VIỆT NAM PHẬT GIÁO SỬ
LUẬN
Nguyễn Lang
---o0o---
TẬP III
CHƯƠNG XXXVI
THẾ ĐỨNG CỦA PHẬT GIÁO VIỆT NAM
Từ sau khi các mặt
trận chống Pháp tại các thành phố bị tan vỡ, đất nước được đặt dưới hai
vùng kiểm soát: vùng giải phóng được kiểm soát bởi chính quyền Việt
Nam Dân Chủ Cộng Hòa và vùng tạm chiếm được kiểm soát bởi quân đội
Pháp và chính quyền “bù nhìn” do Pháp dựng lên. Chính quyền đầu tiên của
vùng Pháp kiểm soát là chính quyền Nguyễn Văn Xuân thành lập vào tháng Năm
năm 1948 tại Sài Gòn. Chính quyền này liên lạc với cựu hoàng Bảo Đại tại
Hương Cảng. Cựu hoàng về nước ngày 2.7.1949 một thỏa hiệp về “nguyên tắc
độc lập thống nhất”, đặt Việt Nam vào trong khối Liên Hiệp Pháp. Các chính
phủ Nguyễn Phan Long, Trần Văn Hữu, Nguyễn Văn Tâm, Bửu Lộc và Ngô Đình
Diệm tiếp nối nhau cai trị vùng “quốc gia” dưới quyền của quốc trưởng Bảo
Đại. Cho đến khi Hiệp định Genève năm 1954 chia cắt đất nước Việt Nam
thành hai miền Nam Bắc.
Tại vùng giải phóng
tức là ở các chiến khu, mọi hoạt động đều được hướng về mục tiêu kháng
chiến và sản xuất để nuôi dưỡng kháng chiến, cho nên sinh hoạt tôn giáo đã
được hạn chế tới mức tối thiểu. Tuy có bất bình về chính sách hạn chế tôn
giáo của chính quyền cách mạng, giới phật tử vẫn hết lòng phục vụ kháng
chiến, nghĩ rằng một ngày mai khi đánh đuổi hết giặc Pháp về nước, mình sẽ
tranh đấu cho quyền tự do tín ngưỡng của mình cũng chưa muộn.
Tại các vùng tạm
chiếm mà sau nầy được gọi là vùng quốc gia, giới phật tử có nhiều
tâm lực hơn để hoạt động phật sự. Mọi người có ý thức rất rõ về cuộc kháng
chiến chống Pháp đang tiếp diễn trên mọi nẻo đường đất nước và tâm hồn họ
nồng nhiệt hướng về cuộc kháng chiến đó. Bằng mọi phương thế, họ tìm cách
liên lạc, gia nhập và ủng hộ phong trào kháng chiến. Sau khi hồi cư, nhiều
thanh niên lại bỏ nhà đi theo tiếng gọi của Tổ Quốc, tìm lên chiến khu,
tìm về miền giải phóng. Những người khác ở lại vùng Pháp kiểm soát và âm
thầm hoạt động cho kháng chiến. Trong một chương trước ta đã thấy rằng
trong giới tăng sĩ cũng có nhiều người bí mật hoạt động cho kháng chiến,
và nhiều vị đã chết dưới mũi súng của người Pháp hoặc những kẻ làm tay sai
cho Pháp.
Những tang thương do
chiến tranh gây nên và nhất là những thủ đoạn tàn ác của quân đội viễn
chinh Pháp đã làm cho người Phật giáo quyết tâm đứng hẳn về phía kháng
chiên dù họ biết rằng có những người trong giới lãnh đạo kháng chiến không
có được con mắt bao dung đối với Phật giáo.
Tuy nhiên, tại vùng
thực dân tạm chiếm, số người làm tay sai cho Pháp trong việc dò xét và tố
cáo đồng bào không phải là ít. Có những kẻ chuyên môn đưa mật thám Pháp
tới các xóm làng hoặc khu phố để nhận diện những người hoạt động cho kháng
chiến. Họ được mật thám Pháp trùm lên đầu một chiếc bao bố có chừa hai lỗ
thủng để nhìn. Những người dân nào bị bao bố gật đầu đều bị mang về bót.
