nhi mẫn ngộ,
lão ích cần.
Hoặc sám hoặc
giảng vong bô hân
Trung hưng giáo
quản chân điệt quần
Tung hoành ngôn
luận diệu nhập thần.
Di văn xán
nhượckhả ngôn lân.
Từ thuần lý chính
đạo bất phiền,
Hà nhĩ học đồ nhật
tuấn bôn.
Ký tư chính giác
tiêu ba tuần.
Hạnh cao danh vọng
thượng quốc văn.
Thiên tử khiển sứ
lai trung hôn.
Triều dã huân
thích cố sở hân.
Điệp mông cung tứ
hồi thiên ân
Tri thân biến điệt
như phù vân
Thệ dũng khí xả
cam xu phần.
Tông thuyết kiêm
thông, thùy kỳ nhân
Sư tâm liễu liễu
sở túc đôn,
Pháp thân vô
tướng, ninh phi chân?
Kim tuy vân vong,
ninh phi tồn?
Hậu thế tử tôn kỳ
phồn phồn.
Khâm sư đạo hạnh
quan tư văn.
Dịch:
Giác
hoằng ứng thế mở lời mầu
Bàng bạc trăng sao
nghĩa thẳm sâu
Kẻ trí biện tài
đem giáo hóa
Thuyết pháp cứu độ
đời thương đau
Giáo điển tuy
nhiều đến vô lượng
Thiên Thai Chỉ
Quán riêng tâm đầu
Đại sư xuất thân
dòng cao khiết
Chí bền, lòng
thẳng, dáng thanh tao
Tuổi thơ nhanh
nhẹn, lớn cần mẫn
Thiền sàng pháp
tọa không hề xao.
Trùng hưng giáo
quán trong thiên hạ
Ngôin luận tung
hoành như trời cao
Văn từ sáng rỡ
không khúc mắc
Giản lược lời ngay
ý nghĩa sâu
Học đồ bốn phương
về tụ hội
Đuốc tuệ soi
đường, ma chạy mau.
Nhà vua tôn sùng
sai sứ thỉnh
Trong triều ngoài
quận thảy mong cầu
Biết thân bèo bọt
như mây nổi
Phó thác hình hài
ngọn lửa cao.
Thiền giáo hai bên
đều nắm vững
Tâm tư sáng rỡ bậc
anh hào
Pháp thân không
tướng mà chân thực
Nói mất mà còn
muôn đời sau
Cháu con sau này
như có nhớ
Tìm tới bia này
đọc mấy câu.
Thiền sư Phước Huệ
tên là Nguyễn Tấn Giao, sinh năm 1869 tại làng Nhơn Thành, Bình Định, xuất
gia năm 1881 tại chùa Thập Tháp dưới sự hướng dẫn của thiền sư Chí Tịnh.
Ông lại được theo học với thiền sư Châu Long chùa Tịnh Lâm, Phù Cát, và
thiền sư Luật Truyền tại chùa Từ Quang ở Đá Trắng. Ông thọ đại giới năm
1889 và đắc pháp năm 1892 với thiền sư Luật Truyền. Năm 1894, ông làm trú
trì chùa Phổ Quang ở huyện Tuy Phước. Năm 1901 ông được triều đình ban cho
giới đao độ điệp làm Tăng Cương cho chùa Thập Tháp. Năm 1908 ông được mời
ra hoàng cung giảng đạo đồng thời cũng để khai một khóa giảng kinh tại
chùa Trúc Lâm. Các vua Thành Thái, Duy Tân và Khải Định đều có mời ông vào
cung giảng đạo. Vì vậy ông được tôn xưng là quốc sư.
Năm 1920 ông tổ chức
các lớp tăng học tại hai chùa Thập Tháp và Long Khánh. Từ năm 1930 trở đi,
theo lời thỉnh cầu của thiền sư Giác Tiên, năm nào ông cũng ra Huế giảng
dạy. Năm 1938 ông lại được mời làm chủ giảng Phật học đường Long Khánh ở
Quy Nhơn.
Tại huế, ngoài các
lớp cao học tại Trúc Lâm, ông còn dạy những lớp cấp trung học tại Tường
Vân và Tây Thiên. Phần lớn những giáo sư và giảng sư hoạt động từ năm 1938
trở đi đều có thụ giáo với ông trong số đó có nhiều vụ gốc từ Nam Kỳ.
