VIỆT NAM PHẬT GIÁO SỬ
LUẬN
Nguyễn Lang
---o0o---
TẬP III
CHƯƠNG XXXII
CHÙA ẤN QUANG VÀ CHÙA XÁ LỢI
Phật học đường Phật
Quang được khai giảng trở lại từ 1946 tại quận Trà Ôn tỉnh Trà Vinh do
thiền sư Thiện Hoa chủ trì. Phật học đường này ngoài những lớp cho tăng
sinh còn mở những lớp cho ni sinh. Cư sĩ Trương Hoằng Lâu ở quận Cầu Kè là
một trong những người hoạt động nhất để ủng hộ tài chính cho Phật học
đường này. Cũng năm đó Phật học đường Liên Hải ở Chợ Lớn cũng được khai
giảng, do các thiền sư Trí Tịnh và Quảng Minh chủ giảng. Sau đó ít tháng,
một Phật học đường khác tên là Mai Sơn được thiền sư Huyền Dung khai
giảng, và ít lâu sau, được dời về chùa Sùng Đức ở Chợ Lớn. Như chúng ta đã
biết, các Phật học đường nói trên sau này được thống nhất lại với Phật học
đường Ứng Quang tại Sài Gòn để trở thành Phật học Đường Nam Việt.
Chùa Ứng Quang mà sau này danh xưng đổi lại thành Ấn Quang là do thiền sư
Trí Hữu sáng lập. Thiền sư Trí Hữu quê tại xã Hòa Vang, quận Điện Bàn,
tỉnh Quảng Nam. Trong thời gian du hóa tại miền Nam ông từng cư trú tại
chùa Hưng Long và chùa Hưng Đạo, cả hai đều do thiền sư Bảo Đảnh trú trì.
Sau mùa an cư năm 1949 tại chùa Hưng Đạo ở Vườn Bà Lớn, ông tới dựng tích
trượng ở một khoảnh đất trống trên đường Lorgéril thuộc khu Vườn Lài, và
lập một am tranh lấy tên là Trí Tuệ Am. Sau khi làm được một chính
điện và một tăng xá, tất cả đều bằng tranh và tre, ông gọi am là chùa
Ứng Quang, và mở tại đây một lớp giảng kinh cho tăng sinh cho tăng
sinh trẻ tuổi tại các chùa lân cận. Chùa Ứng Quang trở thành một Phật học
đường nhỏ. Với sự cộng tác của các thiền sư Nhật Liên và Thiện Hòa.. Phật
học đường Ứng Quang xây dựng thêm nhiều lớp học và tăng xá. Cácthiền sư
Trí Hữu, Nhật Liên và Thiện Hòa bắt đầu bắt đầu liên lạc với các Phật học
đường Liên Hải và Sùng Đức. Sau nhiều buổi họp mặt tại các chùa Sùng Đức
và Ứng Quang, những người lãnh đạo ba Phật học đường đồng ý thống nhất các
cơ sở lại và thành lập Phật học đường Nam Việt, đặt tại chùa Ứng Quang.
Thiền sư Nhật Liên có thể được gọi là nhân vật quan trọng nhất trong công
tác vận động thống nhất các Phật học đường tại Nam Việt. Chính ông đã đề
nghị đổi danh xưng Ứng Quang thành Ấn Quang. Ông lại là người vận
động thành lập Giáo Hội Tăng Già Nam Việt và đã đảm phụ trách vụ tổng thư
ký của Giáo Hội này trong những niên khóa đầu.
Phật học đường Nam
Việt thành lập 1950; công cuộc xây dựng cơ sở bằng vật liệu nặng được tiến
hành rất mau chóng. Phật điện, giảng đường và tăng xá được xây dựng ngay
trong khi các lớp học đang được diễn tiến. Trong vòng chưa đầy hai năm,
Phật học đường Nam Việt đã trở thành trung tâm Phật giáo có uy tín nhất ở
miền Nam. Chùa Ấn Quang bắt đầu đi vào lịch sử.
Năm 1953, Phật học
đường Phật Quang ở Trà Ôn gia nhập Phật học đường Nam Việt, và thiền sư
Thiện Hoa được mời về chùa Ấn Quang. Học tăng từ Phật Quang cũng ghi tên
vào Phật học đường Nam Việt.
Chùa Ấn Quang còn là
trụ sở của Giáo Hội Tăng Già Nam Việt, thành lập 1951, với thiền sư Đạt Từ
ở chức vụ trị sự trưởng và thiền sư Nhật Liên ở chức vụ tổng thư ký. Thiền
sư Đạt Thanh chùa Giác Ngộ được cung thỉnh làm Pháp chủ.
Năm 1953, cơ sở của
Giáo Hội Tăng Già Nam Việt đã được xây dựng đầy đủ ở các tỉnh Nam Việt, và
đại hội giáo hội triệu tập ngày 8.3.1953 đã suy tôn thiền sư Huệ Quang làm
pháp chủ của Giáo Hội, công cử thiền sư Thiện Hòa làm trị sự trưởng. Từ đó
Giáo Hội Tăng Già Nam Việt trở thành một tập đoàn Phật Giáo rất trang
nghiêm và có uy thế.
Vị pháp chủ kế tiếp
thiền sư Huệ Quang là thiền sư Khánh Anh, suy tôn ngày 31.7.1956 tại chùa
Huê Lâm Chợ Lớn, và trụ sở đặt tại chùa Từ Nghiêm ở đường Bà Hạt Sài Gòn.
Ni Bộ đã khai giảng hai Phật học đường cho ni sinh, một ở chùa Từ Nghiêm
và một ở chùa Dược Sư. Hai vị ni sư Diệu Tánh (chùa Huê Lâm) và Diệu Ninh
(chùa Vĩnh Bửu) có mặt trong số những ni sư hoạt động nhất của Ni Bộ.
Thấy cơ sở Ấn Quang
đã được các pháp hữu của mình đảm nhiệm một cách xuất sắc, thiền sư Trí
Hữu hoan hỉ trở về Quảng Nam. Ông đảm nhiệm chức vụ trú trì chùa Linh Ứng
ở Non Nước, đồng thời nhận làm giám đốc cho Phật học viện Phổ Đà tại Đà
Nẵng. Sau khi Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất được thành lập, ông
đã từng giữ chức vụ Chánh Đại Diện Miền Liễu Quán cho Giáo Hội. Thỉnh
thoảng ông lại vào thăm các pháp hữu của mình tại Ấn Quang. Ông mất ngày
30.1.1976 tại chùa Ấn Quang, ngôi chùa lịch sử mà ông đã khai sơn hai mươi
lăm năm về trước.