Tất cả những hành động liên lạc, ủng hộ hoạt động bí mật cho kháng chiến
một khi bị khám phá đều đưa người ta đến tù đày, tra tấn hoặc thủ tiêu.
Nhưng tất cả những hình phạt đó không ngăn được lòng yêu nước. Chính con
cháu của những người làm mật thám cho Pháp cũng hoạt động cho kháng chiến.
Những thanh niên này, một khi bị bắt, được cha mẹ can thiệp với Pháp để
thả ra. Để con của mình đừng hoạt động cho kháng chiến nữa, những người
này thường vận động để cho chúng được đi ra nước ngoài du học.
Như ta đã thấy ở một
chương trước, sau khi hồi cư, đồng bào đi chùa rất đông. Tại chùa, họ tìm
được niềm an ủi sau bao nhiêu biến động đổ vỡ, sau bao nhiêu điêu linh,
tàn pha, tang tóc và chia ly. Sinh hoạt tôn giáo là một nhu cầu lớn của
quần chúng. Chùa là một nơi thích hợp và an toàn nhất để người ta gặp nhau
và cùng nhau cầu nguyện. Các hội Phật giáo bắt đầu sinh hoạt trở lại. Thực
dân Pháp nghĩ rằng thà để cho người ta bỏ thì giờ vào việc tôn giáo tín
ngưỡng còn hơn là để họ có thì giờ liên lạc và hoạt động kháng chiến. Về
phía những người phật tử, không khí sinh hoạt phật tử là không khí gần gũi
nhất với tình tự dân tộc, và trở về chùa cũng như là trở về với lập trường
dân tộc. Đứng về phương diện tổ chức, cố nhiên các chùa và các hội không
có liên hệ gì với kháng chiến, nhưng đứng về phương diện tình cảm và xu
hướng, ai cũng biết rằng chùa không dính líu mảy may nào với thực dân và
với những lực lượng tay sai của thực dân, trái lại, còn có những liên hệ
tình cảm nồng hậu đối với cuộc kháng chiến của dân tộc. Bằng cớ là sự tham
dự với tư cách cá nhân của những thành phần tăng sĩ và cư sĩ, già cũng như
trẻ, trai cũng như gái, vào cuộc kháng chiến.
Thực dân Pháp biết rõ
điều đó, và những người tay sai của họ cũng biết rõ điều đó, cho nên chính
quyền vùng Pháp kiểm soát luôn luôn gài mật thám vào các tổ chức Phật giáo
để dò xét. Không có tỉnh hội Phật học nào mà không có ít ra là một nhân
viên mật thám xen vào trong ban trị sự. Các tổ chức Phật giáo, tuy vậy,
vẫn từ từ xây dựng được những cơ sở của mình, vì trên mặt hình thức, lập
trường “không chính trị” được họ tôn trọng một cách tuyệt đói và không bao
giời trong một phiên họp của ban trị sự tỉnh hoặc của tổng trị sự miền mà
một vấn đề chính trị được đem ra thảo luận.
Lập trường “không
chính trị” của các hội Phật giáo lại còn giúp cho người phật tử Việt Nam
thoát được áp lực của chính quyền luôn luôn muốn họ đừng về phe chống lại
kháng chiến và tuyên bố chống lại kháng chiến. Thực dân Pháp cũng biết rõ
điều này. Không kiểm soát được lực lượng phật tử về mặt tình cảm và xu
hướng, họ tìm cách kiểm soát phật tử về mặt tổ chức. Đạo dụ số 10 do thực
dân ép Bảo Đại ký năm 1950 là một trong biện pháp họ đặt ra để kiểm soát
các hội Phật giáo trong nước.
Đạo dụ số 10 đặt các
tổ chức tôn giáo vào thể chế các hiệp hội thông thường. Điều thứ 7 của Đạo
dụ này nói rằng chính quyền “có quyền bác khước đi không cho lập hội mà
không phải nói lý do” và giấp phép lập hội dù đã được cấp, cũng có thể bãi
đi, nếu chính quyền xét hỏi và kiểm soát cơ sở, hồ sơ và nội tình của các
tôn giáo. Cấp lãnh đạo của tôn giáo, theo đạo luật này, cũng phải được do
đại hội đồng bầu cử. Tuy nhiên các hội truyền giáo Thiên Chúa và Gia Tô
không bị đặt vào trong thể chế các hiệp hội. Điều thứ 44 của đạo dụ nói
rằng một “chế độ đặc biệt cho các hội truyền giáo Thiên Chúa và Gia Tô” sẽ
được quy định và ban hành.