Năm 1934, ông có đề
tựa cho sách Việt Nam Phật Giáo Sử Lược của thiền sư Mật Thể. Bài
tựa này được viết bằng Hán văn tại chùa Thập Tháp. Khả năng giáo hóa của
Phước Huệ rất vĩ đại, vì vậy người đương thời đã tặng ông mỹ hiệu “Phật
pháp thiên lý câu” nghĩa là con ngựa ngàn dặm của Phật pháp”. Ông là tổ
khai sinh chùa Phước Long tại Phú Phong; thiền sư Trí Diệu, đệ tử của ông
là trú trì chùa này. Ông tịch năm 1945 tại chùa Thập Tháp. Đệ tử xuất sắc
nhất của ông là thiền sư Huệ Chiếu, được ông ủy nhiệm kế thế trú trì chùa
Thập Tháp. Thiền sư Huệ Chiếu tịch năm 1965 và trao trách nhiệm cho thiền
sư Kế Châu.
Thiền sư Phổ Huệ
trú trì chùa Tịnh Lâm ở Bình Định cũng là một ngôi sao rất sáng của Phật
giáo thời ấy. Thiền sư là người họ Trần, sinh năm 1870 tại làng Nhơn Thành
tỉnh Bình Định. Ông xuất gia năm 1882 tại chùa Châu Long và tu học dưới sự
hướng dẫn của thiền sư Từ Mẫn. Ông cũng đã được học Phật với thiền sư Luật
Truyền (Pháp Chuyên), chùa Từ Quang, ở Phú Yên. Cũng như thiền sư Phước
Huệ, ông đã từng được triệu vào hoàng cung thuyết pháp. Ông là khai tổ
chùa Bảo Phong. Ông tịch năm 1931. Cao đệ của ông là thiền sư Huyền Giác
kế trú trì tổ đình Tịnh Lâm rất thịnh vượng, tiếng tăm vang cả Trung Kỳ.
Năm 1901 thiền sư Viên Thành, hồi ấy còn nhỏ tuổivà còn ở chùa Ba La Mật,
đã được gặp thiền sư Phổ Huệ tại đại giới đàn Phú Yên và rát lấy làm cảm
phục về kiên trúc và đức độ của vị cao tăng này. Ước ao được thân cận mà
không thỏa nguyện, Viên thành có làm một bài kệ sau đây, gửi cho Phổ Huệ:
Bình bát truy tùy dĩ
hữu niên
Đạo năng thâm khế
diệc tiền duyên
Vân quang thuyết
pháp hoa ưng trụy
Quý phạp Tô Tuân
chí học kiên.
Dịch:
Y bát
bên mình trọn mấy niên
Đạo tinh thâm áo
cũng tiền duyên
Vân Quang thuyết
pháp hoa rơi rụng
Thẹn với Tô Tuân
chí học bền.
Khoảng năm 1926,
thiền sư Phổ Huệ có viết thư khen ngợi thiền sư Viên Thành về bài bạt này
mà ông này đề trong ấn bản kinh Pháp Bảo Đàn ấn hành tại Huế năm
1925. Cảm động vì lá thư này, Viên Thành liền gửi vào hai bài kệ do ông
sáng tác để trình bày kiến giải mình, để cầu thiền sư Phổ Huệ ấn chứng.
Hai bài như sau:
Tham thiền trực hạ
liễu căn nguyên
Thánh giải phàm
tình lưỡng bất tồn
Đại đạo khởi tùng
tâm ngoại đắc?
Yếu giao nhất niệm
tuyệt phan viên.
Sơn cùng thủy tận
chuyển Thân lai
Bức đắc kim cương
chính nhãn khai
Vạn tượng từng
trung thân độc lộ
Niết bàn sinh tử
tuyệt an bài.
Dịch:
Tham
cứu cho lên tột cội nguồn
Còn đâu ai thánh
với ai phàm?
Ngòai tâm, đạo lớn
tìm đâu thấy?
Nhất niệm chuyên
trì dứt vạn duyên.
Cùng non tột nước
gửi thân về
Miễn được kim
cương mở mắt kia
Vạn tượng bao la
thân hiển lộ
Niết
bàn sinh tử có hề chi?