Chùa Ấn Quang, mà sau
này trở thành trụ sở Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, là một ngôi
chùa còn trẻ tuổi, nhưng đã sớm trở thành một tổ đình. Cư sĩ Trương Đình
Ý, giáo sư trường Mỹ Nghệ Thực Hành ở Gia Định là người đã có công chăm
sóc về phương diện kiến trúc, điêu khắc và trang trí của chùa. Tượng Phật
và những bức chạm nổi trong chính điện đều là những công trình sáng tác
của ông.
Nếu thiền sư Trí Hữu
là người khai sơn chùa Ấn Quang thì thiền sư Thiện Hòa là người đã duy trì
và phát triển chùa này thành một ngôi tùng lâm rộng lớn. Thiền sư Thiện
Hòa tuy là tuổi tác tương đương với pháp hữu của mình là thiền sư Trí Hữu,
có thể được xem như là đệ nhị tổ của chùa Ấn Quang. Ông là một trong những
bậc cao tăng được mến chuộng nhất trong thời đại. Ông được nhìn nhận như
một cây đại thụ che chở cho nhiều thế hệ tăng sĩ kế tiếp đã di qua Phật
học đường Nam Việt. Chức vụ giám đốc Phật học đường Nam Việt và trị sự
trưởng Giáo Hội Tăng Già Nam Việt đã được ông đảm nhiệm một cách vững chãi
và bền bỉ
Thiền sư Thiện Hòa
tục danh là Hứa Khắc Lợi, sinh năm 1907 tại làng Tân Nhựt, tỉnh Chợ Lớn.
Ông có chí nguyện xuất gia từ hồi nhỏ tuổi nhưng mãi đến năm 28 tuổi ông
mới được đi xuất gia, theo học với thiền sư Bửu Sơn ở chùa Long Triều.
Xuất gia xong ông liền được gửi đến Phật học đường Lưỡng Xuyên. Năm 1936
ông được gửi ra Huế học trường An Nam Phật Học tại chùa Tây Thiên. Năm
1938 khi thiền sư Phước Huệ trở về Bình Định, ông theo thiền sư vào Phật
học đường Long Khánh để tiếp tục học Phật. Năm 1939 ông trở ra Phật học
đường Báo Quốc ở Huế. Năm 1945 ông ra Hà Nội thọ giới tỳ kheo tại chùa Bút
Tháp, theo học luật với thiền sư Tuệ Tạng ở chùa Cồn Nam Định và với thiền
sư Tế Xuyên tại Hà Nam. Năm 1949, ông về chùa Quán Sứ tham dự vào Phật sự
theo lời mời của thiền sư Tố Liên. Tháng Năm 1950 ông trở về Sài Gòn, lưu
trú tại Phật học đường Sùng Đức. Khi Phật học đường Nam Việt được thành
lập 1951, ông được mời làm Giám Đốc. Từ năm 1951 đến năm 1974 ông đã từ từ
biến ngôi chùa lá Ấn Quang thành một phạm vũ trang nghiêm vào bậc nhất Sài
Gòn. Năm 1953 ông được bầu làm trị sự trưởng. Năm 1967, ông được bầu làm
tổng vụ trưỏng Tổng vụ Tài chính và Kiến thiết của Giáo Hội Phật Giáo Việt
Nam Thống Nhất. Năm 1973, ông được giáo chỉ của Tăng Thống đề cử làm phó
tăng thống. Ông mất ngày 7.2.1978 tại chùa Ấn Quang.
Thiền sư Thiện Hòa là
một người có đức tính từ hòa và kiên nhẫn vào bậc nhất. Giữa các pháp hữu
ở Ấn Quang, ông là một dòng suối mất, một nguồn an ủi. Ông ít khi đăng đàn
thuyết pháp. Sáng tác của ông nằm trong phạm vi luật tạng, quan trọng nhất
là tác phẩm Giới Đàn Tăng. Ông kiên nhẫn chủ tọa tất cả các buổi
họp của Giáo Hội Tăng Già Nam Việt và của Phật học đường Nam Việt, nói rất
ít nhưng hóa giải được nhiều. Ông để mắt vào mọi chi tiết liên quan đến
Phật điện, tăng xá, giảng đường và sự sống còn của đại chúng. Ông đã xây
dựng cho Phật học đường một nhà in gọi là Ấn Quán Sen Vàng, nằm phía sau
chùa. Trong những lớp tu nghiệp cho các vị trú trì do Giáo Hội Tăng Già
Nam Việt tổ chức, ông thường đảm nhận trách vụ giảng dạy về luật tạng. Năm
1974 ông đã làm đàn đầu hòa thượng cho đại giới đàn Long Xuyên.
Hình ảnh đẹp nhất của
ông là hình ảnh ông đứng nói chuyện với một học tăng ở sân trường. Dáng
điệu của ông hiền từ, ngôn ngữ hòa ái. Mối khi cần đi đâu, ông ưa dùng
xích lô hơn xe hơi. Ông vỗ nhẹ vai, từ tốn nói chuyện với người đạp xích
lô một hồi rồi mới dịu dàng bước lên xe, tay ôm cặp. Người xích lô có cảm
tưởng chở trên xe một người thân chứ không phải một người khách.