Đạo dụ nói trên đã
kiến tạo nên rất nhiều bất mãn trong giới Phật giáo, Cao Đài và Hòa Hảo
đối với chính quyền Bảo Đại. Người ta thấy rõ dụng ý của thực dân Pháp và
chính quyền thân Pháp: chỉ có thể tin tưởng vào sự trung thành của giáo
dân Cơ Đốc Giáo đối với việc chống Việt Minh mà không thể tin tưởng vào
những tổ chức tôn giáo khác, nhất là Phật giáo. Dù rằng trong số đồng bào
Công giáo vẫn có phần tử hết lòng tham gia kháng chiến, sự đối xử kỳ thị
của chính quyền thân Pháp đã đào sâu thêm hố chia rẽ vốn đã có sẵn giữa
người Phật giáo và người Công giáo: người phật tử, từ ngày đất nước bị đặt
dưói quyền đô hộ của người Pháp, đã thấy rằng giáo hội Công giáo được
người thực dân đặc biệt nâng đỡ và đã chiếm được địa vị ưu thắng trong xã
hội.
Trong suốt thời gian
kháng chiến, nhiều thanh niên bị công an Pháp bắt giữ vì tội tham dự kháng
chiến đã được thả về khi có một linh mục Pháp đứng ra bảo lãnh. Đã có
nhiều bà mẹ vì vậy đã chịu theo đạo Công giáo để có thể đến nhờ vị linh
mục bảo lãnh cho con mình được tự do.
Không lợi dụng được
các đoàn thể Phật giáo để chống lại kháng chiến, thực dân Pháp và chính
quyền Bảo Đại đã âm mưu thành lập những tổ chức Phật giáo thân chính quyền
như tổ chức Phật giáo Thuyền Lữ ở miền Trung và tổ chức Phật giáo Cổ Sơn
Môn ở miền Nam. Những tổ chức này tuy được chính quyền nâng đỡ vẫn không
phát triển được vì không có quần chúng và vì không có người có thực tài
lãnh đạo.
{…}
Chiến thắng Điện Biên
Phủ ngày 7 tháng Năm năm 1954 là kết quả của nỗ lực phi thường của toàn
dân Việt Nam, kể cả những người sống trong vùng Pháp kiểm soát. Chiến
thắng này đã đưa tới thỏa hiệp Genève và sự rút lui khỏi Việt Nam sau này
của quân đội viễn chinh Pháp. Nhưng Hiệp định Genève, kỳ ngày 20 tháng Bảy
năm 1954, đã chia cắt đất nước Việt Nam thành hai, lấy vĩ tuyến 17 làm
giới tuyến.
Tại hội nghị Genève,
phái đoàn Pháp do ông Mendès France đứng đầu đã tranh luận với phái đoàn
Việt Nam do ông Phạm Văn Đồng điều khiển. Quyền quyết định, tuy vậy không
thuộc vào hai nước Pháp và Việt mà lại thuộc về bốn cường quốc có mặt
trong hội nghị: Hoa Kỳ, Anh Cát Lợi, Liên Xô và Trung Hoa. Lúc này thế
giới đã chia làm hai khối: khối Cộng Sản và khối Tư Bản, hoặc nói một cách
khác: Khối “Xã Hội Chủ Nghĩa” và khối “Dân Chủ Tự Do”. Giải pháp dùng cho
Việt Nam trước đó đã được dùng cho Đức Quốc và Triều Tiên. Hiệp định
Genève quy định thời gian rút quân của hai bên về phần đất dành cho mình,
thời gian tập kết và di cư của những người muốn chọn lựa miền cư trú, việc
phóng thích tù binh và thường dân bị giam giữ và việc tổ chức Ủy Ban Quốc
Tế Giám Sát Đình Chiến.