Phổ Huệ có làm nhiều
thơ nhưng hiện nay chỉ mới sưu tập được bài ông là để tặng thiền sư Chí
Thành. Xin xem bài này ở phần nói về thiền sư Chí Thành ở Chương XXVII
Thiền sư Viên Thành
nưh đã nói trên là một thi sĩ nổi tiếng. Ông là bạn thiết của thiền sư
Giác Tiên, tên là Công Tôn Hoài Trấp, sinh năm 1879 ở Thừa Thiên, Ông xuất
gia năm 1895 hồi 16 tuổi, tại chùa Ba La Mật và học với Thiền sư Viên Giác
cho đến khi thiền sư mất vào năm 1900.
Năm 1901, ông thọ đại giới đàn tại giới đàn Phú Yên. Tại giới đàn này ông
được đậu đầu trong các giới tử. Ông làm một bài văn tạ ơn hội đồng giám
khảo bằng Hán văn, được các vị trong hội đồng khen ngợi và thưởng cho một
bộ kinh Lăng Già Tâm Ấn, một số y và một bình bác.
Chùa Ba La Mật là của
gia đình Nguyễn Khoa lập nên, cảm thấy không được thoải mái ở đây, năm
1923 ông lên lập chùa Tra Am gần tháp thiền sư Viên Giác, thuộc về thôn An
Cựu. Chùa chỉ là một thảo am vách đất nhưng rất đẹp và biểu hiện được tâm
hồn yêu nghệ thuật của Viên Thành. Những cội mai và khóm trúc ông trồng
được phối hợp với những tảng đá gánh từ trên núi Ngự Phong về. Ông đặt tên
dòng suối nhỏ chảy qua trước chùa là Tẩy Bát Lưu và chiếc cầu nhỏ bắc qua
suối là Lược Ước Kiều. Tên chùa là Tra Am và là nơi đọc sách là Ngọa Vân
Khối. Chùa đẹp và giản dị khiến cho thượng thư bộ kinh tế là Nguyễn Khoa
Kỳ một hôm đến thăm đã để lại một bài thơ sau đây:
Nhịp
cầu Lược Ước bắc sang khe
Một mái am tranh
gió bốn bề
Cúc nở xuê xoang
tuồng nệm gấm
Dây leo dỏng dảnh
bức màn the
Ngồi xem nước chảy
đôi ghềnh đá
Đứng đợi trăng lên
mấy cụm tre.
Cảnh có, người
vui, càng rốn lại
Mặt trời khuất núi
vẫn chưa về.
Tiêu dấu Nguyễn Bá
Trác, hồi đó đang trông nom phần Hán văn cho tạp chí Nam Phong,
cũng đã viết bài thơ sau đây về Tra Am:
Lộ chuyển thôn khê
tăng viện thâm
Ngọ chung thanh
đậu trúc kiều âm
Chủ nhân tọa định
tây song lý
Ly điểu đình hoa
chứng đạo tâm.
Vũ Hoàng Chương dịch
như sau:
Bóng
gợn cầu tre nhịp ngọ chung
Âm u tăng viện lối
đi vòng
Chủ nhân ngồi nhập
thiền bên cửa
Hoa nở chim kêu
chứng tỏ lòng
Ông thường giao thiệp
thân mật với các thiền sư Tâm Tịnh, Huệ Pháp, Tịnh Hạnh, Giác Tiên, cùng
các văn thi sĩ như Nguyễn Bá Trạc, Nguyễn Cao Tiêu, Nguyễn Thượng Hiền,
Phan Khôi, Lê Thiện Trai, Ưng Bình, Nguyễn Khoa Tân v.v…
Năm 1918, Phan Khôi có đưa Phạm Quỳnh lên chùa Ba La Mật để thăm Viên
Thành.
Sau đó Phạm Quỳnh đã
viết trong báo Nam Phong:
“Cao Tăng hiệu là
Viên Thành Thượng Nhân, trú trì chùa Ba La Mật, làng Nam Phổ, cách Huế bốn
năm mươi cây lô mét. Nhờ có ông bạn giới thiệu tôi mới biết được là thượng
nhân, thực là cảm phục tư cách phong nhã, tư tưởng cao thượng của người…
Bước chân vào trong tinh xá, tưởng như nơi văn phòng của nhà thi nhân tao
khách nào. Không phải do bày biện đẹp không phải là cách trang sức khéo,
nhưng bởi cái khí vị riêng của nó phảng phất ở trong cái phòng ấy, khiến
người khách chơi biết ngay ông chủ nhân là người phong nhã tài tình. Mà
thượng nhân quả là người tài tình phong nhã thật.