Sau ngày các thiền sư
Quảng Minh, Huyền Dung, Nhất Liên và Quảng Liên xuất ngoại, bên cạnh thiền
sư Thiện Hòa chỉ còn lại có các thiền sư Thiện Hoa và Nhất Hạnh trực tiếp
trông coi Phật học đường Nam Việt. Thiền sư Thiện Hoa đảm nhận trách vụ
Trưởng Ban Hoàng Pháp vừa của Giáo Hội Tăng Già Nam Việt vừa của hội Phật
Học Nam Việt từ năm 1953. Trong trách vụ này, ông vừa đào tạo cán bộ vừa
phân phối giảng sư đi các tỉnh. Những giảng sư xuất sắc của miền Nam từ
năm 1956 trở đi như thiền sư Huyền Vi, Thanh Từ, Tắc Phước, Từ Thông,
Thiền Định, Quảng Long, Chánh Tiến, Liễu Minh v.v… đều được ông huấn luyện
và nâng đỡ trong những năm đầu. Từ năm 1957 trở đi, ông mở nhiều lớp huấn
luyện cán bộ tu nghiệp hoằng pháp gọi là những khóa “Như Lai Sứ Giả” tại
các chùa Pháp Hội và Dược Sư. Những giảng sư tốt nghiệp các khóa ở Pháp
Hội lên tới 52 vị, trong số đó cóc có các vị thiền sư Trường Lạc, Bửu Lai,
Trí Châu, Nhất Châu, Nhất Long, Hồng Tịnh, Hồng Đạo, Hiển Pháp, Huyền Quý,
Huyền Thông, Phước Hảo và Huệ Thành. Trong số các vị tốt nghiệp ở chùa
Dược Sư có các ni sư Như Hoa, Phật Bửu, Giác Thiên, Như Huy, Như Huyền,
Như Chí vàNhư Hiển.
Với Ấn Quang Sen
Vàng, Phật Học Tùng Thư của Phật học đường Nam Việt do thiền sư Thiện
Hoa quản đốc đã được xuất bản được một công trình Phật học từ sơ cấp đến
cao cấp, dùng làm tài liệu giảng diễn cho các giảng sư đoàn. Chương trình
Phật học này được chia thành mười hai khóa và được gọi là chương trình
Phật học phổ thông. Chương trình được phổ biến rất rộng rãi. Phật học Tùng
Thư sau này đổi lại là nhà xuất bản Hướng Đạo, xuất bản gần 100 tác
phẩm, trong đó có khoảng 20 tác phẩm là do chính thiền sư Thiện Hoa sáng
tác. Ta sẽ có dịp nói nhiều về thiền sư Thiện Hoa này.
Từ 1956 trở đi, với
sự hướng dẫn của thiền sư Nhất Hạnh, chương trình giáo dục mới được áp
dụng tại Phật học đường Nam Việt cho cấp tiểu học và trung học Phật giáo.
Chương trình này nhằm mục đích cung cấp cho người học tăng tốt nghiệp cấp
trung học Phật giáo, ngoài trình độ Trung Đẳng Phật học, một kiến thức phổ
thông tương đương với trình độ tú tài. Từ đây, tại Phật học đường Nam
Việt, học tăng được học thêm sinh ngữ, khoa học và văn học. Chương trình
mới này được in trong học bạ học tăng. Tốt nghiệp trung học tại Phật học
đường Nam Việt, nhiều học tăng đã ghi tên thi tú tài ban cổ điển và hầu
hết đều trúng tuyển. Phần lớn đã dùng chữ Hán làm cổ ngữ, và Pháp văn làm
sinh ngữ.
Nhiều học tăng đã ghi
tên tại các trường Đại học Sư phạm hoặc Đại Học Văn khoa Sài Gòn trong khi
tiếp tục học chương trình Cao Đẳng Phật Học tại Phật học đường Nam Việt.
Nhiều vị sau khi ra trường, đã có bằng cử nhân Văn Khoa hay cử nhân Sư
Phạm. Những văn bằng này đã giúp họ điều kiện mở những trung học tư thục
của Phật giáo tại Sài Gòn và các tỉnh theo mẫu mực những trường tư thục Bồ
Đề mở ở miền Trung nhiều năm trước đó. Trong số các vị xuất sắc nhất có
các vị thiền sư Minh Cảnh, Thiện Tánh, Đạt Bửu, Trí Không, Chơn Lễ, Thiện
Phú, Thanh Văn… Về sau có vị đã xuất ngoại để tiêp tục học Phật hoặc các
ngành triết học hoặc xã hội học.
Ngoài Phật học đường
Ấn Quang, tại miền Nam còn có Phật học đường Giác Nghiêm ở Khánh Hội do
thiền sư Hành Trụ chủ trì và một số Phật học đường cấp tiểu học và trung
học xuất phát từ Ấn Quang như các Phật học đường Huệ Nghiêm và Giác Sanh ở
Chợ Lớn, Phật học đường Phước Hòa ở Vĩnh Bình.
Thiền sư Hành Trụ,
giám đốc Phật học đường Giác Nguyên, quê ở Phú Yên, tên đời là Lê An, sinh
năm 1903. Xuất gia hồi còn 12 tuổi tại chùa Phước Sơn, Phú Yên và học Phật
với thiền sư Thiền Phương.
Sau khi tụ đại giới
vào năm 22 tuổi, ông được theo học tại các Phật học đường Lưỡng Xuyên
miền Nam và Tây Thiên ở miền Trung. Pháp danh của ông là Thị An,
pháp hiệu là Phước Bình.
Ông đã phiên dịch và
ấn hành hơn 20 thứ kinh sách, trong đó có các sách Tứ Phần giới Bổn Như
Thích, Sa Di Luật Giải, Qui Sơn Cảnh Sách, Phạm Võng Bồ Tát Giới, A Di Đà
Kinh Sớ Sao, Long Thư Tịnh Độ, Kinh Vị Tằng Hữu và Kinh Hiền Nhân.
Từ 1974, ông về trú trì chùa Đông Hưng. Năm 1975 ông được đại hội Giáo Hội
Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất cung cử vào trách vụ tổng vụ trưởng Tổng Vụ
Tăng Sự
Phật Học đường Huệ
Nghiêm ở Phú Lâm Chợ Lớn là một tùng lâm khá phồn thịnh. Phật học đường
này được các thiền sư Thanh Từ và Bửu Huệ điều khiển. Thiền sư Thanh Từ
trước đó đã từng giám đốc Phật học đường Phước Hòa và Trà Vinh từ năm 1958
tới năm 1959. Phật học đường này từ năm 1956 đến 1958 được thiền sư Tịnh
Đức điều khiển. Phật học đường Giác Sanh tại Chợ Lớn cũng được đặt dưới
quyền giám đốc của thiền sư Thiện Hòa.