Trước ngày ký kết
hiệp định Genève, dưới áp lực của người Hoa Kỳ, chính phủ Pháp và quốc
trưởng Bảo Đại đã để cho ông Ngô Đình Diệm thay thế ông Bửu Lộc ở chức vị
thủ tướng chính phủ: Thủ tướng Ngô Đình Diệm chấp chính ngày 8.7.1954.
Sau ngày ký kết Hiệp
định Genève, với sự yểm trợ của Hoa Kỳ, cùng những phương tiện vận chuyển
của quân đội Pháp, ông đã tổ chức đưa một triệu dân di cư từ miền Bắc vào
miền Nam. Số người Công giáo di cư lên tới hơn 700.000 người. Số còn lại
là những người Phật giáo và các tôn giáo khác
Thủ tướng Ngô Đình
Diệm muốn liên hệ trực tiếp với Hoa Kỳ để xây dựng và bảo vệ miền Nam, cho
nên đã không ngần ngại tổ chức truất phế quốc trưởng Bảo Đại và thoát ly
sự kềm kẹp của thực dân Pháp. Ông đã thẳng tay đàn áp lực lượng Bình
Xuyên, Cao Đài và Hòa Hảo khi các lực lượng này liên hiệp với nhau để đòi
hỏi ông cải tổ chính phủ, để thực hiện “một chính quyền lành mạnh không có
tính gia đình trị”. Ngày 26.10.1955, sau khi tổ chức cuộc trưng cầu dân ý
để truất phế Bảo Đại, với tư cách quốc trưởng, ông đứng lên tuyên bố thành
lập nước Việt Nam Cộng Hòa ở miền Nam, và đồng thời ban hành một bản Hiến
Ước tạm thời. Điều thứ 2 của bản Hiến Ước định rằng “quốc trưởng đồng thời
cũng là thủ tướng chính phủ, lấy danh hiệu là tổng thống Việt Nam Cộng
Hòa”. Rồi ông tổ chức bầu cử Quốc Hội Lập Hiến và “đề nghị” với Quốc
Hội soạn thảo một bản Hiến Pháp căn cứ trên “căn bản Duy Linh” và
“đường lối Nhân Vị”.
Từ tháng Bảy năm 1954, Hoa Kỳ đã bắt đầu trực tiếp viện trợ cho Việt Nam,
mà không còn qua trung gian người Pháp. Dựa vào sự quyết tâm ủng hộ miền
Nam của Hoa Kỳ và trước sự thất thế của Pháp, ông Diệm có điều kiện để tỏ
ra chống thực dân Pháp. Sự chống đối này không khó khăn gì và không gặp
trở lực nào, nhưng đã đem lại cho chính quyền ông nhiều cảm tình, vì quần
chúng từ lâu đã thù ghét quân đội viễn chinh Pháp. Từ tháng Chín năm 1954,
các cơ sở như Tòa Án Hỗn Hợp Pháp-Việt, Công an Liên Bang, Viện Phát Hành
Đông Dương và Viện Hối Đoái Đông Dương đều được bãi bỏ. Hiệp định
29.12.1954 công nhận Việt Nam có quyền ấn định chính sách ngoại thương.
Việt Nam nắm lấy quyền quản lý đại học. Hiệp định ngày ngày 30.3.1956 quy
định việc rút hết quân đội viễn chinh Pháp ra khỏi miền Nam. Đơn vị cuối
cùng của đạo quân viễn chinh này rời khỏi đất nước người Việt vào những
ngày cuối thắng Tư năm 1956.
Ta biết rằng Đại Hội
Phật Giáo Toàn Quốc kỳ II được triệu tập tại Sài Gòn ngày 1 tháng Tư năm
1956, và sau đó là trụ sở của Tổng Hội được dời từ chùa Từ Đàm về chùa Ấn
Quang. Đại hội này đánh dấu giai đoạn mà Phật Giáo Việt Nam xác định một
con đường độc lập và một lập trường độc lập với các thế lực chính trị
tranh chấp.