“Cái tài tình của
Viên Thành Thượng Nhân thì không phải tìm đâu xa; cứ nghe ngay câu chuyện
người nói cũng đủ biết; mỗi nhời như nhả ngọc phun châu, mà tưởng cứ tự
nhiên thành bài thơ ứng khẩu vậy, người thơ chữ đã tuyệt bút mà thơ nôm
cũng rất hay”.
Thơ văn chữ Hán của
thiền sư Viên Thành một phần được giữ lại trong tác phẩm Lược Ước Tùng
Sao của ông. Tác phẩm này chỉ giữ được hai bài thơ Nôm. Ông Nguyễn Văn
Thoa cho biết đã sưu tầm lại được khoảng ba mươi bài dưới các thể lục bát,
song thất lục bát, hát nói và Đường luật.
Lược Ước Tùng Sao
sao chép thơ từ, câu đối, bi ký do Viên Thành và các thân hữu sáng tác từ
lúc ông còn ở Ba La Mật cho đến Tra Am. Riêng về thơ có gần bảy mươi bài
bằng chữ Hán. Tác phẩm này, tuy chưa được in lần nào, nhưng đã được chính
tác giả duyệt lại và chữa những chỗ viết sai.
Sau đây ta duyệt qua
ít bài thơ của ông. Trước hết là ba bài thơ chữ Hán:
1- Sơ lâm vũ quá
tịch dương thì
Khê bạn hoành
tương trúc dịch xuy
Nhất khúc tự ngu
sơn thủy lục
Thử tình bất dữ
bạch vân tri.
Bửu Cầm dịch:
Mưa
tạnh rừng thưa lúc bóng tà
Bên khe tiếng sáo
vẳng đưa xa
Vui thay một khúc
cùng non nước
Tình nọ mây kia dễ
biết ta.
2. Tọa ủng quần
phong phú bạch vân
Oanh đề thâm cốc
bất tri xuân
Nham tiền hoa vũ
tân phân lạc
Ngọ mộng sơ hồi
thúc cổ nhân
Dịch:
Nơi chốn non cao
phủ bạch vân
Tiếng oanh hang
vắng nhắc mùa Xuân
Hoa trên sườn núi
thi nhau rụng
Tỉnh giấc trưa rồi
nhận cố nhân
3. Tạc tiêu thanh
tại thụ gian đa
Hạc lãnh sơn không
nại nhĩ hà
Nhật mộ tiêu diêu
vu giáp vũ
Thụ phong niễu
niễu Động Đinh ba
Chi dư cổ bách tam
phân thúy
Vô phục sương
phong nhị nguyệt hoa
Quái để Lan Đài bi
Tống Ngọc
Bất như lưu khứ
nhậm thùy tha
Vũ Hoàng Chương dịch:
Rì rào cây vẳng
tiếng đêm qua
Nghe lạnh đồi
không chiếc hạc già
Vu Giáp chiều
buông mưa lất phất
Động Đình thu gợn
sóng bao la
Tùng khô chỉ sót
đôi phần lá
Bàng rợp đâu tìm
một tán hoa
Lạ nỗi đau lòng
chi Tống Ngọc,
Còn hay mất hãy
mặc trời xa.
Sau đây là một vài
bài thơ Nôm:
1- Mai tĩnh, song
thanh, lúc ngớt mưa
Mành tương phảng
phất án sen đưa
Tiếng chuông Thiên
Mụ canh hầu sáng
Giấc mộng hoàng
lương đã tỉnh chưa?
2- Lững thững bên
trời ngọn ráng thưa
Dặng bờ thu thảo
ngớt cơn mưa
Rêu xanh đá mọc
nhìn đường cũ,
Khói biếc thành
xây tưởng dấu xưa
Mây phủ nhịp cầu
sen ẩn ước
Cây lồng bóng nước
cảnh thừa ưa
Khách quen năm
trước bây giờ đến
Thử hỏi non sông
đã biết chưa?
3- Thuyền từ một
lá vơi vơi
Biển trần chở biết
mấy người trầm luân.
Nhất
thiết vô hữu như Phật giả
Phật là người hỉ
xả từ bi
Xem trong đời hư
huyễn có ra chi
Đến thê tử quốc
thành cũng bỏ
Non tuyết lãnh sáu
năm tu khổ hạnh
Mành hình hài xem
có cũng như không.
Miễn tu hành đạo
quả cho xong
Xem nhân thế ví
bằng như dép rách
Vì ngài thấy chúng
sanh trong hỏa trạch
Những lao đao khổ
ách nghiệt nghèo.