Lớp ni học đầu tiên
tại miền Nam được tổ chức tại chùa Giác Hoa ở Bạc Liêu năm 1927. thiền sư
Khánh Anh, hồi ấy từ Quảng Ngãi vào nam, được mời làm đốc giáo. Trong ban
giảng huấn có các thiền sư Chân Niêm, Vạn Ân và Vạn Pháp. Lớp ni học thứ
hai được tổ chức vào năm 1936 do ni sư Diệu Tịnh tổ chức tại ni viện Hải
Ấn ở Bà Quẹo. Năm 1939 một lớp khác được tổ chức tại chùa Vạn An ở Sa Đéc,
mời thiền sư Mật Hiển từ Huế vào giảng. Sau đó các ni sư Diệu Tánh và Diệu
Tấn lại mở trường ni học tại chùa Kim Sơn ở Phú Nhuận.
Tại Phật học đường
Lưỡng Xuyên ở Trà Vinh, năm 1936, một lớp ni học được tổ chức dưới sự lãnh
đạo của thiền sư Minh Tịnh từ Quảng Ngãi vào. Thiền sư Khánh Hòa sau đó đã
vận động mở thêm một ni học đường tại chùa Vĩnh Bửu ở Bến Tre. Ni học
đường này sau đó được giao cho ni sư Diệu Ninh coi sóc. Thiền sư Chánh Quả
trụ trì chùa Kim Huê ở Sa Đéc cũng đã lập một ni viện tại chùa Phước
Huệ trong cùng một tỉnh. Năm 1946, thiền sư Hành Trụ cũng lập ni viện
Tăng Già ở Khánh Hội Sài Gòn và ni viện Chánh Giác tại Đồng
Ông Cộ, Gia Định.
Năm 1950, ni sư Như
Chí mở một lớp ni học tại chùa Từ Quang ở Sa Đéc.
Ni viện Dược Sư
ở Gia Định được hình thành năm 1936 nhưng mãi đến năm 1954 mới trở thành
một cơ sở lớn. Năm 1957, Ni Bộ Nam Việt được thành lập và được đặt trụ sở
tại đây. Ni Sư Diệu Tánh, trước đây làm chủ trì chùa Hội Sơn và ni viện
Huê Lâm, được bầu lên trách vụ ni trưởng. Năm 1959, ni viện Từ Nghiêm được
thành lập. Trụ sở Ni Bộ được dời về đây. Từ Nghiêm được trở thành một cơ
sở lớn của ni chúng sau khi việc xây cất hoàn thành vào năm 1962. Năm 1965
ni Bộ đã cho Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội mượn một đại giảng đường và
một văn phòng trong khi trường này đang xây cất tại Phú Thọ Hòa.
Trong số những vị ni
sư đầu tiên được xem là các danh ni, ta có thể kể các ni sư Diệu Tánh,
Diệu Tịnh, Diệu Tấn, Diệu Ninh, Diệu Kim và Hồng Chí.
Ni sư Diệu Tịnh có
thể được xem như là bó đuốc đầu tiên của ni giới miền Nam. Bà tên Phạm Đại
Thọ, sinh năm 1910 ở Gò Công. Bà tập sự xuất gia năm15 tuổi tại chùa Tân
Lâm Gia Định. Năm 18 tuổi bà được theo học lớp ni học đầu tiên tại chùa
Giác Hoa ở Bạc Liêu. Bà thụ giới tỳ kheo năm 1930 tại giới đàn ở núi Điện
Bà do thiền sư Giác Hải chủ đàn. Năm 1931 trở đi bà bắt đầu dịch một số
kinh điển ra quốc ngữ. Trên báo Từ Bi Âm số 27, bà viết lời kêu gọi
nữ giới hợp tác mở mang ni giới. Năm 1933 bà được mời làm thủ lãnh ni
chúng trong ba tháng kiết hạ tại giới đàn thuộc chùa Giác Hoàng ở Bà Điểm
do thiền sư Thái Thượng làm chủ tọa. Năm 1934, bà về trú trì chùa Thiên
Bửu, mở một lớp ni học tại đây và mời thiền sư Khánh Thuyên về cùng giảng
dạy. Sau đó bà trở về chùa Tân Lâm. Nhận lời mời của hội Nam Kỳ Nghiên Cứu
Phật Học, bà đi thuyết kinh giảng đạo tại nhiều nơi miền Lục Tỉnh. Năm
1935 ba khai sơn chùa Từ Hóa ở làng Tân Sơn Nhất tỉnh Gia Định, có sự tham
dự của các ni sư Diệu Tánh, Diệu Tấn và Diệu Thuận. Năm sau, bàđổi hiệu
chùa là Hải Ấn Ni Tự, ni chúng quy tụ về để tu học khá đông. Năm
1937 bà ra nhận chức trú trì chùa Bình Quang ở Phan Thiết, và giao cho các
đệ tử là các ni sư Huyền Tông và Huyền Học ở lại trú trì và hành đạo. Năm
1938, bà ra Bắc nghiên cứu thêm về luật tạng. Trên đường về Nam, bà được
Khôn Nghi Xương hoàng thái hậu mời vào cung để dạy đạo. Bà ở lại trong
cung hai tháng và giảng xong bộ Phạm Võng Lược Sớ cho thái hậu.
Triều đình huế đã ban sắc tứ cho chùa Bình Quang ở Phan Thiết sau đó, Trở
về chùa Hải Ấn, bà lại lên tiếng trên Từ Bi Âm kêu gọi nữ giới đứng
dậy tự lập và xiển dương chánh pháp. Năm 1939, bà tổ chức ni học viện tại
chùa Giác Linh ở Sa Đéc. Ni chúng đông đến gần 100 vị. Bà đã thỉnh thiền
sư Mật Hiển và ni sư Diệu Không cùng bà lo việc giảng dạy. Lúc này bà mới
29 tuổi. Ni học viện này được dời về chùa Vạn An sau đó.
Năm 1940 bà khai
giảng trường ni học ở chùa Linh Phước và mời các thiền sư Chánh Quang và
Giác Tâm về phụ giảng với bà. Vì phải lo lắng cho các trường ni học, vừa
về vật chất vừa về tinh thần, cho nên sức khỏe bà hao mòn rất chóng. Bà
tịch năm 1942 tại chùa Hải Ấn, thọ 33 tuổi.
Ni sư Diệu Tịnh, pháp
danh Hồng Thọ, là người muốn nâng địa vị của giới phụ nữ lên ngang hàng
với nam giới. Những tài liệu trên đây về bà đã được một vị đệ tử là ni sư
Huyền Huệ cung cấp.