Con đường ấy cũng như
lập trường ấy không phải một sớm một chiều mà người phật tử Việt Nam đã
tìm thấy. Trái lại, dó là kết quả của bao nhiều kinh nghiệm và nhận định
đúc kết lại trong hơn 10 năm sống trong hoàn cảnh chiến tranh và tranh
chấp. Như ta đã thấy trong chương trước, tập san Phật Giáo Việt Nam,
cơ quan chính thức của Tổng Hội đã phản chiếu được khá rõ ràng con đường
đó, dù tờ báo nằm trong khuôn khổ của chế độ kiểm duyệt.
Lập trường của Phật
Giáo Việt Nam lúc ấy có thể được trình bày qua nhận định của người phật tử
thời đại về tương lai của đạo Phật, của dân tộc và của hòa binh.
Tương lai của đạo
Phật.
Thiết tha với nền độc lập quốc gia và khao khát xây dựng hòa bình, người
phật tử Việt Nam cũng đồng thời rất bận tâm về những vấn đề tương lai của
tôn giáo mình. Đứng trước sự đe dọa và sự tàn ác của quân đội viễn chinh
Pháp, người phật tử Việt Nam đã không ngằn ngại đừng về phía các lực lượng
kháng chiến. Những ai không tham dự trực tiếp hoặc gián tiếp vào kháng
chiến thì ít ra cũng đừng về phe trung lập, nhất định không làm tay sai
cho lực lượng chống kháng chiến. Lập trường dân tộc của họ rất rõ ràng, dù
cho trong hàng ngũ kháng chiến họ đã bị {…} chèn ép và hạn chế nhiều mặt
trong sinh hoạt tôn giáo của mình. Sau khi hiệp định Genève được ký kết,
phật tử sống ở hai miền được gặp gỡ nhau và{…} cuộc hội ngộ đã góp phần
đưa người phật tử tới một nhận định mới. Cùng với sự rút lui của quân đội
viễn chinh Pháp ra khỏi lãnh thổ Việt Nam, cuộc kháng chiến chống Pháp
được kết liễu, cuộc vận động thống nhất đất nước được bắt đầu. Chính từ
lúc này người phật tử Việt Nam bắt đầu thấy mình có thể có một con đường
độc lập để phụng sự cho hòa bình và cho dân tộc. Phật tử miền Bắc ao ước
rằng, sau khi tiếp thu trọn lãnh thổ từ vĩ tuyến 17 trở đi, sẽ có một
đường lối chính trị cởi mở đối với Phật giáo, sẽ xây dựng miền Bắc cho
phồn thịnh để hiệp thương với miền Nam về vấn đề thống nhất lãnh thổ. Vì
niềm hy vọng này mà các cây trụ lớn nhất của Phật giáo miền Bắc như các
thiền sư Tuệ Tạng, Tố Liên, Trí Hải và Thái Hòa đều ở lại miền Bắc cùng
quần chúng phật tử mà lâu nay họ đã lãnh đạo. So với số người đồng bào
Công giáo của mình, số phật tử di cư vào Nam chỉ bằng một phần sáu, trong
đó có chừng bốn mươi tăng sĩ {…}.
Phật tử miền Nam,
trong lúc đó, cũng ao ước có thể duy trì các cơ sở Phật giáo đã xây dựng
được trong quá khứ, đóng góp vào sự xây dựng một miền Nam trù phú, có no
ấm và tự do, để thực hiện thống nhất với miền Bắc trong một thế đứng mạnh,
có thể bảo đảm được quyền tự do tôn giáo lâu nay thường bị hạn chế và vi
phạm {…}.