Trải kiếp xưa gây
nghiệp chướng đã nhiều
Nên luân chuyển
chịu điều báo ứng.
Vậy ngài mới ra
tay bạc chửng
Vớt loài mê cho
khỏi chốn trầm luân
Trên thì báo đáp
đấng quân thân
Dưới đến mỗi loài
đều tế độ
Chuyển xe pháp rra
đời dạy dỗ
Dấu tiên phong
thiên cổ hãy còn truyền,
Đem lòng về phản
bàn hoàn nguyên
Thời muôn kiếp
được siêu nhiên trên cõi tịnh
Tường
quang thước phá thiên sinh bịnh
Cam lộ năng trừ vạn kiếp tai.
Hãy khuyên người thay mắt đổi tai,
Để cho ai nấy lâu dài kim thân
Vui chi thứ một mảnh trần,
4- Người đời há đặng bao lâu
Trắng răng phút đã bạc đầu như chơi
Thế giới như không hoa,
Nhân sinh như mộng huyễn,
Ví bằng chẳng kiếm phương tu luyện
Chi khỏi đâu huyễn cảnh buộc vào mình?
Trong trăm năm đặng mấy lúc an bình
Rồi đã thấy tóc xanh thành tóc bạc.
Hà tu đãi linh lạc
Nhiên hậu thủy tri không?
Những nâng niu sớm lục tối hồng
Những xạ ướp hương xông nức nở.
Non sông còn khi bồi khi lở
Huống thân người như bóng đổ phù du
Vui sướng chi mà đeo đuổi chốn diêm phù,
Trong ba cõi ngó đường như hỏa trạch
Chiếc thuyền từ sớm khuya đưa khách
Nước thanh lương rửa sạch trần ai
Hỡi xin người thay mắt đổi tai
Thì chín phẩm liên đài lên có lúc
Đạo thụ bất tài viên quả thục
Linh căn vị chủng giác hoa hương
Trên mây rủ tấm lòng thương
Vậy nên xuống bước mở đường ngu mông,
Phật tiên vốn cũng một lòng.
Văn chữ Hán của thiền
sư Viên Thành rất trang nhã và có nhiều khí lực. Bài bạt ông viết cho kinh
Pháp Bảo Đàn được rất nhiều bậc thức giả đương thời ca ngợi.
Thiền sư Viên Thành
mất năm 1928, thọ 49 tuổi. Ông tu được ba mươi hai năm, ở Ba La Mật 27 năm
và lên Tra Am được có năm năm. Đệ tử có bốn người: Trí Uyên, Trí Hiển, Trí
Giải và Trí Thủ. Thiền sư Trí Thủ là người duy nhất xuất gia ở Tra Am. Ông
đã trở thành một trong những cột trụ của Phật giáo Việt Nam cận đại.
Bây giờ, ta hãy tìm
hiểu sơ lược sơ lược về cuộc đời các vị chứng minh đạo sư của hội An Nam
Phật Học là Đắc Ân, Phước Hậu, Tịnh Hạnh và Giác Nhiên.
Thiền sư Đắc Ân tên
Đặng Kỳ Đinh, sinh năm 1873 ở Quảng Bình. Năm mười tuổi được lên ở chùa
Linh Mụ. Năm 22 tuổi ông được thụ cụ túc giới đàn Báo Quốc do thiền sư
Lương Duyên chủ tọa. Năm ba mươi chín tuổi ông về chùa Quốc Ân và đắc pháp
với thiền sư Thanh Hy trú trì chùa này và được pháp hiệu là Đắc Ân. Năm
ông bốn mươi hai tuổi thì thiền sư Thanh Hy tịch; ông được cử làm tọa chủ
chùa Quốc Ân. Năm sau ông trùng tu chánh điện Quốc Ân. Và năm bốn mươi bốn
tuổi ông được cử làm trú trì chùa Linh Mụ. Năm năm mươi hai tuổi, ông được
mời làm đệ tam tôn chứng trong giới đàn chùa Từ Hiếu. Ông tịch năm 1935,
thọ 62 tuổi. Vị trú trì chùa Vạn Phước đi câu đối như sau:
Hoàng
diệp không hoa tinh thế mộng
Sơn vân thủy
nguyệt ngộ tiền thân.