Ni sư Hồng Chí tên
đời là Đặng Thị Mười, sinh năm 1913 ở Sa Đéc. Bà xuất gia năm 1928 tại
chùa Từ Ân, Mỹ Tho, dưới sự hướng dẫn của thiền sư Huệ Mạn. Pháp danh bà
là Chí Kiên, pháp tự cả bà là Như Chí. Bà thụ đại giới vào năm 1938. Bà đã
từng theo học tại ni viện Hải Ấn do ni sư Diệu Tịnh giám đốc và tại ni
viện Diệu Đức ở Huế. Năm 1940, bà lập ni viện Tập Thành ở Sa Đéc, thu nhận
40 ni sinh. Năm 1949 bà làm quản lý ni viện Tăng Già ở Khánh Hội Sài Gòn.
Cũng năm đó bà làm hòa thượng cho giới đàn truyền tỳ kheo ni giới tại chùa
Tăng Già. Năm 1950, bà về Sa Đéc mở ni viện Từ Quang và đến năm 1955 bà
chọn 20 vị học ni xuất sắc cho lên nhập học ở ni viện Dược Sư, Gia Định.
Năm 1951 bà làm hòa thượng cho giới đàn chùa Kim Huê và năm 1954 làm làm
hòa thượng truyền giới cho giới đàn ni viện Dược Sư. Năm 1965 bà được mời
làm giám đốc ni học viện Từ Nghiêm. Số ni sinh của viện năm này lên tới 92
vị. Năm 1975, bà kế thừa ni sư Như Thanh làm vụ trưởng Ni Bộ Bắc Tông. Năm
1977 bà làm hòa thượng của giới đàn Kiều Đàm tại ni viện Tử Nghiêm cho 350
giới tử.
Ni sư Hồng Chi có
viết nhiều bài trong các tập san Phật học trong nước như Hoa Sen, Hoằng
Pháp và Hoa Đàm. Bà có làm nhiều thơ. Có những bài thơ bà làm
từ năm 1928 khi mới xuất gia, năm 15 tuổi. Sau đây làm một bài của bà sáng
tác năm 1974:
Thiền khách du sơn tự
tại nhàn
Cõi lòng thanh thoát
đạo thênh thang
Non cao đá dựng từng
từng gộp
Suối bạc lung linh
thông giác ngạn
Tùng xanh phơn phớt
triệt huyền quang
Sắc Không Chơn Vọng
đâu còn nữa
Buông bỏ hai đầu,
chặng giữa tan
Ni sư Diệu Ninh là
một người có khuynh hướng cứu tế xã hội. Bà sinh năm 1914 tại Trà Vinh.
Tên đời là Vương Thị Kiến. Bà xuất gia năm 1930 tại chùa Thành Xuân tỉnh
Châu Đốc dưới sự hướng dẫn của thiền sư Như Nhiêu. Bà đã được học Phật với
các thiền sư Từ Phong, Khánh Hòa và Khánh Anh. Bà đã theo học trường Lưỡng
Xuyên do thiền sư Khánh Hòa làm hòa thượng đàn đầu. Năm 1938 bà về học tại
ni viện Vĩnh Bửu ở Bến Tre. Từ năm 1940 trở đi bà được trao cho
nhiệm vụ trù trì ni viện này. Năm 1945 vì tình hình Bến Tre bất an, bà về
an cư tại ni viện Huê Lâm ở Sài Gòn. Năm 1957 khi ni bộ được thành lâp, bà
đảm nhiệm trách vụ phó ni trưởng và đồng thời quản lý ni viện Dược Sư. Năm
1959 bà về ni viện Tử Nghiêm làm quản lý và lo việc kiến thiết ni viện
này. Năm 1966 bà làm Trưởng Ban Cứu Trợ nạn nhân bão lụt và đích thân đem
gạo muối đến tận những miền lụt lội ở Châu Đốc, Long Xuyên và Đồng Tháp để
cứu giúp hàng ngàn gia đình nạn nhân. Năm 1969 bà sang Nhật để tu nghiệp
về Thiền tại tu viện Tổng Trì. Về nước 1971 bà trùng tu chùa Vĩnh Bửu và
chùa Thiền Đức. Năm 1972 bà mở Ký Nhi Viện Huệ Quang, tổ chức cứu lụt ở
Quảng Nam. Năm 1974 bà nhận chức giám viện ni viện Dược Sư.
Hội Phật Học Nam
Việt được thành lập vào năm 1950 tại Sài Gòn do sự vận động của cư sĩ
Mai Thọ Truyền. Ban đầu, hội đặt trụ sở tại chùa Khánh Hưng, và sau đó ít
lâu, tại chùa Phước Hòa. Bác sĩ Nguyễn Văn Khỏe, một cây cột trụ của hội
Lưỡng Xuyên Phật Học cũ đảm nhận trách vụ hội trưởng. Ông Mai Thọ Truyền
giữ trách vụ tổng thư ký. Các thiền sư Quảng Minh và Nhật Liên đã triệt để
ủng hộ cho việc tổ chức hội Phật Học Nam Việt. Thiền sư Quảng Minh được
bầu làm hội trưởng của hội bắt đầu từ năm 1952. Năm 1955, sau khi thiền sư
Quảng Minh đi Nhật du học, ông Mai Thọ Truyền giữ chức vụ hội trưởng. Chức
vụ này ông giữ cho đến năm 1973, khi ông mất. Hội Phật Học Nam Việt được
thành lập do nghị định của Thủ Hiến Nam Việt ký ngày 19.9.1950. Bản tuyên
cáo của hội có nói đến nguyện vọng thống nhất các đoàn thể Phật giáo trong
nước. Bản tuyên cáo viết: “Đề xướng việc lập hội Phật học này. Chúng tôi
còn có cái thâm ý đi đến chỗ Bắc Trung Nam sẽ bắt tay trên nguyên tắc cũng
như trong hành động. Sự thống nhất này đã trở nên cần thiết kể từ ngày
mồng 8 tháng Sáu dương lịch năm nay, là ngày Việt Nam được chính thức làm
hội viên hội Phật giáo quốc tế…”
Chùa Xá Lợi trụ sở
thứ ba và vĩnh viễn của hội Phật Học Nam Việt được khởi công xây dựng năm
1956 tại số 89 đường Bà Huyện Thanh Quang, Sài Gòn, và được hoàn thành hai
năm sau đó. Chùa được kiến trúc một cách mới mẻ, có tháp chuông, chính
điện, giảng đường, thư viện và tăng xá. Năm 1963, chùa Xá Lợi biến thành
căn cứ trung ương cho cuộc tranh đấu của Phật giáo đồ chống lại chính
quyền Ngô Đình Diệm, và trở thành một ngôi chùa lịch sử.