Sự thực xẩy ra là {…}
tại miền Nam, mà từ đây được gọi là Việt Nam Cộng Hòa, tổng thống Ngô Đình
Diệm đã dựa trên lực lượng của người Công giáo để chống Cộng và để xây
dựng miền Nam, đặt miền Nam vào thế tiền đồn chống Cộng theo ước muốn của
khối tư bản chống Cộng. Thế đứng của Việt Nam Cộng Hòa cũng như thế đứng
của Nam Hàn hoặc Tây Đức, và sự dựa lưng vào khối Tư Bản là chuyện đương
nhiên. Cả đến việc chủ nghĩa nhân vị duy linh rút cảm hứng từ giáo lý Ky
Tô giáo và việc củng cố các lực lượng Công giáo trong mục tiêu chống cộng
cũng là chuyện đương nhiên, khi người ta biết tổng thống Ngô Đình Diệm và
những người thân tín nhất của ông cố vấn Ngô Đình Nhu là những người theo
Công giáo. Nhưng chế độ miền Nam còn muốn đi xa hơn thế: chính quyền miền
nam đã đè nén Phật giáo để đưa giáo hội Công giáo lên địa vị độc tôn, đến
nỗi những ai muốn có chân đứng trong chính quyền hoặc trong số những thành
phần ưu đãi của xã hội đều phải theo Công giáo. Điều này ta sẽ thấy rõ
trong chương tới. Sự chèn ép này đã được người phật tử nhận thấy từ những
năm đầu của chính quyền Ngô Đình Diệm. Thiền sư Trí Quang trong tạp chí
Phật Giáo Việt Nam, đã than thở rằng chỉ ở những nước trung lập không
liên kết thì Phật giáo mới được dễ thở, còn ở những nước như Việt Nam thì
Phật giáo “không khỏi có vẻ lúng túng và vật chất.
Ý của ông là ở miền Bắc thì đạo Phật bị hạn chế, còn ở miền Nam thì bị
người Công giáo đè nén.
Trong bài Hướng Đi
Của Người Phật Tử Việt Nam, Dã Thảo xác định con đường của phật tử là
con đường trung đạo, chú trọng tới sự giác ngộ tự tánh hơn là sự giác ngộ
quyền lợi, đặt niềm tin nơi con người chứ không đặt niềm tin ở những thế
lực ngoài con người.
Nói như thế, ông đã khước từ một lượt chủ nghĩa duy vật ở miền Bắc và chủ
nghĩa duy thần (hoặc duy Linh) ở miền Nam.
Ý thức về tình trạng
và vị thế của mình, phật tử ở cả hai miền Nam Bắc đều nỗ lực để bảo vệ chỗ
đứng của mình giữa các gọng kềm ý thức hệ.
Ước vọng về hòa
bình. Mười
năm sau chiến tranh đã đem lại bao nhiêu đổ vỡ tang tóc trên đầu người dân
Việt. Nhận thức đó, cũng như bản chất từ bi sẵn có của đạo Phật đã đưa
người phật tử Việt Nam tới thái độ cương quyết từ khước chiến tranh và bạo
động, dù là để đi tới thống nhất đất nước. Nhận định rằng trong thế tranh
chấp của hai khối quốc tế, hai miền Nam Bắc Việt Nam có thể trở thành
tuyến đầu của một cuộc chiến tranh thử sức của các cường quốc, phật tử
Việt Nam ngay từ đầu đã đặt hòa bình làm mục tiêu lớn nhất của mình.
Hòa bình, theo họ,
không phải chỉ là kết quả của một thế quân bình lực lượng. Hòa bình chân
thực, theo họ phải: 1) phát xuất từ tâm niệm tôn trọng sự sống; 1) lấy
tình thương làm động lực hành động; 3) vượt thắng tham vọng hận thù trong
tự tâm; và 4) không cố chấp cuồng tín ở một ý thức hệ
. Hòa bình, theo họ “phải có tính cách thiêng liêng như là
một tôn giáo thứ hai của mình”.
Ước vọng thầm kín của
người phật tử miền Nam là gì? Ước vọng ấy là phát triển cơ sở Phật giáo,
đoàn kết thành một lực lượng dân tộc lớn để có thể đóng góp vào việc xây
dựng một miền Nam phồn thịnh, giàu mạnh, có thể đứng vững vàng, để hiệp
thương với miền Bắc mà đi đến sự thực hiện một nước Việt Nam thống nhất,
trung lập, thoát ra ngoài hai khối tranh chấp lớn và gia nhập vào khối các
quốc gia trung lập không liên kết, trong đó có Ấn Độ, Tích Lan, Miến Điện,
tóm lại những nước mà trong đó Phật giáo được tự do phát triển. Ước vọng
này hoàn toàn phù hợp với ước vọng của giới phật tử ở các nước trong đó
Phật giáo đã từng là viên đá nền tảng cho sự lập quốc. Bác sĩ
Malalasekera, chủ tịch hội Thế Giới Phật Giáo Liên Hữu (World Fellowship
of Buddhists) trong đại hội đồng của hội năm 1950 tại Tích Lan, đã tuyên
bố như sau: “Các nước Đông phương chúng ta đã tranh đấu để thoát khỏi ách
nô lệ chính trị ngoại bang. Chúng ta phải ngăn chặn làn sóng duy vật bằng
cách phục hưng nên tôn giáo cổ truyền của chúng ta. Hai ý thức hệ đang
tranh chấp nhau trên thế giới ngày nay, đều được xây dựng trên hận thù.