Thiền sư Phước Hậu
sinh năm 1866 tại làng An Tuyền, tỉnh Thái Bình ở Bắc Kỳ. Ông xuất gia hồi
còn bé thơ. Năm 1884 ông thụ giới làm đệ tử của thiền sư Tâm Truyền, và
theo học ba năm với thiền sư này. Năm 1909, ông được đắc pháp với thiền
sư, hiệu là Phước Hậu. Bài kệ đắc pháp như sau:
Thuần
thành bản tính thể như trung
Tảo tận trần tâm
đạo lý dung
Đức thịnh từ năng
mông Phước Hậu
Chân truyền y bát
chấn tông phong
Dịch:
Thể
vốn thuần thành tính sáng trong
Trần tâm rửa sạch
lý bao dung
Đức lớn từ bi nên
phước hậu
Chân truyền y bát
rạng tông phong.
Năm 1916, bộ Lễ mời
ông làm trú trì chùa Trường Xuân. Năm 1920 ông giữ chức trú trì chùa Linh
Quang, và đến năm 1939 ông sung chức tăng cương và trú trì chùa Báo Quốc.
Ông tịch năm 1953 tại chùa Báo Quốc, thọ 87 tuổi, có tới sáu mươi tuổi hạ.
Ông cũng là một thiền sư ưa ngâm vịnh. Thơ của ông có gần tới trăm bài mà
chưa thu góp lại được. Sau đây là một vài bài được người biết đến nhiều
nhất:
1- Tâm thanh thiên
nguyệt hữu
Tánh
tịnh hải vô ba
Viên minh tận nhất
điểm
Phóng xuất mãn sơn
hà
Dịch:
Tâm lặng vầng
trăng tỏ
Tính yên sóng
chẳng xao
Chỉ một điểm tròn
sáng
Mà rạng cả sơn hà
2- Kinh điển lưu
truyền tám vạn tư
học hành không
thiếu cũng không dư
hôm nay tính lại
chừng quênhết
chỉ nhớ trên đầu
một chữ như
3- Úi chà chà,
tháp cao
Trèo lên thử thế
nào
Chùa Vua, thầy
chúc tụng
Cửa Phật, chúng ra
vào
Chuông trống vang
lừng núi
Đuốc đèn rạng tựa
sao
Của tiền làm thế
ấy
Công đức biết là
bao!
(Đám Chay Chùa
Thiên Mụ)
Thiền sư Tịnh Hạnh
sinh năm 1889 tại làng Dưỡng Mông Thượng, quận Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên,
xuất gia lúc mười sáu tuổi với người em ruột là thiền sư Tịnh Khiết, tại
chùa Tường Vân, làm đệ tử của thiền sư Thanh Thái. Năm hai mươi bốn tuổi,
ông thụ Cụ Túc giới tại giới đàn Phúc Lâm ở Quảng Nam do thiền sư Vĩnh Gia
làm chủ tọa. Năm hai mươi tám tuổi, ông được theo học tập lớp Phật pháp
của thiền sư Huệ Pháp mở tại chùa Thiên Hưng. Năm ba mươi hai tuổi, ông
được cử làm tọa chủ chùa Tường Vân. Ông cũng từng đến nghe thiền sư Phước
Huệ giảng dạy tại chùa Trúc Lâm. Ông tich năm 1933, thọ bốn mươi lăm tuổi.
Sơn môn đi câu đối như sau:
Niết bàn chân cứu
cánh, phương năng tán thủ nhân hoàn, thập dư niên đại chuyển pháp luân,
tùng kim khứ hướng Quang Minh quốc;
Sắc tướng bản lai
không, chỉ hợp thê tâm tịnh độ, tam thiên bố vi trần võng,nhượng ngã dư ư
Tự Tại Thiên.
(Niết Bàn đã chứng,
giải thoát giữa nhân hòa, mười mấy năm xe Pháp xoay tròn, nay mới thẳng
đường về cực lạc;
Sắc tướng vẫn
không, nhật dụng trong tịnh độ, ba ngàn cõi lưới bủa khắp, riêng ai vui
thú cảnh Chân Như)
Như chúng ta thấy,
những vị tăng sĩ đã đóng góp vào phong trào phục hưng của Phật giáo tại
Trung kỳ phần lớn thuộc về hai trung tâm lớn: trung tâm Thừa Thiên và
Trung tâm bình Định. Về trung tâm Bình Định ta chỉ mới nói đến thiền sư
Phước Huệ chùa Tịnh Lâm. Hội Phật học Bình Định là một trong những hội
hoạt động khá nhất ở Trung Kỳ. Tại chùa Long Khánh, một Phật học đường cấp
trung đẳng được hội thiết lập đầu năm 1937 do thiền sư Phước Huệ đứng làm
đốc giáo. Thiền sư Phước Huệ vì lý do sức khỏe, từ đây chỉ ở lại Bình Định
và dạy Phật học đường Long Khánh, chứ không ra Huế nữa. Vì lý do đó, nhiều
học tăng lớp đại học tại Huế, trong số đó có nhiều vị được gửi từ Phật học
đường Lưỡng Xuyên ra, đã theo về Bình Định và tiếp tục học nơi Phật học
đường Long Khánh. Trong số đó ta có thể kể thiền sư Thiện Hòa, Thiện Hoa,
Hiển Thụy, Hiển Không và Bửu Ngọc.