Chánh trí Mai Thọ
Truyền là một trong những khuôn mặt Phật tử cư sĩ lớn của thời đại. Ông
sinh năm 1905 tại làng Long Mỹ tỉnh Bến Tre, và đã học tại các trường
trung học Mỹ Tho và Chasseloup Laubat ở Sài Gòn. Ông thi đậu tri huyện năm
1931 và đã tùng sự tại Sài Gòn, Trà vinh, Long Xuyên và Sa Đéc. Năm 1945,
sau Cách Mạng Tháng Tám, ông đã làm chủ tịch Ủy Ban Quận Bộ Châu Thành
Long Xuyên rồi trưởng phòng hành chính Ủy Ban Hành Chính Tỉnh Bộ Long
Xuyên.
Ông về Sài Gòn năm
1947 và lần lượt giữ những chức vụ sau đây: chánh văn phòng phủ Thủ Tướng
của chính phủ Nguyễn Văn Xuân (Hà Nội), chánh văn phòng bộ kinh tế, giám
đốc hành chính sự vụ bộ Ngoại Giao, đổng lý văn phòng bộ Nội Vụ của chính
phủ Nguyễn Nam Long, đổng lý văn phòng Phủ Thủ Hiến Nam Việt và phó đổng
lý văn phòng Phủ Thủ Tướng của chính phủ Bửu Lộc. Năm 1955 ông đổi sang
ngạch thanh tra hành chính và tài chính và đến năm 1960 về hưu thời chính
phủ Ngô Đình Diệm. Sau cách mạng 1963, ông tham dự Hội Đồng Nhân Sĩ trong
chính phủ Dương Văn Minh, và đến năm 1967 ông ứng cử phó tổng thống chung
liên danh với ông Trần Văn Hương, năm 1968, ông giữ chức quốc vụ khanh
kiêm viện trưởng Giám Sát Viện trong chính phủ Trần Văn Hương, rồi đổi
sang chức vụ Quốc Vụ Khanh đặc trách văn hóa cho đến năm ông mất (1973).
Cũng như cư sĩ Lê
Đình Thám, ông ăn chay trường từ ngày thọ tam quy ngũ giới và làm phật sự
không biết mệt mỏi. Hội Phật Học Nam Việt đã thành lập được tới 40 tỉnh
hội và chi hội khắp miền Nam. Tạp chí Từ Quang của hội mà ông trực
tiếp trong nom từ 1951 đã ra được 242 số cho đến ngày ông mất. Những trước
tác của ông gồm có:
Tâm Và Tánh
(1950)
Ý Nghĩa Niết Bàn
(1962)
Một Đời Sống Vị
Tha (1962)
Tâm Kinh Việt Giải
(1962)
Le Bouddhisme Au
Viet Nam
(1962)
Pháp Hoa Huyền
Nghĩa
(1964)
Địa Tạng Mật Nghĩa
(1965)
Tác phẩm đầu (Tâm
và Tánh) đã được nhà Đuốc Tuệ ở Hà Nội xuất bản; những tác phẩm còn
lại đều được Hội Phật Học Nam Việt ấn hành. Ngoài trách vụ hội trưởng hội
Phật Học Nam Việt, ông Mai Thọ Truyền đã từng giữ trách vụ tổng thư ký của
Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo Việt Nam từ 1959 đến năm 1962. Năm 1963
ông giữ trách vụ tổng thư ký của Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo chống
lại chính quyền Ngô Đình Diệm. Trách vụ này đã được ông thi hành một cách
xuất sắc. Năm 1964 ông được bầu làm phó viện trưởng Viện Hóa Đạo của Giáo
Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, nhưng vì bất đồng ý kiến về hệ thống tổ
chức của Giáo Hội, chỉ sau đó một tháng, ông rút lui về cương vị Hội
trưởng hội Phật Học Nam Việt.
Trong bản tuyên cáo
thành lập hội Phật Học Nam Việt có chủ ý muốn thành lập một Phật học đường
lớn để đào tạo tăng tài, nhưng công việc này chưa bao giời được hội thực
hiện, có thể đây là vì bên cạnh hội Phật Học Nam Việt đã có Giáo Hội Tăng
Già Nam Việt.
Nhưng tạp chí Từ
Quang đã là một đóng góp không nhỏ cho công việc phổ biến Phật học ở
Sài Gòn và các tỉnh. Tạp chí này đã được chư tăng ở Phật học đường Nam
Việt nâng đỡ và đóng góp khá nhiều về phương diện biên tập, nhất là trong
những năm đầu.
Cách thức làm việc
của cơ sở Chánh Trí có nhiều điểm tương tự với cách thức làm việc của cư
sĩ Tâm Minh. Nếu lễ Phật Đản năm 1935 tổ chức ở Huế đã bắt dư luận toàn
quốc nói đến phong trào phục hưng Phật học thì cuộc diễn hành rước Xá Lợi
Phật tại Sài Gòn năm 1952 cũng đã khiến cho quốc dân chú ý đến sự có mặt
của hội Phật Học Nam Việt và tới phong trào Phật giáo. Cuộc diễn hành rước
Xá Lợi này được tổ chức vào ngày 13.9.1952, khi phái đoàn Phật giáo Tích
Lan trên đường đi dự Đại Hội Phật Giáo Thế Giới kỳ II tại Tokyo, ghé tại
Sài Gòn và có thỉnh theo một Xá Lợi của Phật và do đó cuộc diễn hành đã
trở thành một cuộc tập hợp lớn lao chưa từng có của Phật tử tại Sài Gòn
cho tới ngày hôm ấy. Xá Lợi Phật đã được rước từ hải cảng Sài Gòn, đi qua
nhiều đại lộ, về tới Trường Đại Học Bình Dân (Université Populaire) và tôn
trí nơi một bàn thờ tại đây trong 24 giờ đồng hồ. Hàng vạn người đã chen
chúc tới suốt trong thời gian ấy để được chiêm bái Xá Lợi. Trong cuộc diễn
hành, cờ Phật giáo thế giới đã được trương ra, và đây là lần đầu tiên quần
chúng thấy được lá cờ năm sắc ấy. Cũng là lần đầu tiên quần chúng tại Sài
Gòn được thấy những đoàn thể thanh thiếu niên của Gia Đình Phật Tử trong
sắc phục và cờ hiệu của họ. Hai bên đường có những Phật tử quỳ xuống khi
thấy Xá Lợi Phật cũng như là thấy Phật. Báo chí toàn quốc nói tới cuộc
diễu hành này, và Phật tử các nơi cho rằng dân chúng Sài Gòn đã có duyên
phước lớn lắm mới được trực tiếp chiêm bái Xá Lợi.