Các nước Phật giáo có nhiệm vụ tranh đấu để đem lại hòa bình và an lạc tại
những địa phương mà các thế lực khác đã chứng tỏ sự thất bại. Chúng ta
phải lấy hòa bình làm mục tiêu, và đưa nhân loại về với tinh thần bao dung
của đức Phật”.
Ta có thể cho rằng ước vọng của phật tử Việt Nam hơi xa vời, nhưng sự
thực, đó là ước vọng chân thực nhất của họ.
Để thực hiện ước vọng
này, công việc đầu tiên của họ là xây đắp đạo Phật cho bền vững. Bài ca
dao “tay bưng đĩa muối chấm gừng” của Tâm Kiên, hai miền Nam Bắc phải
thương yêu lẫn nhau, tìm giải pháp hòa bình mà thống nhất, bởi vì “gà cùng
một mẹ” không thể cùng đá đáp lẫn nhau.
Lập trường dân
tộc. Hai
miền Nam Bắc đều tự cho mình có lập trường dân tộc. Đối với người phật tử,
lập trường dân tộc không thể tách rời khỏi văn hóa dân tộc. Một chủ nghĩa
ngoại lai chủ trương lật ngược hết mọi truyền thống văn hóa dân tộc không
thể là chân dung đích thực cho một lập trường dân tộc. Khắp nơi, người
phật tử nói tới sự liên hệ giữa đạo pháp và dân tộc, nhu yếu thu góp lại
vốn cũ của văn hóa dân tộc để làm nền tảng cho sự tiếp thu giá trị mới, để
cho tinh thần Việt Nam không bao giờ mất gốc. Tạp chí Phật Giáo Việt
Nam thường nhắc đến vai trò xây dựng văn hóa dân tộc từ các thời đại
Đinh, Lê, Lý và Trần. Tạp chí này cũng nhấn mạnh đến thái độ cởi mở cần có
của các đoàn thể tôn giáo và văn hóa trong nước để có thể dung hợp nhau mà
xây dựng đất nước.
Tại miền Bắc {…} phật
tử Việt Nam đã làm hết sức mình, nhưng đã không đạt được những thành tích
nào đáng kể. Trái lại cơ sở của Phật giáo càng ngày càng bị tiêu mòn. Tại
miền Nam, tuy có sự chèn ép của chính quyền, phật tử Việt Nam đã thực hiện
được nhiều sự nghiệp đáng kể. Đó cũng là vì miền Nam thuộc khối Tư Bản tự
do, biên giới cởi mở, sự đè nén và đàn áp không thể thực hiện công khai
trước mắt những người quan sát viên quốc tế.
Ta sẽ lật tới một
trang sử có thể gọi là kỳ diệu nhất của Phật Giáo Việt Nam: Cuộc Vận Động
Bất Bạo Động để lật đổ chính quyền độc tài của ông Ngô Đình Diệm.
---o0o---
[ Mục
Lục tập III]
[Chương XXVI ] [Chương XXVII ] [Chương XXVIII ]
[Chương XXIX ] [Chương XXX ] [Chương XXXI ]
[Chương XXXII ] [Chương XXXIII ] [Chương XXXIV ]
[Chương XXXV ] [Chương XXXVI ] [Chương XXXVII ]
[Chương XXXVIII ] [Chương XXXIX ] [Chương
XXXX ]
---o0o---
[ Mục Lục ][ Tập I ]
[
Tập II ] [ Tập III ]
---o0o---
Trình bày: Nhị Tường
Vi Tính:
Nguyên Trang
Cập
nhật: 01-02-2004