Các thiền sư Bích
Liên (ở Nam về), Bạch Sa, Minh Tịnh và Thiên Đức đều được mời làm giảng sư
của trường trung đẳng chùa Long Khánh. Các cư sĩ hữu tâm hộ đạo như Nguyễn
Mạnh Trừng, Phan Thanh Khuyến và Lê Tư Oanh đều ở trong số những người
hoạt động nhất của hội. Các thiền sư Chí Bảo (chùa Hưng Khánh), Viên Minh
(chùa Linh Phong), Chí Thanh (chùa Thiên Thọ), Chí Mẫn (chùa Nhạn Sơn),
Cao Minh (chùa Tịnh Liên), và Tường Quang (chùa Phước Sơn) đều đã đóng góp
nhiều cho Phật sự địa phương.
Ngoài hai trung tâm
Thừa Thiên và Bình định, còn có trung tâm Đà Nẵng cũng rất hoạt động. Với
sự yểm trợ của các thiền sư Tôn Nguyên (chùa Linh Ứng), Tôn Bảo (chùa Vu
Lan), Tôn Thắng (chùa Phổ Thiên), Thiện quả (chùa Tam Thai), Phổ Trí (chùa
Phước Lâm) vàPhổ Thoại (chùa Long Tuyền), hội Đà Thành Phật Học được thành
lập và một tạp chí được xuất bản lấy tên là Tam Bảo. Thiền sư Bích
Liên ở Bình Định làm chủ bút tạp chí này. Một Phật học đường được khai
giảng tại chùa Phổ Đà cho hai cấp tiểu học và trung học do thiền sư Giác
Phong làm giám đốc và thiền sư Giác Viên (trú trì chùa Hồng Khê) chủ
giảng.
Tạp chí Tam Bảo
xuất bản năm 1937 đã bị đình bản vào giữa năm 1938. Tạp chí này thường đề
cập đến nhu yếu thống nhất các đoàn thể Phật giáo trong xứ thành một hội
Phật Giáo Liên Hiệp. Bản ý và chủ đích hành động của hội Đà Thành Phật
Học, theo Tam Bảo, là:
1) Phò khởi tăng
giới, nguyện cùng chư Sơn Nam Bắc liên đoàn, để bảo tồn Tăng Bảo.
2) Nguyện cùng chư
Sơn chấn chỉnh tôn phong, chung một điều lệ thi hành, cần nhất là phải giữ
cho được hoàn toàn giới hạnh.
Về một hội Phật giáo
liên hiệp thống nhất, Tam Bảo đề nghị tổ chức hai cơ quan: cơ quan
Hoằng Pháp và cơ quan Hộ Pháp. Cơ quan Hoằng Pháp do chư tăng chủ động,
gồm có các trách vụ nghi lễ, tổ chức, truyền bá và giáo dục. Cơ quan Hộ
Pháp, do cư sĩ phụ trách gồm có các trách vụ cứu tế, ngoại giao, kiểm sát,
kiến trúc, điều độ và kinh tế.
Để chấm dứt chương
này, ta hãy nói đến vị ni sư tiên phong cho ni giới ở Trung Kỳ: Ni sư Diên
Trường, người đã khai sáng chùa Trúc Lâm, nơi khởi điểm của phong trào
chấn hưng Phật học.
Ni Sư Diên Trường họ
Hồ Đắc, sinh năm 1863 tại làng An Truyền huyện Phú Vang tỉnh Thừa Thiên.