Mai Thọ Truyền đã
viết về cuộc diễn hành rước Xá Lợi như sau: “Cuộc biểu diễn êm ái ấy về
sau đã gây được nhiều ảnh hưởng hay. Từ Bắc chí Nam, phong trào chấn hưng
được mọi nơi tiếp đón nồng hậu, khiến cho phạm vi hoạt động càng ngày càng
bành trướng, lấn áp một phần nào uy thế của những chi phái tạp nhạp”.
“Những chi phái tạp
nhạp” đây có lẽ là những tổ chức Phật giáo nhỏ đang cạnh tranh với hội
Phật Học Nam Việt.
Cộng tác với Giáo Hội
Tăng Già Nam Việt, hội Phật Học Nam Việt cũng đã tổ chức những cuộc diễn
hành lớn vào những ngày lễ Phật Đản tại thủ đô Sài Gòn, sau khi chính phủ
Ngô Đình Diệm ra lệnh loại ngày Phật Đản ra khỏi những ngày lễ chính thức
của quốc gia. Cùng với những cuộc diễn hành này muốn gián tiếp nói lên cho
chính phủ Ngô Đình Diệm thấy phần phản kháng của Phật tử Việt Nam đối với
chính sách kỳ thị tôn giáo của chính phủ. Với tư cách quốc vụ khanh đặc
trách văn hóa, cư sĩ Chánh Trí từ năm 1968 trở đi đã hoàn thành được thư
viện quốc gia tân lập, xúc tiến việc thiết lập Văn Khố Gia và Nhà Văn Hóa.
Ông cũng đã đẩy mạnh công tác của Ủy Ban Điền Chế Văn Tự, lập một Ủy Ban
Dịch Thuật mới mà ông đứng làm chủ tịch, thành lập chi nhánh Bảo Tồn Cổ
Tích Huế.
Lấy con mắt văn hóa
nhìn vấn đề tam giáo hòa hợp. Chánh Trí viết:
“Đứng về mặt thực
hành, phải nhìn nhận rằng chủ trương tam giáo quy nhất rất hợp lý, vì bề
ngoài là hòa hợp mà bề trong có chia, và đây chỉ là chia phạm vi hoạt động
và ảnh hưởng thế nào cho cân xứng với tính cách của mỗi đạo. Đại khái, Nho
giáo thì lo về nhân sự, tu về thế nào để đi đến chỗ trị bình, còn Phật
giáo và Đạo giáo thì lo giải quyết những vấn đề cao siêu hơn”.
“Đứng về mặt thuần
túy mà xét, sự xáo trộn ba đạo như vừa nói thật không phải là một việc
đáng thương, nhưng nếu đứng về kết quả mà luận thì thấy rằng nhờ có sự xáo
trộn đó mà lòng người dường như bớt xao xuyến lo âu, tính tình phong tục
mới được tốt đẹp, chưa kể cái việc giúp cho quảng đại quần chúng thâm
nhiễm được đôi phần những giáo lý phổ thông mà mỗi đạo cần phải truyền bá
vì sự lợi ích riêng của chính mình.”.
Cư sĩ Chánh Trí có
một cái nhìn trung dung về hai khuynh hướng tự lực và tha lực trong Phật
giáo, ông cho rằng sự nhiếp thọ và cứu độ của chư Phật và chư Bồ Tát là có
thực, nhưng con người phải có nỗ lực thì sự nhiếp thọ và cứu độ mới trở
thành hiện thực, như tuyết có sạch, trăng có in. Ông viết: “Chư Phật và
Bồ Tát vì lòng đại từ đại bi luôn luôn sẵn sàng hộ trì cứu độ, nhưng các
ngài chỉ cứu độ, hộ trì những ai thật sự muốn được nâng đỡ để giải thoát
mà thôi. Biển khổ chơi vơi, người đang chìm nổi ít ra cũng phải cố với nắm
lấy bàn tay tế độ thì họa may vấn đề cứu vớt mới thành. Ngục tù khốn khổ,
các cửa dù có mở tung mà phạm nhân không chịu đi ra thì cũng không biết
làm thế nào! Nói một cách khác, có sự mong muốn và cố gắng của người tự
biết lâm nguy, người muốn cứu mới làm nên việc. Huống chi sự cứu độ hộ trì
ở đây thuộc về tâm linh, thì sự cảm thông trên phương diện tâm linh là
điều cần yếu. Tuyết có sạch, trăng mới in; tâm ta có trong, tâm Phật mới
rọi vào được. Nêu tâm ta như đống tuyết bị bụi đất phủ dày thì đừng mong
mặt trăng Phật in lên và làm cho khối tuyết ánh sáng. Thế thì tự lực vốn
tối khẩn yếu, tối cần thiết”.
Ông lại viết: “Tuy
pháp môn niệm Phật cầu vãng sanh được trình bày như con đường “dễ đi” nhờ
có sức cứu độ của Phật, thật ra không phải dễ hoàn toàn đâu và muốn đi đến
đích cũng chẳng phải hoàn toàn ỷ lại vào tha lực mà được đâu. Dễ là đối
với con đường của Thiền Tông là con đường mà hành giả phải tự cường tự
lực,nhưng niệm Phật cho đến nhất tâm bất loạn, cho đến được “tam muội” hay
chánh định, hành giả cũng phải nỗ lực rất nhiều, phải phấn đấu với chướng
ngại ráo riết. Cái tha lực nhiếp thọ của Phật hình như chỉ được đưa ra với
dụng tâm khuyến khích hành giả, để hành giả vững tâm mà trỗi bước”
Chánh Trí cho rằng sự
vãng sinh về Cực Lạc của Phật giáo hoàn toàn không giống với sự sanh lên
Thiên Đường của Cơ Đốc giáo. Mục đích về Cực Lạc là để gần Phật mà tu hành
cho tới bậc “bất thối chuyển” chứ không phải để hưởng những sự sung sướng
của một cõi Thiên Đường. Bản chất và mục đích của niệm Phật là sự tịnh
tâm, và một khi tâm đã định và tịnh thì trí tuệ và hào quang phát sinh.
Ông viết:
“Trong kinh
Tịnh Độ có
nói: lúc lâm chung mà ai chuyên tâm niệm Phật nhất tâm bất loạn thì Phật A
Di Đà và Quan Âm Thế Chí đến rước về Cực lạc. Có người nghĩ rằng đây là
một lối nói tượng trưng. Lúc lâm chung mà giữ tâm định được vào niệm Phật
thì tâm người ấy đã “tịnh hóa” hoàn toàn rồi, bức màn vô minh đã bị xé
tan, do đó nguồn ánh sáng bên trong tự tánh Di Đà phát huy hực hỡ. Nguồn
ánh sáng ấy là nguồn ánh sáng vô biên của vũ trụ tiêu biểu bởi Phật A Di
Đà đồng một thể tánh, cho nên khi người mạng chung thấy ánh sáng ngập trời
trước mắt mình, ngỡ là Phật A Di Đà của từ phương Tây đến tiếp độ, không
dè đó là Phật A Di Đà của tự tánh mình hiển hiện ra”.
Đó là quan niệm “Di
Đà tự tính, tịnh độ duy tâm”. Có lẽ cư sĩ Chánh Trí còn e ngại chút ít khi
nói lên những nhận xét trên cho nên ông mới thêm bốn chữ “có người nghĩ
rằng”. Rất có thể cái người nghĩ rằng ấy là chính ông vậy. Cư sĩ Chánh Trí
là một người thông minh và có tài suy luận diễn dịch. Các tác phẩm Địa
Tạng Mật Nghĩa và Pháp Hoa Huyền Nghĩa của ông, nhờ tài suy
luận diễn dịch này, đã chứa được nhiều điều nhận xét khá đặc thù có thể
gây nhiều hứng thú cho người đọc. Ông lại là một người giỏi về hành chính
và có địa vị trong xã hội, cho nên chỉ trong một khoảng thời gian ngắn ông
đã đặt được cư sĩ cho hội Phật Học Nam Việt khắp các tỉnh miền Nam. Ông đã
làm hội trưởng hội Phật Học Nam Việt suốt từ năm 1955 đến năm 1973. Điều
đáng tiếc là ông đã không đem được tài tổ chức hành chính của ông mà xây
dựng cho Giáo Hội này được thành lập vào năm 1964. Cố nhiên một giáo hội
mới được thành lập như Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất phải có
những khuyết điểm về mặt tổ chức và ông có quyền chỉ trích những khuyết
điểm đó. Tuy nhiên, ông chỉ có thể xây dựng được cho Giáo Hội bằng cách
đứng bên cạnh những người tăng sĩ và cư sĩ đã từng là đồng chí của ông
trong suốt mười ba năm trời làm Phật sự, nghĩa là đứng hẳn vào trong Giáo
Hội. Đằng này ông đã để hội Phật Học Nam Việt đứng riêng ra, và do đó ông
đã không có cơ hội nào để trực tiếp xây dựng cho Giáo Hội cả. Từ năm 1964
trở đi, hội Phật Học Nam Việt trở thành một tập đoàn lẻ loi, không có tăng
già lãnh đạo, cho tới khi ông mất.
Tuy vậy, cư sĩ Chánh
Trí khi mất đi đã để lại thương tiếc cho rất nhiều Phật tử, tăng sĩ cũng
như cư sĩ. Nữ sĩ Mộng Tuyết, ngày xưa từng là học trò của ông, đã đi câu
đối:
Đêm đẹp, trăng cười viên mãn
Đất lành, hoa nở từ bi.
và ghi ở dưới: “Sương
phụ Đông Hồ, Mộng Tuyết, học trò cũ của thầy nơi Hà Tiên, luôn luôn ghi
nhớ ơn thầy”.
Thi sĩ Vũ Hoàng
Chương đã viết những dòng cảm niệm như sau:
Trong thập niên đầu thế kỷ
hoa mai đã nở một lần
để rụng màu thanh vẻ quý
giờ đây giữa buổi phong trần
Nhưng cũng giờ đây lại nở
bên trời Cực Lạc Tây Phật
năm cánh mai vàng rực rỡ
ba Xuân khi nguyệt tròn
gương(119)
Hoa nở hai lần… rũ sạch
bụi hồng trên giả thân xưa
cõi Phật dâng tròn cốt cách
bận chi mùa nắng mùa mưa
Chỉ xót cành Nam cành Bắc
cùng chung một nỗi u hoài
ai đó trước song mài mực
gió lay còn tưởng bóng ai
Người ấy, hỡi ơi, vừa khuất
đã hay tuổi thọ danh truyền
dễ mấy kiếp tu mà được
Sao lòng ai vẫn sầu lên
Nghe về mấy ngã sơn xuyên
rồi đây Xuân quạnh tiếng
quyên não nùng
Trong các cầu đối
điếu có đôi câu đối sau đây của cư sĩ Lý Học:
“Cụ trượng phu tướng, cụ
phúc đức tướng, cụ từ bi tướng, tướng tướng viên mãn;
Hiện cư sĩ thân, hiện tể
quan thân, hiện trưởng giả thân, thân thân trang nghiêm.”
dịch:
“Đủ tướng trượng phu, đủ
tướng phúc đức, đủ tướng từ bi, tướng nào cũng viên mãn,
Hiện thân cư sĩ, hiện thân
tể quan, hiên thân trưởng giả, thân nào cũng trang nghiêm.”
---o0o---
[ Mục
Lục tập III]
[Chương XXVI ] [Chương XXVII ] [Chương XXVIII ]
[Chương XXIX ] [Chương XXX ] [Chương XXXI ]
[Chương XXXII ] [Chương XXXIII ] [Chương XXXIV ]
[Chương XXXV ] [Chương XXXVI ] [Chương XXXVII ]
[Chương XXXVIII ] [Chương XXXIX ] [Chương
XXXX ]
---o0o---
[ Mục Lục ][ Tập I ]
[
Tập II ] [ Tập III ]
---o0o---
Trình bày: Nhị Tường
Vi Tính:
Nguyên Trang
Cập
nhật: 01-11-2004