Mẹ của bà là Công Nữ Thúc Huấn, con gái của Tùng Thiện Vương. Bà xuất gia
tại chùa Từ Hiếu năm 1898, hồi bà ba mươi sáu tuổi, sau khi nhận thấy cuộc
đời là vô thường và khổ đau: chồng và con trai bà đã mất bà chỉ còn lại
một cô con gái.
Thiền sư Hải Thiệu (Cương Kỷ) cho bà Pháp danh Thanh Ninh, pháp tự Diên
Trường.
Bà tu hành rất tinh
tiến. Năm 1910, bà được đi thọ giới cụ túc ở đại giới đàn Quảng Nam do
thiền sư Vĩnh Gia làm chủ tọa, sau một thời gian thực tập tại Từ Hiếu, bà
được thiền sư Cương Kỷ ủy thác ra trùng tu chùa Phổ Quang ở gần dốc Bến
Ngự để trú trì và làm cơ sở tu học cho một ni chúng.
Chùa Phổ Quang vừa
được trùng tu xong thì đường xe lửa thiết kế chạy ngang trước cổng chùa.
Thất vọng, bà tìm vào một ngọn đồi ở gần Cầu Lim, thuộc thôn Thuận Hòa ở
làng Dương Xuân Thượng và lập chùa Trúc Lâm.
Chùa Trúc Lâm lập
xong, bà vào chùa Tây Thiên xin với sư huynh là thiền sư Tâm Tịnh cho phép
thiền sư Giác Tiên ra trú trì. Bà lập ni xá riêng tại chùa và quy tụ một
số các vị ni sư khác tới tu học, trong đó có các ni cô Chơn Hương, Diệu
Hương, Giác Hải v.v… sau này sẽ đóng những vai trò quan trọng trong sự
lãnh đạo ni giới. Năm 1924, các vị này được thụ giới tại giới đàn Từ Hiếu
do bà làm y-chỉ-sư. Năm 1925, đúng vào ngày Phật Đản, bà rước các thiền sư
Tâm Tịnh (chùa Tây Thiên) và Huệ Pháp (chùa Thiên Hưng) đến Trúc Lâm tụng
kinh Pháp Hoa. Đến trưa, sau khi bộ Pháp Hoa được tụng xong,
bà làm lễ tạ ơn hai vị và tất cả đại chúng, rồi vào thiền phòng ngồi kiết
già mà thị tịch. Bà thọ được sáu mươi bốn tuổi.
Thiền sư Viên Thành
có làm bài kệ tán sau đây:
Thiện
tai nữ đạo sư!
Giải thoát nhân
trung kiệt
Thịnh niên xả thế
vinh
Phỏng đạo ngộ
Thiền Duyệt
Bát kính thị căn
trì
Trường trai thủ tố
tiết
Uản giới phù vân
không
Phiền não hải thủy
kiệt
Giác mộng cảnh từ
chung
Độ mê tháo bảo
phiệt
Công đức mãn chiên
lâm
Thanh lương đẳng
tuế nguyệt
An ổn tọa bồ đoàn
Liễu chứng vô sinh
quyết
Sơn sắc thanh tịnh
thân,
Khê thanh quảng
trường thiệt
Tích lai bản bất
sinh
Kim khứ hà tằng
diệt
Siêu nhiên bỉ ngạn
đăng
Liên đài diệu
hương khiết
Dịch:
Lành
thay nữ đạo sư
Bậc giải thoát hào
kiệt!
Bỏ vinh hoa cuộc
đời
Tìm vui nơi thiền
duyệt.
Pháp bát kỉnh hành
trì
Nếp trường trai
tinh khiết
Uẩn., giới như mây
bay
Biển não phìên khô
diệt
Lời kia là suối
reo
Thân kia là núi
biếc
Xưa chưa hề có
sinh
Nay cũng không
từng diệ
Bờ bên kia bước
lên
Đài sen hương diệu
khiết.
---o0o---
[ Mục
Lục tập III]
[Chương XXVI ] [Chương XXVII ] [Chương XXVIII ]
[Chương XXIX ] [Chương XXX ] [Chương XXXI ]
[Chương XXXII ] [Chương XXXIII ] [Chương XXXIV ]
[Chương XXXV ] [Chương XXXVI ] [Chương XXXVII ]
[Chương XXXVIII ] [Chương XXXIX ] [Chương
XXXX ]
---o0o---
[ Mục Lục ][ Tập I ]
[
Tập II ] [ Tập III ]
---o0o---
Trình bày: Nhị Tường
Vi Tính:
Nguyên Trang
Cập
nhật: 01-11-2004